Thứ bảy 19/09/2026 17:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đảm bảo hiệu lực hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp - Một số kiến nghị từ thực tiễn

Hiện nay, Quốc hội đang giao các cơ quan chức năng tiến hành lập Hồ sơ đề nghị xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Trong đó, một trong các mục đích của việc sửa đổi, bổ sung lần này là đảm bảo tính hiệu lực trong việc thực hiện các kết luận sau giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp.

Qua thực tiễn quá trình công tác, tác giả nhận thấy để đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp, cần phải có nhiều sửa đổi trong quy định pháp luật cũng như sự thay đổi từ chính hoạt động của các đại biểu Hội đồng nhân dân, nhất là các đại biểu chuyên trách.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân thì “giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý”. Như vậy, theo quy định của Luật này thì kết quả của hoạt động giám sát cần chú trọng vào việc xem xét, đánh giá việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát. Luật cũng quy định về các chủ thể giám sát. Theo đó, giám sát của Hội đồng nhân dân bao gồm giám sát của Hội đồng nhân dân tại kỳ họp, giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân dân. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung vào việc giám sát của Hội đồng nhân dân thông qua tổ chức các hoạt động giám sát chuyên đề, vì đây là hoạt động thể hiện rõ nét nhất chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp.

Qua công tác tổng kết thực tiễn 08 năm triển khai thực hiện Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân cho thấy, bên cạnh những thành quả đạt được, trên thực tế vẫn có tình trạng Hội đồng nhân dân các cấp còn “lúng túng” trong việc đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả của các kiến nghị sau giám sát. Vẫn còn trường hợp đối tượng chịu sự giám sát chưa thực hiện các kiến nghị sau giám sát. Nguyên nhân là do quy định pháp luật chưa quy định trực tiếp hệ quả pháp lý khi đối tượng chịu sự giám sát không thực hiện các kiến nghị sau giám sát mà việc này sẽ được chuyển cho các cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, từ góc độ thực tiễn cho thấy thực trạng này cũng xuất phát từ chính chất lượng của hoạt động giám sát do Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện. Do đó, theo tác giả cần thực hiện một số vấn đề có liên quan đến việc tổ chức giám sát chuyên đề có thể trực tiếp nâng chất lượng của hoạt động giám sát, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về lựa chọn nội dung giám sát.

Lựa chọn nội dung giám sát đóng vai trò rất quan trọng để đảm bảo tính hiệu lực của giám sát. Vì sao lại nói như vậy? Trên thực tế, nếu lựa chọn nội dung giám sát mà bản thân đoàn giám sát không có đủ năng lực, điều kiện để giám sát chi tiết thì cuối cùng các kết luận được ban hành đều chỉ mang tính chung chung, khái quát, không thể đề ra các giải pháp, các kiến nghị với đầy đủ chủ thể phải thực hiện trong thời hạn cụ thể, từ đó việc giám sát thực chất không đảm bảo chất lượng.

Để lựa chọn nội dung giám sát phù hợp, ngoài các yếu tố đã được quy định tại Điều 15 Nghị quyết số 594/NQ-UBTVQH15 ngày 12/9/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì đoàn giám sát còn cần phải cân nhắc những yếu tố khác đó là:

(i) Nếu lựa chọn nội dung giám sát đó, đoàn giám sát có điều kiện tiếp cận được những tài liệu gì? Việc này cần đảm bảo không chỉ tuân theo Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân mà còn cần theo các luật khác, nhất là những quy định liên quan đến các hoạt động tố tụng, bảo vệ bí mật nhà nước...

Ví dụ: Đoàn giám sát có thể chọn nội dung giám sát liên quan đến việc giải quyết tin báo tố giác tội phạm. Tuy nhiên, phải xác định việc trực tiếp xem, kiểm tra, đánh giá đối với hồ sơ giải quyết tin báo tố giác tội phạm cụ thể khi cơ quan chức năng chưa có kết luận chính thức là không được phép vì sẽ can thiệp vào hoạt động của cơ quan tố tụng.

(ii) Nếu lựa chọn nội dung giám sát đó, đại biểu nào trong đoàn sẽ là người chủ lực trong nghiên cứu hồ sơ, liên hệ thực tiễn. Nếu như không đảm bảo có thành viên trong đoàn giám sát nắm vấn đề thì cần cân nhắc chưa lựa chọn nội dung giám sát này hoặc nếu phải tổ chức giám sát ngay theo yêu cầu thực tiễn thì phải cân nhắc mời được các chuyên gia, nhà khoa học, người có chuyên môn tham gia cùng đoàn.

Ví dụ: Cử tri bức xúc đối với một nội dung liên quan đến xem xét báo cáo đánh giá tác động môi trường của một dự án thì cần đảm bảo mời được những chuyên gia về môi trường tham gia cùng đoàn giám sát trước khi tổ chức giám sát.

(iii) Trên cơ sở nghiên cứu sơ bộ về nội dung dự kiến lựa chọn giám sát, có thể dự đoán được các giải pháp, kiến nghị sẽ thuộc thẩm quyền của trung ương hay của địa phương? Nếu có vấn đề thuộc thẩm quyền trung ương thì sẽ chiếm khoảng bao nhiêu % trong số các kiến nghị. Nếu vấn đề dự kiến được lựa chọn làm nội dung giám sát chủ yếu thuộc thẩm quyền của trung ương thì nên cân nhắc vì các kiến nghị sau giám sát có thể cần một thời gian nhất định mới có thể sớm thay đổi hoặc có thể không thay đổi được.

Ví dụ: Cử tri kiến nghị Hội đồng nhân dân giám sát quy định về việc nhà xây không phép trên đất nông nghiệp phải đập bỏ, tức là phải trả lại hiện trạng ban đầu thì mới được chuyển mục đích sử dụng đất, cử tri cho rằng như vậy sẽ lãng phí tài sản của người dân, có những trường hợp cụ thể người dân rất khó khăn cần được xem xét cho đóng phạt. Tuy nhiên, đây là vấn đề được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực đất đai, xây dựng, nhằm tránh tình trạng “hợp pháp hóa” các sai phạm về xây dựng. Các văn bản này đều thuộc thẩm quyền của các cơ quan trung ương (Quốc hội, Chính phủ, các bộ). Do đó, nếu sau giám sát mà có kiến nghị về mặt thể chế (kiến nghị một số trường hợp các hộ dân khó khăn được giữ lại nhà…) thì sẽ rất khó có thể thực hiện được.

(iv) Thời gian tốt nhất để tổ chức giám sát là khi nào? Kéo dài bao lâu? Kinh phí giám sát có đủ mời chuyên gia tham gia đoàn hay không…

Mặc dù đây là những vấn đề không được đưa vào Luật nhưng đoàn giám sát cần phải xem xét và cân nhắc. Khi một nội dung đáp ứng được các yêu cầu như trên thì khả năng sau khi giám sát đoàn có thể đưa ra được những kiến nghị cụ thể, thuộc thẩm quyền của địa phương và có thể sớm điều chỉnh để khắc phục ngay những bất cập.

Thứ hai, về lựa chọn thành viên đoàn giám sát.

Trong số các đại biểu là thành viên của các Ban, các tổ đại biểu thì sẽ có những đại biểu có chuyên môn và thực tiễn phù hợp với lĩnh vực đoàn giám sát dự kiến giám sát. Do đó, việc bố trí các thành viên có kiến thức, kỹ năng giám sát, chuyên môn giám sát và thời gian để đi cùng đoàn là rất quan trọng. Bởi lẽ nếu đoàn giám sát không có các thành viên đủ kiến thức, kinh nghiệm thì việc đặt các vấn đề khi giám sát trực tiếp sẽ khó khăn. Bên cạnh đó, cần lựa chọn những đại biểu thực sự quan tâm đến nội dung giám sát, vì họ sẽ có nhiều dữ liệu từ thực tiễn hoạt động, từ quá trình tiếp xúc cử tri để đóng góp cho đoàn giám sát.

Ngoài ra, đoàn giám sát còn có thể mời các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà chuyên môn, người làm quản lý và đại diện các đoàn thể, các tổ chức xã hội tham gia cùng đoàn giám sát. Mặc dù họ không là đại biểu nhưng trưởng đoàn có thể cân nhắc, lựa chọn những người có uy tín, người có chuyên môn, hoặc cán bộ lãnh đạo đã về hưu… tham gia cùng đoàn. Họ có thể có nhiều ý kiến thực tiễn và sâu sắc để các thành viên đoàn xem xét.

Thứ ba, đưa ra kiến nghị giám sát.

Kiến nghị sau giám sát phải được phân tách rõ thành 02 mảng: Các kiến nghị về thể chế và các kiến nghị trong tổ chức thực hiện. Theo quan điểm của tác giả, đối với hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp, thì các kiến nghị về thể chế đóng vai trò hết sức quan trọng, thể hiện chiều sâu của hoạt động giám sát, thể hiện vai trò của Hội đồng nhân dân các cấp, nhất là Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, chủ thể ban hành các chính sách có tính chất đặc thù của địa phương.

Đối với kiến nghị về thể chế, cần xác định rõ thẩm quyền của từng kiến nghị. Riêng đối với các kiến nghị về thể chế thuộc thẩm quyền của địa phương, đoàn giám sát cần mạnh dạn xác định rõ trách nhiệm và thời điểm cần ban hành hoặc là sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp lý tại địa phương mình (như nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh, quy chế phối hợp của các ngành). Nếu đưa ra được kiến nghị này, sẽ góp phần tăng tính hiệu lực của đoàn giám sát. Đồng thời, cũng dễ cho Hội đồng nhân dân các cấp giám sát việc thực hiện các kiến nghị sau giám sát.

Mặc dù vậy, qua thực tế theo dõi các kết luận sau giám sát của Hội đồng nhân dân các tỉnh, tác giả nhận thấy việc đưa vào kiến nghị về thể chế còn chưa nhiều. Điều này có thể xuất phát từ vấn đề lựa chọn nội dung giám sát chưa sát, dẫn đến không xác định được điểm nghẽn thực sự về pháp lý thuộc thẩm quyền địa phương để có kiến nghị cụ thể.

Đa số các đoàn giám sát đều có nhiều kiến nghị trong tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, nếu kiến nghị không cụ thể thì những đề xuất thường được thể hiện dưới các cụm từ như “tăng cường” “tiếp tục quan tâm” “tập trung”… sẽ giống như phương hướng của đơn vị chịu sự giám sát. Những kiến nghị như vậy sẽ không cụ thể, giảm tính hiệu lực của hoạt động giám sát. Do đó, đoàn giám sát cần đưa ra đối tượng cụ thể cần thực hiện các kiến nghị này và cố gắng lượng hóa các kiến nghị như: Đảm bảo tỷ lệ bao nhiêu %, đảm bảo đạt chỉ tiêu của trung ương, của tỉnh, của ngành…

Ngoài ra, tác giả cho rằng các báo cáo, kết luận của đoàn giám sát ngoài việc gửi đến đối tượng chịu sự giám sát thì còn cần được gửi đến cấp ủy lãnh đạo trực tiếp đối tượng chịu sự giám sát. Từ đó, cấp ủy vừa nắm được kết quả hoạt động của Hội đồng nhân dân, vừa nắm được thực tiễn việc thực hiện pháp luật tại địa phương cũng như sớm có các chỉ đạo toàn diện để thực hiện các kiến nghị sau giám sát.

Như vậy, với các quyền được pháp luật quy định, đoàn giám sát trên cơ sở tổ chức hiệu quả hoạt động giám sát chuyên đề có thể đưa ra các kiến nghị cụ thể và xác đáng. Hội đồng nhân dân cũng dễ dàng trong việc giám sát việc thực hiện các kiến nghị để báo cáo với Hội đồng nhân dân và Thường trực Hội đồng nhân dân khi cần thiết. Cũng chính từ đây, cơ quan chịu sự giám sát sẽ “tâm phục khẩu phục” trong việc thực hiện các kết luận sau giám sát. Tác giả cho rằng, lúc bấy giờ hoạt động giám sát chuyên đề của Hội đồng nhân dân sẽ có tính hiệu lực, hiệu quả mạnh mẽ trên thực tế.

Nguyễn Thị Thanh Mai

Trưởng Ban Pháp chế, Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Dương

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: