Thứ bảy 19/09/2026 16:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bồi thường nhà nước

Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày một số nhận định về những kết quả đạt được, khó khăn, vướng mắc trong thực hiện công tác bồi thường nhà nước năm 2023, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để thực hiện hiệu quả hơn nữa công tác bồi thường nhà nước năm 2024.

1. Những kết quả đạt được trong công tác bồi thường nhà nước trong năm 2023

Trong năm 2023, công tác bồi thường nhà nước nói chung và các nhiệm vụ trọng tâm trong công tác bồi thường nhà nước (theo hướng dẫn tại Công văn số 5177/BTP-BTNN và Công văn số 5178/BTP-BTNN ngày 23/12/2022 của Bộ Tư pháp) nói riêng đã được lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quan tâm, phối hợp chỉ đạo thực hiện và đã đạt được nhiều kết quả tích cực, cụ thể:

Với việc Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư số 02/2023/TT-TANDTC ngày 24/8/2023 hướng dẫn thi hành Điều 55 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước về giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính của Tòa án thì đến nay, thể chế về trách nhiệm bồi thường của nhà nước đã được hoàn thiện.

Nhận thức về vị trí, vai trò của công tác bồi thường nhà nước tại các cơ quan đã có chuyển biến đáng kể. Nhiều cơ quan, nhiều địa phương đã tiếp cận, thực hiện công tác bồi thường nhà nước theo phương châm phòng ngừa là chính thay vì coi công tác bồi thường nhà nước là công việc “sự vụ” và chỉ thực hiện khi có phát sinh yêu cầu bồi thường.

Với phương châm như vậy, ngay từ đầu năm 2023, một số bộ, ngành và 62/63 địa phương đã chủ động ban hành kế hoạch riêng để thực hiện công tác bồi thường nhà nước và ban hành văn bản triển khai nhiệm vụ trọng tâm về công tác bồi thường nhà nước trong lĩnh vực ngành, địa phương mình quản lý. Tại địa phương, trên cơ sở Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh, các sở, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện đã ban hành kế hoạch tổ chức triển khai công tác bồi thường nhà nước bảo đảm đúng tiến độ, hiệu quả.

Thông qua công tác quản lý nhà nước về công tác bồi thường, có thể thấy rằng, nhiều cơ quan, địa phương đã chủ động đổi mới hình thức trong công tác tuyên truyền, phổ biến Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành thông qua nhiều hình thức phù hợp với tình hình thực tế với các đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức và các tổ chức, cá nhân như: Thông qua hội nghị, hội thảo, các cuộc họp giao ban định kỳ, hoạt động chuyên môn của cơ quan, đơn vị; tuyên truyền, phổ biến qua hệ thống phát thanh, truyền hình; xuất bản sách chuyên đề, sổ tay, cẩm nang về pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước; in, phát hành tờ rơi, tờ gấp[1]; đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng, trang điện tử; bản tin tư pháp.

Công tác bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ về công tác bồi thường nhà nước tiếp tục được các Sở Tư pháp quan tâm, triển khai. Trong năm 2023, bên cạnh các lớp tập huấn do Bộ Tư pháp tổ chức thì đã có 33 địa phương tổ chức tập huấn riêng hoặc lồng ghép nội dung về bồi thường nhà nước tại các Hội nghị tập huấn công tác tư pháp cho cán bộ, công chức được giao thực hiện công tác bồi thường nhà nước của các cơ quan, đơn vị thuộc các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã.

Đối với công tác kiểm tra, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các đơn vị chuyên môn của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và một số địa phương tổ chức nhiều đoàn kiểm tra về công tác bồi thường nhà nước. Đối với các địa phương, trong năm 2023, 37/63 Sở Tư pháp đã ban hành kế hoạch và tổ chức thực hiện kiểm tra công tác bồi thường nhà nước hoặc thực hiện kiểm tra lồng ghép trong công tác kiểm tra tư pháp. Công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra giúp cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường kịp thời phát hiện sai sót, nắm bắt đầy đủ tình hình yêu cầu bồi thường, giải quyết bồi thường, từ đó có giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.

Thông qua các cuộc kiểm tra, Đoàn kiểm tra đã hướng dẫn trực tiếp tại buổi kiểm tra, những sai sót, khiếm khuyết đã được phát hiện và rút kinh nghiệm kịp thời. Đặc biệt, trong năm 2023, qua kiểm tra, Đoàn kiểm tra nhận thấy, có một số vụ việc yêu cầu bồi thường mà người bị thiệt hại mới chỉ có lệnh tạm tha; giấy tờ, tài liệu liên quan đến vụ việc không còn và cơ quan tiến hành tố tụng không có cơ sở để ban hành quyết định đình chỉ điều tra bị can, đình chỉ điều tra vụ án[2].

Công tác phối hợp thực hiện công tác bồi thường nhà nước được nhiều địa phương quan tâm thực hiện bài bản và đạt hiệu quả so với năm 2022. Trên cơ sở công văn của Bộ Tư pháp hướng dẫn xây dựng văn bản phối hợp thực hiện công tác bồi thường tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương[3], tính đến nay, đã có 53/63 tỉnh, thành phố ban hành quy chế phối hợp thực hiện công tác bồi thường nhà nước tại địa phương trong hoạt động quản lý hành chính, thi hành án và tố tụng. Hoạt động phối hợp liên ngành đã giúp địa phương tháo gỡ được những khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết vụ việc yêu cầu bồi thường, thúc đẩy công tác phối hợp giữa các ban, ngành trong việc thực hiện công tác bồi thường nhà nước tại địa phương.

Trong năm 2023, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã thực hiện sơ kết 05 năm thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017. Kết quả sơ kết cho thấy, sau 05 năm thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, các quy định của Luật cùng tinh thần trách nhiệm và sự toàn diện trong việc triển khai, tổ chức thi hành của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho thấy hoạt động quản lý nhà nước, giải quyết yêu cầu bồi thường, xem xét trách nhiệm hoàn trả đã được thực hiện bài bản, đồng bộ và hiệu quả, Luật đã đi vào cuộc sống. Việc ban hành và tổ chức thực hiện Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 cơ bản đã đạt được mục đích khi ban hành, hoàn thành vai trò, sứ mệnh trong giai đoạn vừa qua, góp phần bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại, đồng thời nâng cao trách nhiệm công vụ của đội ngũ công chức. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 và kết quả tổ chức thi hành đã khẳng định trách nhiệm của nhà nước với nhân dân, giúp củng cố niềm tin của nhân dân vào chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, từ đó góp phần vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đáp ứng yêu cầu thực thi Hiến pháp năm 2013 và Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

Trong năm 2023, về kết quả giải quyết yêu cầu bồi thường, so với năm 2022, mặc dù số lượng vụ việc giảm (11 vụ việc tương đương 11%)[4] nhưng tổng số tiền bồi thường theo các văn bản giải quyết bồi thường có hiệu lực pháp luật tăng đáng kể (tăng 13 tỷ 151 triệu 396 nghìn đồng tương ứng với 50%). Số tiền bồi thường được chi trả cho người bị thiệt hại cao hơn năm 2022 là 9 tỷ 720 triệu 947 nghìn đồng tương ứng 67%, đồng thời tỷ lệ số tiền hoàn trả mà người thi hành công vụ gây thiệt hại phải hoàn trả cao hơn gấp hơn 2 lần (tăng 692 triệu 340 nghìn đồng)[5].

Những kết quả trong thực hiện công tác bồi thường nhà nước năm 2023 đã tiếp tục góp phần nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức trong thi hành công vụ, hạn chế các sai phạm làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Đồng thời, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại, nâng cao lòng tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước.

2. Một số tồn tại, hạn chế trong công tác bồi thường nhà nước và nguyên nhân

2.1. Một số tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác bồi thường nhà nước năm 2023 vẫn còn tồn tại một số tồn tại, hạn chế, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước

Việc triển khai pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước của các cơ quan trên địa bàn tỉnh còn chưa đi vào chiều sâu, việc triển khai chủ yếu được thực hiện thông qua lồng ghép với các nội dung khác.

Công tác phối hợp thực hiện công tác bồi thường nhà nước nhất là việc phối hợp với các cơ quan tố tụng trong việc quản lý nhà nước cũng như giải quyết bồi thường ở cơ quan, một số địa phương còn chưa được kịp thời, chặt chẽ, nhịp nhàng.

Công chức được phân công phụ trách công tác bồi thường nhà nước chủ yếu là kiêm nhiệm, không có tính ổn định, thường xuyên luân chuyển, bên cạnh đó còn hạn chế về kỹ năng, nghiệp vụ và kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ, trong khi đó, quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước là nhiệm vụ phức tạp, đa dạng, đòi hỏi chuyên môn sâu.

Thứ hai, về công tác giải quyết bồi thường

Một số cơ quan giải quyết bồi thường chưa thực hiện nghiêm túc việc gửi các văn bản trong quá trình giải quyết bồi thường cho cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 và Điều 12 Thông tư số 08/2019/TT-BTP ngày 10/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước.

Các vụ việc yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự hầu hết xảy ra đã lâu, do đó, việc xác minh thiệt hại gặp nhiều khó khăn do không còn lưu trữ các giấy tờ, tài liệu dẫn đến việc thương lượng giữa người bị thiệt hại và cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại thường không thành.

Một số địa phương có phát sinh vụ việc yêu cầu bồi thường nhà nước, tuy nhiên, các cơ quan ở địa phương tự thỏa thuận, giải quyết bằng các cơ chế khác mà không giải quyết theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017. Do đó, có thể dẫn đến tình trạng việc thống kê các vụ việc yêu cầu bồi thường nhà nước của các cơ quan không chính xác. Đối với các vụ việc đó, mặc dù hai bên đã tự thỏa thuận giải quyết với nhau nhưng người bị thiệt hại vẫn có thể yêu cầu bồi thường nhà nước theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.

2.2. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế

Một là, về quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước

Nhiều địa phương chưa ban hành văn bản phối hợp giữa các cơ quan, đặc biệt là các cơ quan tố tụng ở địa phương trong việc thực hiện công tác bồi thường nhà nước.

Hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ giải quyết bồi thường chưa được nhiều địa phương quan tâm, chủ động thực hiện, chủ yếu là cử cán bộ, công chức tham dự các lớp tập huấn, bồi dưỡng do Bộ Tư pháp tổ chức.

Hai là, về công tác giải quyết bồi thường

Ở trung ương, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chưa thống nhất cách hiểu và thực hiện, đồng thời, ở địa phương và một số cơ quan giải quyết bồi thường nhận thức và thực hiện chưa đúng quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 về trách nhiệm gửi văn bản trong quá trình giải quyết bồi thường, xem xét trách nhiệm hoàn trả.

Một số cơ quan giải quyết bồi thường chưa nhận thức và thực hiện đúng quy định về thành phần tham gia quá trình thương lượng giải quyết bồi thường. Do đó, các cơ quan giải quyết bồi thường không mời Sở Tư pháp tham gia vào quá trình thương lượng việc bồi thường.

Theo quy định tại Điều 76 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 thì cơ quan giải quyết bồi thường không thu các khoản án phí, phí, lệ phí và các loại phí khác đối với nội dung yêu cầu thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Tuy nhiên, trong thực tiễn, đối với các vụ việc, người bị thiệt hại khởi kiện yêu cầu bồi thường tại Tòa án một số khoản án phí, phí, lệ phí và các loại phí khác và lãi suất chậm trả đối với số tiền nhà nước bồi thường cho người bị thiệt hại.

Theo quy định tại Điều 54, Điều 60, Điều 61, Điều 62, Điều 63 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 thì số tiền bồi thường nhà nước được thực hiện theo thủ tục chi trả tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ mà không thực hiện thủ tục thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2022. Tuy nhiên, có một số cơ quan, sau khi có bản án của Tòa án về giải quyết bồi thường, cơ quan thi hành án vẫn ra quyết định thi hành án.

3. Một số đề xuất, kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác bồi thường nhà nước

Để thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ công tác bồi thường nhà nước trong thời gian tới, tác giả xin đưa ra một số đề xuất, kiến nghị như sau:

Thứ nhất, lãnh đạo các bộ, ngành và địa phương cần tăng cường vai trò của mình trong chỉ đạo thực hiện công tác bồi thường nhà nước trong phạm vi của bộ, ngành và địa phương mình; quan tâm, tạo điều kiện và bảo đảm các điều kiện cần thiết để các cơ quan thuộc phạm vi quản lý của mình thực hiện hiệu quả công tác bồi thường nhà nước.

Thứ hai, đề nghị Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các bộ, ngành tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp trong thực hiện các nhiệm vụ về bồi thường nhà nước. Chỉ đạo các cơ quan thuộc phạm vi quản lý của ngành mình tại địa phương thực hiện nghiêm các quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 (đặc biệt là các quy định về: Điều kiện thụ lý vụ việc yêu cầu bồi thường nhà nước; phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; xác định thiệt hại được bồi thường; trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường và việc thi hành bản án, quyết định về giải quyết yêu cầu bồi thường). Đồng thời chỉ đạo các cơ quan thuộc phạm vi quản lý của mình tại địa phương phối hợp chặt chẽ, kịp thời với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thực hiện công tác bồi thường nhà nước tại địa phương theo đúng nội dung văn bản phối hợp thực hiện công tác bồi thường nhà nước đã được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành hoặc đã được liên ngành tại địa phương thống nhất ban hành.

Thứ ba, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cần tăng cường vai trò trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước tại địa phương, cụ thể:

Chỉ đạo Sở Tư pháp tăng cường và bảo đảm các điều kiện cần thiết để Sở Tư pháp thực hiện hiệu quả nhiệm vụ tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường, trong đó chú trọng: Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, đặc biệt hướng tới các đối tượng là người dân bằng các hình thức phù hợp; tiếp tục tổ chức bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ công tác bồi thường nhà nước cho đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện công tác bồi thường nhà nước tại địa phương; tăng cường công tác kiểm tra, chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc giải quyết bồi thường theo quy định của pháp luật.

Chỉ đạo Sở Tư pháp chủ động phối hợp với Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và các sở, ban, ngành trên địa bàn tỉnh trong thực hiện các nhiệm vụ về công tác bồi thường nhà nước. Đồng thời, Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh tích cực phối hợp, chỉ đạo các cơ quan thuộc phạm vi quản lý của mình phối hợp với Sở Tư pháp trong thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác bồi thường cũng như trong quá trình giải quyết các vụ việc bồi thường theo đúng nội dung văn bản phối hợp thực hiện công tác bồi thường nhà nước đã được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành hoặc đã được liên ngành tại địa phương thống nhất ban hành.

Chỉ đạo các cơ quan giải quyết bồi thường kịp thời thụ lý, giải quyết dứt điểm các vụ việc yêu cầu bồi thường phát sinh tại địa phương, bảo đảm đúng quy định của pháp luật./.

Nguyễn Thị Tươi

Cục Bồi thường nhà nước


[1] Quảng Nam (8.200 Tờ gấp), Ninh Bình (10.000 tờ gấp), Hải Phòng (20.000 tờ gấp), Đà Nẵng (500 bản), Đắk Lắk (in cấp phát tài liệu).

[2] Báo cáo số 100/BC-BTNN ngày 31/8/2023 Báo cáo kết quả Tọa đàm về những khó khăn, vướng mắc trong 05 năm triển khai và tổ chức thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại tỉnh Sóc Trăng. Vụ việc của ông Phạm Văn Hùng ở Cần Thơ (Kết luận số 3772/KL/ĐKTLN ngày 18/8/2023 Kết luận kiểm tra liên ngành công tác bồi thường nhà nước tại thành phố Cần Thơ).

[3] Công văn số 4131/BTP-BTNN ngày 24/10/2022 của Bộ Tư pháp.

[4] Năm 2022 số vụ việc là 103 vụ việc.

[5] Báo cáo số 130/BC-BTP ngày 14/03/2024 của Bộ Tư pháp báo cáo công tác bồi thường nhà nước năm 2023, nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp năm 2024.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: