Thứ tư 22/04/2026 00:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đề xuất điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh phù hợp với biến động giá cả, gia tăng mức sống

Điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh trong thuế thu nhập cá nhân là vấn đề lớn được xã hội hết sức quan tâm, “mong đợi”. Mức giảm trừ gia cảnh hiện hành được áp dụng từ năm 2020 đến nay cần phải được rà soát, đánh giá để sửa đổi, bổ sung để phù hợp với biến động giá cả, gia tăng mức sống như hiện nay. Đây là đề xuất của Bộ Tài chính tại Tờ trình đề nghị xây dựng dự án Luật Thuế thu nhập cá nhân (thay thế).

Mức giảm trừ gia cảnh theo quy định pháp luật hiện hành

Theo quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân hiện hành, cá nhân được trừ các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, trừ đi mức giảm trừ gia cảnh, các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, các khoản phụ cấp, trợ cấp theo quy định… Số còn lại mới là thu nhập làm căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân.

Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 (áp dụng từ ngày 01/01/2009) quy định mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 04 triệu đồng/tháng (48 triệu đồng/năm); mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 1,6 triệu đồng/tháng.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2012 (áp dụng từ ngày 01/7/2013) quy định mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 09 triệu đồng/tháng (108 triệu đồng/năm); mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 3,6 triệu đồng/tháng. Đồng thời, bổ sung quy định, trường hợp chỉ số giá tiêu dùng (CPI) biến động trên 20% so với thời điểm Luật có hiệu lực thi hành hoặc thời điểm điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh gần nhất thì Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh quy định tại khoản này phù hợp với biến động của giá cả để áp dụng cho kỳ tính thuế tiếp theo.

Ngày 02/6/2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 954/2020/UBTVQH14 về điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh của thuế thu nhập cá nhân (áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2020). Theo đó, nâng mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 11 triệu đồng/tháng (132 triệu đồng/năm); mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 4,4 triệu đồng/tháng. Việc điều chỉnh nâng mức giảm trừ gia cảnh của thuế thu nhập cá nhân đã góp phần giảm bớt nghĩa vụ cho người nộp thuế, số thuế phải nộp được giảm cho mọi đối tượng đang nộp thuế thu nhập cá nhân. Với mức giảm trừ gia cảnh này thì người có thu nhập từ tiền lương, tiền công ở mức 17 triệu đồng/tháng nếu có 01 người phụ thuộc hay mức 22 triệu đồng/tháng nếu có 02 người phụ thuộc, sau khi trừ các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp... cũng chưa phải nộp thuế thu nhập cá nhân.

Cần điều chỉnh phù hợp mức giảm trừ gia cảnh; cân nhắc phương án giao Chính phủ quy định mức giảm trừ

Bộ Tài chính cho biết, theo Báo cáo khảo sát mức sống dân cư năm 2023 của Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) công bố, thu nhập bình quân đầu người/tháng của Việt Nam trong năm 2023 (theo giá hiện hành) là 4,96 triệu đồng và nhóm hộ có thu nhập cao nhất (gồm 20% dân số giàu nhất - nhóm 5) có thu nhập bình quân là 10,86 triệu đồng/tháng/người. Theo đó, mức giảm trừ cho người nộp thuế hiện nay (11 triệu đồng/tháng) là bằng hơn 2,21 lần so với mức thu nhập bình quân đầu người (cao hơn nhiều so với mức phổ biến mà các nước đang áp dụng), tương đương thu nhập bình quân của nhóm 20% dân số giàu nhất.

Việc thực hiện chính sách thuế thu nhập cá nhân có vai trò rất quan trọng để triển khai chính sách phân phối lại, bảo đảm công bằng xã hội. Cùng với các nguồn thu khác, nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân đã được sử dụng để đáp ứng rất nhiều các nhu cầu chi cho đầu tư phát triển, an ninh quốc phòng, bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo. Việc áp dụng thuế thu nhập cá nhân cần bảo đảm phù hợp với hoàn cảnh sống của người nộp thuế đặt trong bối cảnh kinh tế - xã hội.

Cơ quan chủ trì soạn thảo cũng thông tin thêm, thời gian qua, có một số ý kiến đưa ra quan điểm về mức giảm trừ gia cảnh hiện hành. Theo đó, có ý kiến cho rằng, mức giảm trừ gia cảnh hiện nay vẫn còn thấp, nhưng cũng có ý kiến cho rằng, mức giảm trừ này không thấp khi so sánh với mặt bằng chung về mức sống, thu nhập của người dân, có nhiều người lao động đang có thu nhập chưa đến mức phải nộp thuế. Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng, cần quy định mức giảm trừ gia cảnh theo mức lương tối thiểu vùng, mức giảm trừ gia cảnh ở các đô thị, thành phố lớn cần phải cao hơn ở khu vực nông thôn, miền núi do chi phí đắt đỏ hơn; trong khi đó, theo ý kiến khác, phải có chính sách thuế điều tiết cao hơn đối với cá nhân ở các đô thị, thành phố lớn để hạn chế nhập cư, di dân vào các đô thị lớn...

Về bản chất, quy định về giảm trừ trước khi tính thuế bảo đảm nguyên tắc cá nhân cần phải có một mức thu nhập nhất định nhằm đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của cuộc sống như ăn, ở, đi lại, học tập, khám chữa bệnh..., do đó, thu nhập trên ngưỡng này mới phải nộp thuế. Việc áp dụng các khoản giảm trừ còn hướng tới mục tiêu loại trừ các đối tượng có thu nhập thấp ra khỏi diện phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Mức giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế, người phụ thuộc của người nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân là mức cụ thể theo mặt bằng chung của xã hội, không phân biệt người có thu nhập cao hay thấp, với nhu cầu tiêu dùng khác nhau. Cá nhân có khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo thì Luật Thuế thu nhập cá nhân đã có quy định giảm thuế cho các trường hợp này.

Theo Bộ Tài chính, mức giảm trừ gia cảnh hiện hành được áp dụng từ năm 2020 đến nay nên cũng cần thiết phải rà soát, đánh giá lại để đề xuất phương án sửa đổi, bổ sung phù hợp với các điều kiện mới. Mức giảm trừ gia cảnh cụ thể cần được nghiên cứu, tính toán một cách kỹ lưỡng, bảo đảm phù hợp với sự biến động của giá cả, sự gia tăng mức sống dân cư trong giai đoạn vừa qua cũng như dự báo cho thời gian tới đây, nhưng đồng thời không làm giảm vai trò của chính sách thuế thu nhập cá nhân trong hệ thống thuế. Mức giảm trừ “quá cao” sẽ làm “mờ” vai trò của chính sách thuế thu nhập cá nhân trong việc thực hiện các chức năng của sắc thuế này (bảo đảm công bằng xã hội và điều tiết thu nhập) và vô hình trung sẽ đưa chính sách thuế thu nhập cá nhân trở lại “chính sách thuế đối với người có thu nhập cao” như giai đoạn trước đây.

Chính vì vậy, trong đề nghị xây dựng dự án Luật Thuế thu nhập cá nhân (thay thế), Bộ Tài chính đưa nội dung điều chỉnh quy định giảm trừ gia cảnh vào trong chính sách được đề xuất, cụ thể là Chính sách 5 - Hoàn thiện quy định về giảm trừ gia cảnh, giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo và các khoản giảm trừ đặc thù khác. Việc sửa đổi quy định về giảm trừ gia cảnh cho cá nhân người nộp thuế và người phụ thuộc có vai trò rất quan trọng để triển khai chính sách phân phối lại, bảo đảm công bằng xã hội, phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội, tình hình giá cả và lạm phát, bảo đảm điều kiện sống thiết yếu cho cá nhân. Bên cạnh việc điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh, Bộ Tài chính cũng đề xuất, có thể cân nhắc nghiên cứu phương án giao Chính phủ quy định mức giảm trừ gia cảnh để bảo đảm linh hoạt, chủ động điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.

Dự án Luật Thuế thu nhập cá nhân (thay thế) dự kiến được trình Chính phủ trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV (tháng 10/2025) và thông qua tại Kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa XV (tháng 5/2026).

Uyên Nhi

(Ảnh: Internet)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam đang định hình ranh giới giữa minh bạch thông tin và quyền riêng tư với việc ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, cùng dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (dự thảo Luật). Điều này dẫn đến nguy cơ xung đột giữa quyền được biết của công chúng với quyền riêng tư của cá nhân. Bài viết làm rõ về bản chất pháp lý giữa khái niệm “thông tin” và “dữ liệu cá nhân”, đồng thời, đánh giá quy định tại dự thảo Luật, đặc biệt là cơ chế “tiếp cận có điều kiện” đối với thông tin liên quan đến đời tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân và so sánh với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam thông qua giới hạn ngoại lệ, xây dựng quy trình đánh giá lợi ích công và biện pháp hài hòa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 trong kỷ nguyên số.
Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Chế định cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp là cơ chế pháp lý quan trọng để bảo đảm thực thi quyền tiếp cận thông tin. Nghiên cứu phân tích nội dung chế định này theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, chỉ ra một số hạn chế trong quá trình triển khai thi hành, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Thụy Điển và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định trong dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) ở Việt Nam.
Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin, đặc biệt là thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ trở thành chuẩn mực quan trọng của quản trị dân chủ và Nhà nước pháp quyền trên thế giới. Nội dung và cũng là yêu cầu cốt lõi trong bảo đảm quyền này là cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp, bên cạnh nghĩa vụ chủ động công bố thông tin của các cơ quan công quyền. Nghiên cứu phân tích quy định về cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới và theo Luật mẫu của ARTICLE 19, làm rõ những ưu điểm về bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cơ chế cung cấp thông tin hiệu quả theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp không chỉ gồm quy định về chủ thể có quyền và trách nhiệm, mà còn gắn với các yếu tố như cơ chế giám sát độc lập, chuẩn hóa quy trình xử lý yêu cầu và ứng dụng công nghệ số trong quản lý, cung cấp thông tin. Trên cơ sở đó, nghiên cứu, đề xuất Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc một số kinh nghiệm có giá trị trong việc hoàn thiện khung pháp luật về cung cấp thông tin theo yêu cầu, đặc biệt, trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, thúc đẩy quản trị minh bạch và phát triển Chính phủ số.
Đại biểu Quốc hội: Tăng lương ở mức nào vừa bảo đảm đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách?

Đại biểu Quốc hội: Tăng lương ở mức nào vừa bảo đảm đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách?

Tiếp tục Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 21/4, Quốc hội thảo luận tại hội trường, về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước năm 2025; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2026. Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng điều hành Phiên họp.
Đề xuất thực hiện thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ và 10 địa phương

Đề xuất thực hiện thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ và 10 địa phương

Việc thực hiện thí điểm tại 8 bộ và 10 địa phương. Thời gian thí điểm là từ ngày 01/10/2026 đến hết ngày 30/9/2028, có cơ chế xử lý chuyển tiếp đối với các vụ, việc đang thực hiện.
Đánh giá, xếp loại chất lượng đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức gắn với chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch công tác và kết quả thực hiện

Đánh giá, xếp loại chất lượng đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức gắn với chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch công tác và kết quả thực hiện

Chiều ngày 20/4/2026, đồng chí Nguyễn Thị Hạnh, Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định hồ sơ dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định khung tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng đối với đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức (dự thảo Nghị định). Tham dự cuộc họp có sự tham gia của đại diện Bộ Nội vụ; Bộ Công an; Bộ Quốc phòng; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Tài chính; Bộ Ngoại giao; Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nôi;… và đại diện một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Xử lý kỷ luật viên chức bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh

Xử lý kỷ luật viên chức bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh

Thực hiện Quyết định số 304/QĐ-TTg ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Viên chức, Bộ Nội vụ đang chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng dự thảo Nghị định quy định về xử lý kỷ luật viên chức (dự thảo Nghị định) theo trình tự, thủ tục rút gọn quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 để thay thế các quy định về xử lý kỷ luật viên chức tại Nghị định số 112/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 71/2023/NĐ-CP.
Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Tín ngưỡng và tôn giáo là yếu tố cấu thành cơ bản trong đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi cá nhân, gồm các lễ nghi truyền thống và tập tục. Từ góc độ pháp lý, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận là quyền cơ bản của con người được quy định trong Hiến pháp và pháp luật của các quốc gia. Bài viết nghiên cứu, phân tích, so sánh khung pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một số quốc gia trong hệ thống dân luật và cách thức quản trị sự đa dạng tôn giáo của các quốc gia này. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và quản lý hoạt động của các tôn giáo tại Việt Nam nhằm hài hòa và thúc đẩy công bằng xã hội.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Tăng cường công khai, minh bạch trong trình tự, thủ tục đấu giá tài sản

Tăng cường công khai, minh bạch trong trình tự, thủ tục đấu giá tài sản

Đây là 01 trong 05 chính sách được đề xuất tại phiên họp Hội đồng thẩm định chính sách Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) (chính sách Luật) do Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp) Nguyễn Quốc Hoàn chủ trì ngày 16/4. Tham dự phiên họp có đại diện Văn phòng Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nội vụ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường… cùng đại diện một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Tóm tắt: Triển khai tố tụng điện tử, gồm áp dụng văn bản số, chữ ký số, hồ sơ điện tử, quản trị dữ liệu điện tử, chia sẻ, kết nối liên thông giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự sẽ làm thay đổi phương thức bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của đối tượng yếu thế, tạo ra yêu cầu mới đối với hoạt động trợ giúp pháp lý. Trên cơ sở nhận diện khoảng trống pháp lý và thách thức trong hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực, cơ chế phối hợp và năng lực số, nghiên cứu phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra đối với hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự, từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật, tăng cường năng lực số, phát triển hạ tầng công nghệ và bảo đảm an toàn thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người được trợ giúp pháp lý trong điều kiện triển khai tố tụng điện tử.
Pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Trung Quốc và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Trung Quốc và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế nhất định, đặt ra yêu cầu phải sửa đổi nhằm đáp ứng thực tiễn quản trị hiện đại. Nghiên cứu tập trung đánh giá các khoảng trống pháp lý trên không gian mạng, sự phức tạp trong thủ tục hành chính hiện hành; đồng thời, đi sâu phân tích kinh nghiệm của Trung Quốc đối với mô hình quản lý tôn giáo trực tuyến và cơ chế hậu kiểm, từ đó, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Bằng việc sử dụng phương pháp so sánh luật học và phân tích chính sách, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các hướng hoàn thiện cụ thể: luật hóa trách nhiệm định danh trên môi trường số, thiết lập cơ chế quản trị nhiều bên và đẩy mạnh phân cấp quản lý gắn liền với việc khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Những giải pháp đó nhằm kiến tạo hành lang pháp lý vững chắc, góp phần bảo đảm quyền tự do tôn giáo hài hòa với lợi ích an ninh quốc gia.

Theo dõi chúng tôi trên: