Thứ ba 08/09/2026 17:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hiệu quả của định hướng trong Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015 - 2025 và Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 tại tỉnh Lạng Sơn

Công tác lập hiến, lập pháp của Việt Nam từ năm 2013 đến năm 2015 chứng kiến sự ra đời của nhiều văn bản quan trọng ghi nhận quyền con người, quyền công dân như Hiến pháp năm 2013

Công tác lập hiến, lập pháp của Việt Nam từ năm 2013 đến năm 2015 chứng kiến sự ra đời của nhiều văn bản quan trọng ghi nhận quyền con người, quyền công dân như Hiến pháp năm 2013 và các bộ luật, luật quan trọng như: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015… Lĩnh vực trợ giúp pháp lý (TGPL) cũng có những thay đổi quan trọng trong hoạch định chính sách, cải cách hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động TGPL. Đề án đổi mới công tác TGPL giai đoạn 2015 - 2025 (Đề án đổi mới) và Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã đưa ra những định hướng đúng đắn, lấy quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL làm trung tâm, đảm bảo nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL theo hướng chuẩn hóa và chuyên nghiệp. Trên cơ sở những định hướng này, công tác TGPL ở Lạng Sơn đã được triển khai theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, chú trọng chất lượng. Qua 04 năm thực hiện Đề án đổi mới và hơn 01 năm triển khai thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 tại địa phương, công tác TGPL tại Lạng Sơn đã có những chuyển biến tích cực, được ghi nhận thông qua các con số, vụ việc, thông qua các kết quả cụ thể tại địa phương. Từ đó, có thể khẳng định những định hướng kịp thời và đúng đắn của Đề án đổi mới và Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đối với công tác TGPL. Cụ thể như sau:

1. Tập trung thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý

Thực hiện các nhiệm vụ được giao theo Kế hoạch số 11/KH-UBND ngày 27/01/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn về triển khai Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015 - 2025 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, Sở Tư pháp đã chỉ đạo Trung tâm TGPL có kế hoạch phân bổ nguồn lực hợp lý, tập trung thực hiện nhiệm vụ chính là trợ giúp các vụ việc cụ thể. Nhiệm vụ tập trung thực hiện vụ việc TGPL cũng đã được cụ thể thông qua chính sách ngân sách trung ương hỗ trợ vụ việc tham gia tố tụng có tính chất phức tạp, điển hình tại Quyết định số 32/2016/QĐ-TTg ngày 08/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn giai đoạn 2016 - 2020 và hỗ trợ vụ việc tham gia tố tụng có tính chất phức tạp, điển hình (Quyết định số 32/2016/QĐ-TTg). Cụ thể, từ năm 2016 đến ngày 31/12/2018, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Lạng Sơn đã thực hiện TGPL 1.559 vụ việc, cho 1.559 lượt người, trong đó có 824 vụ việc tham gia tố tụng; 735 vụ việc tư vấn (gồm tư vấn tại trụ sở Trung tâm, chi nhánh và tư vấn ngoài trụ sở).

So với trước khi thực hiện Đề án đổi mới, số vụ việc tham gia tố tụng tại địa phương đã có bước biến chuyển mạnh mẽ, tăng số lượng vụ việc tham gia tố tụng, đi vào bản chất của hoạt động TGPL. Cụ thể, năm 2016, số vụ tham gia tố tụng đạt 220 vụ (tăng 130 vụ, tăng 144% so với năm 2015); năm 2017, số vụ tham gia tố tụng đạt 224 vụ (tăng 134 vụ, tăng 150% so với năm 2015); năm 2018, số vụ tham gia tố tụng đạt 380 vụ (tăng 290 vụ, tăng 320% so với năm 2015). Số vụ việc bằng hình thức tham gia tố tụng tăng nhanh qua các năm. Những thay đổi mạnh mẽ tăng mạnh số lượng vụ việc tham gia tố tụng là dấu hiệu tích cực nhất khẳng định tính đúng đắn trong định hướng tập trung thực hiện vụ việc TGPL của Đề án đổi mới và Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.

Một trong những điểm nhấn trong định hướng của Đề án đổi mới và Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 chính là ban hành chỉ tiêu tham gia tố tụng hàng năm cho trợ giúp viên pháp lý. Quy định này không chỉ tạo cơ sở cho địa phương thực hiện hoạt động TGPL tập trung đúng với định hướng của Đề án đổi mới mà còn giúp đội ngũ trợ giúp viên pháp lý thường xuyên được trau dồi, rèn luyện kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao năng lực thực hiện TGPL của mình.

Kết quả thực hiện chỉ tiêu tham gia tố tụng rất đáng khích lệ, trong 03 năm thực hiện chỉ tiêu tham gia tố tụng do Bộ Tư pháp giao, 100% trợ giúp viên pháp lý thực hiện đạt chỉ tiêu. Riêng năm 2017 và năm 2018, số trợ giúp viên pháp lý đạt chỉ tiêu tốt tăng từ 84% lên 100%. Tổng số vụ việc tham gia tố tụng do trợ giúp viên pháp lý thực hiện hoàn thành đạt 434 vụ. Kết quả này đã cho thấy việc tập trung thực hiện vụ việc TGPL là định hướng đúng đắn của Đề án đổi mới và Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 để đưa chính sách TGPL đến gần hơn với người được TGPL.

Qua số liệu nêu trên, có thể khẳng định, sự hưởng ứng tích cực từ địa phương đối với định hướng tập trung thực hiện vụ việc TGPL một mặt giúp cho việc sử dụng nguồn lực (nhân sự, tài chính) tại địa phương được sử dụng hiệu quả (vì mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân), mặt khác giúp người thực hiện TGPL có cơ hội thực hành kỹ năng nghề nghiệp của mình. Tuy nhiên, hiệu quả lớn nhất mà chủ trương này mang lại đó là người dân được thụ hưởng dịch vụ có chất lượng.

2. Về nâng cao chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý
Định hướng nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL đảm bảo tính chuyên nghiệp và chuyên sâu là yêu cầu tất yếu trong giai đoạn hiện nay. Để đạt được mục tiêu trên, Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn đã chỉ đạo thực hiện hiệu quả các nội dung sau:

2.1. Phát triển đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý
Thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn đã chỉ đạo Trung tâm TGPL đẩy mạnh công tác xã hội hóa để huy động nguồn lực tham gia TGPL. Theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn đã ký hợp đồng thực hiện TGPL với 06 tổ chức (bao gồm 05 tổ chức hành nghề luật sư và 01 tổ chức tư vấn pháp luật), đồng thời chỉ đạo Trung tâm TGPL nhà nước ký hợp đồng thực hiện TGPL với 08 luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Lạng Sơn. Số người thực hiện TGPL tăng lên 31 người (tăng 19 người so với trước khi thực hiện Đề án đổi mới).

Số trợ giúp viên pháp lý thực hiện tại Trung tâm là 06 trợ giúp viên pháp lý (trong đó có 02 trợ giúp viên pháp lý được bổ nhiệm sau khi thực hiện Đề án đổi mới), 06 viên chức tham gia đào tạo và hoàn thành lớp bồi dưỡng nghề luật sư (trong đó có 02 viên chức đã hoàn thành kỳ kiểm tra kết quả tập sự TGPL năm 2019, dự kiến thời gian tới sẽ được bổ nhiệm).

2.2. Nâng cao năng lực cho người thực hiện trợ giúp pháp lý

Nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ người thực hiện TGPL, từ năm 2016 đến nay, Trung tâm TGPL đã tổ chức 12 hội nghị tập huấn kiến thức pháp luật và kỹ năng thực hiện TGPL như: Kỹ năng thực hiện TGPL trong vụ án hình sự, kỹ năng TGPL trong tố tụng hành chính, kỹ năng thực hiện TGPL cho các đối tượng đặc thù... Phối hợp với Phòng Tư pháp các huyện tổ chức 02 hội nghị tập huấn về thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành cho những người thực hiện TGPL. Ngoài ra, Trung tâm đã bố trí công việc, tạo điều kiện thuận lợi cho viên chức được tham gia các hội nghị tập huấn về kỹ năng TGPL do Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp tổ chức. Sau các lớp tập huấn, kỹ năng thực hiện vụ việc của người thực hiện TGPL và chất lượng giải quyết vụ việc đã được nâng lên đáng kể, vai trò của người thực hiện TGPL được các cơ quan tiến hành tố tụng và người được TGPL ghi nhận.

2.3. Đánh giá chất lượng hoạt động tham gia tố tụng của trợ giúp viên pháp lý, luật sư
Chất lượng hoạt động tham gia tố tụng của trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện TGPL từng bước được nâng lên thể hiện tính đúng đắn của định hướng nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL. Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện TGPL bằng các hoạt động của mình trong quá trình giải quyết vụ án, cùng với sự tận tâm, nhiệt huyết, trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp, đã bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng được TGPL. Sau khi kết thúc vụ việc, Trung tâm lấy ý kiến đánh giá của người dân, kết quả cho thấy, người được TGPL hài lòng về thái độ phục vụ, cách thức thực hiện TGPL của đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và luật sư thực hiện TGPL.

Điển hình có những vụ việc phức tạp kéo dài nhiều năm không giải quyết được, đặc biệt là những vụ tranh chấp liên quan đến đất đai đã trải qua nhiều cấp xét xử khi có sự trợ giúp của trợ giúp viên pháp lý thì vụ việc được giải quyết thành công, quyền sử dụng đất của người dân được bảo vệ. Có vụ việc hình sự sau khi có sự tham gia của trợ giúp viên pháp lý bị cáo được tuyên miễn trách nhiệm hình sự. Ví dụ: Vụ án Lưu Văn Ch. bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc khởi tố về tội “vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ”, đề xuất áp dụng hình phạt tù giam đối với Lưu Văn Ch, tuy nhiên trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm tham gia bào chữa, trong bản luận cứ bào chữa của mình trợ giúp viên đã đưa ra các căn cứ thuyết phục, kết quả bị cáo Lưu Văn Ch. đã được Tòa tuyên miễn trách nhiệm hình sự. Sau mỗi thành công của từng vụ án, niềm tin của nhân dân đối với công tác TGPL lại được nhân lên, người dân có thái độ hợp tác trong giải quyết các vụ việc TGPL, người thực hiện TGPL có thêm động lực thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.

3. Khuyến khích, động viên sự tham gia tích cực của người thực hiện trợ giúp pháp lý

Trong quá trình triển khai Đề án đổi mới, có thể thấy rõ một định hướng quan trọng đó là khuyến khích sự tham gia của người thực hiện TGPL. Mục tiêu này được thể hiện thông qua một số định hướng như: Tăng mức bồi dưỡng đối với luật sư thực hiện vụ việc TGPL bằng hình thức tham gia tố tụng, nâng mức bồi dưỡng đối với trợ giúp viên pháp lý. Ngay sau khi có Đề án đổi mới, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 80/2015/NĐ-CP ngày 17/9/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 14/2013/NĐ-CP ngày 05/02/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, theo đó đã nâng mức thù lao cho luật sư thực hiện vụ việc TGPL bằng hình thức tham gia tố tụng từ 0,2 mức lương tối thiểu tương đương 210.000 đồng/ngày làm việc lên mức 500.000 đồng/buổi làm việc (1.000.000 đồng/ngày làm việc). Mức bồi dưỡng cho trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng cũng đã được nâng từ 20% mức áp dụng đối với luật sư lên mức 40%.

Tiếp đến, Nghị định số 144/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý một lần nữa điều chỉnh mức thù lao tham gia tố tụng lên 0,38 mức lương cơ sở/01 buổi làm việc đối với luật sư và 0,31 mức lương cơ sở/01 buổi làm việc đối với luật sư thực hiện đại diện ngoài tố tụng. Quy định thù lao theo mức lương cơ sở sẽ bảo đảm quyền lợi cho người thực hiện TGPL, qua đó đã khuyến khích, động viên người thực hiện TGPL tận tâm, có trách nhiệm hơn trong thực hiện vụ việc TGPL. Đến năm 2018, lượng án tham gia tố tụng đối với luật sư tăng lên 102 vụ (tăng 82 vụ so với năm 2014), trợ giúp viên pháp lý đạt 243 vụ (tăng lên 210 vụ so với năm 2014 trước khi có Đề án). Kết quả này khẳng định việc khuyến khích, động viên sự tham gia tích cực của người thực hiện TGPL có vai trò quan trọng trong việc làm tăng số lượng vụ việc TGPL mà mỗi trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện TGPL cần tự nghiên cứu, nâng cao kỹ năng, trách nhiệm thực hiện vụ việc TGPL.

4. Công tác truyền thông về trợ giúp pháp lý

Xác định công tác truyền thông là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần quảng bá rộng rãi công tác TGPL trên các phương tiện thông tin đại chúng đến với người dân, các cơ quan, tổ chức. Do đó, Quyết định số 32/2016/QĐ-TTg được ban hành trong đó chỉ đạo triển khai thực hiện đồng bộ các nội dung tác truyền thông về TGPL phải phù hợp với tình hình địa phương. Công tác truyền thông được thực hiện với nhiều hình thức đa dạng, phong phú gồm:

- Biên soạn, tổ chức in cuốn cẩm nang pháp luật về TGPL; hợp đồng truyền thông trên sóng truyền thanh 2 - 3 số/tháng; trong thời gian là 01 năm với 10/11 đài truyền thanh, truyền hình các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh thông tin về TGPL tới tận các cụm, thôn, bản, người dân trên địa bàn.

- Thiết lập và duy trì đường dây nóng về TGPL bằng điện thoại cố định và các phương tiện hỗ trợ khác để kịp thời tiếp nhận các thông tin liên quan đến hoạt động TGPL như: Thông tin về yêu cầu TGPL của công dân; phản ánh, kiến nghị của người được TGPL đối với việc thực hiện TGPL thuộc phạm vi quản lý của Trung tâm; thông tin về việc phối hợp thực hiện TGPL của các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong hoạt động TGPL; thông tin về tinh thần trách nhiệm, thái độ, ý thức đạo đức nghề nghiệp của công chức, viên chức và người lao động trong Trung tâm TGPL nhà nước và cộng tác viên TGPL của Trung tâm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

- Xây dựng chuyên trang, chuyên mục về TGPL trên Trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp; xây dựng và phát hành tờ rơi miễn phí giới thiệu về TGPL và cung cấp địa chỉ liên hệ của Trung tâm TGPL và các chi nhánh trên địa bàn tỉnh đến người dân…

- Trong 02 năm (2017, 2018), Trung tâm TGPL đã tổ chức được 104 đợt truyền thông về TGPL cơ sở tại các xã, thôn đặc biệt khó khăn thuộc 10/11 huyện trên địa bàn tỉnh. Số người đến yêu cầu TGPL liên tục tăng và có sự thay đổi về yêu cầu TGPL (yêu cầu TGPL tư vấn pháp luật tiền tố tụng và yêu cầu TGPL trong các lĩnh vực tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng trong các vụ, việc hình sự, dân sự, hành chính…). Điều này cho thấy, những hiệu quả không nhỏ của công tác truyền thông về TGPL, giúp Trung tâm TGPL trở thành địa chỉ tin cậy cho người được TGPL khi có vướng mắc về pháp luật.

5. Nâng cao nhận thức của chính quyền và sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức có liên quan
Việc nâng cao nhận thức của chính quyền và sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức có liên quan đã được thay đổi rõ rệt. Kinh phí, đặc biệt là kinh phí nghiệp vụ chi cho thực hiện vụ việc tham gia tố tụng và các hoạt động TGPL đã được quan tâm đặc biệt đảm bảo đầy đủ, kịp thời.

Trung tâm TGPL đã thực hiện tốt việc phối hợp TGPL trong hoạt động tố tụng theo Quy chế hoạt động của Hội đồng phối hợp. Các cơ quan tiến hành tố tụng đã chỉ đạo người tiến hành tố tụng và cán bộ làm công tác tiếp công dân thực hiện việc giải thích về quyền được TGPL cho người được TGPL trong từng giai đoạn tố tụng.

Hoạt động phối hợp với tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương cũng được Trung tâm thực hiện thường xuyên, có hiệu quả. Trung tâm và Đoàn Luật sư tỉnh đã tăng cường phối hợp thực hiện các hoạt động như: Triển khai văn bản, chính sách pháp luật mới liên quan đến công tác TGPL; phối hợp giới thiệu và thực hiện TGPL; giới thiệu, lựa chọn luật sư tham gia thực hiện TGPL, thẩm định, đánh giá chất lượng vụ việc TGPL; thông tin, truyền thông về TGPL và nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ TGPL.

Điểm qua những mặt công tác trên đây có thể thấy, hoạt động TGPL ở tỉnh Lạng Sơn sau khi thực hiện Đề án đổi mới và Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã có những bước chuyển đáng kể (cả về số lượng và chất lượng). Số lượng vụ việc tăng lên, năng lực của người thực hiện TGPL được quan tâm bồi dưỡng, do đó, chất lượng vụ việc cũng được nâng lên rõ rệt, mang đến sự hài lòng của người dân. Những kết quả nêu trên một lần nữa khẳng định tính đúng đắn trong định hướng của Đề án đổi mới và Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017. Các nội dung định hướng đã được triển khai thực hiện theo đúng kế hoạch, bảo đảm thực hiện đúng mục tiêu đưa công tác TGPL đi vào thực chất; nâng cao năng lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước về TGPL; bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho đối tượng thụ hưởng chính sách TGPL miễn phí của Nhà nước; giúp đỡ những người yếu thế trong xã hội về tiếp cận pháp luật; góp phần bảo đảm thực thi Hiến pháp năm 2013; thực hiện đúng đắn chủ trương, chính sách của Đảng về công tác xóa đói, giảm nghèo.

Hoàng Thúy Duyên



Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.

Theo dõi chúng tôi trên: