Thứ ba 22/09/2026 05:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam bảo đảm thể chế và pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, dẫn dắt sự phát triển của đất nước

Ngày 15/10/2025, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo khoa học “Những vấn đề lý luận về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật”. Đồng chí Nguyễn Thanh Tú, Thứ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo.
Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam bảo đảm thể chế và pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, dẫn dắt sự phát triển của đất nước
Toàn cảnh Hội thảo.

Tham dự Hội thảo có đồng chí Ngô Trung Thành, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội; đồng chí Nguyễn Văn Cương, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý; đại diện lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp cùng các chuyên gia, nhà khoa học.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú cho biết, ngay sau cuộc họp với Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật, Tổng Bí thư Tô Lâm đã giao Đảng ủy Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng Đề án đánh giá và hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam với mục đích cuối cùng là bảo đảm thể chế và pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, đóng vai trò dẫn dắt sự phát triển của đất nước, đặc biệt đối với kinh tế - xã hội. Vì vậy, nhằm giúp Bộ Tư pháp có cơ sở để hoàn thiện Đề án, Thứ trưởng đề nghị các chuyên gia, nhà khoa học tham dự Hội thảo tập trung trao đổi, thảo luận 03 nhóm vấn đề trọng tâm, cụ thể: (i) Làm rõ khái niệm cấu trúc hệ thống pháp luật; các khái niệm liên quan đến cấu trúc hệ thống pháp luật; các thành tố trong cấu trúc hệ thống pháp luật và mối liên hệ của các thành tố này, từ đó xác định cấu trúc của hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay; (ii) Xác định quan điểm, nguyên tắc hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật; (iii) Đề xuất các mô hình cấu trúc và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.

Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam bảo đảm thể chế và pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, dẫn dắt sự phát triển của đất nước
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú phát biểu khai mạc Hội thảo.

Thay mặt nhóm chuyên gia tư vấn của Đề án “Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, GS. TS. Vũ Công Giao, Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đề xuất, sơ đồ hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam nên được thể hiện theo mô hình kim tự tháp với 04 tầng: Tầng 1 là Hiến pháp; Tầng 2 là luật; Tầng 3 là văn bản dưới luật và Tầng 4 là luật mềm gồm án lệ, tập quán, quy tắc nghề nghiệp... Trong đó, Tầng 1 quy định nguyên tắc; Tầng 2 thể chế hóa; Tầng 3 cụ thể hóa và hướng dẫn; Tầng 4 hỗ trợ vận hành linh hoạt. Các tầng có quan hệ liên thông dọc (hiến định - lập pháp - dưới luật - mềm) và liên thông ngang (giữa các lĩnh vực pháp luật). Bên cạnh đó, việc thiết kế và vận hành hệ thống pháp luật phải bảo đảm một số nguyên tắc như: Nguyên tắc phân tầng (trật tự thứ bậc, quyền lực lập pháp - hành pháp - tư pháp); nguyên tắc phân ngành (cấu trúc luật theo lĩnh vực điều chỉnh, tạo tính hệ thống và chuyên sâu); nguyên tắc phân quyền lập pháp, lập quy (sự rõ ràng giữa lập pháp, hành pháp, tư pháp, giữa trung ương và địa phương trong xây dựng và thi hành pháp luật, tránh tình trạng “nghị định sửa luật”, văn bản do địa phương ban hành trái với văn bản do trung ương ban hành)…

Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam bảo đảm thể chế và pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, dẫn dắt sự phát triển của đất nước
GS.TS. Lê Minh Tâm, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội trao đổi tại Hội thảo.

Theo GS.TS. Lê Minh Tâm, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội, cấu trúc tổng thể của hệ thống pháp luật Việt Nam gồm 04 yếu tố: (i) Chính sách đóng vai trò định hướng, dẫn dắt, thể hiện quan điểm, mục tiêu, giải pháp kinh tế, chính trị, xã hội có tính ổn định lâu dài mà hệ thống pháp luật hướng tới phản ánh và điều chỉnh; (ii) Thể chế có chức năng thực hiện các hoạt động tạo lập, thực thi và áp dụng pháp luật bằng các quy trình, thủ tục chặt chẽ, chính danh, hợp pháp, hiệu quả; (iii) Nguyên tắc là những nguyên lý có tính cơ bản, sâu sắc được xã hội thừa nhận về pháp lý và đạo đức, có chức năng là cơ sở cho việc giải thích, áp dụng và phát huy hiệu lực của các quy phạm pháp luật; (iv) Các quy phạm pháp luật là những quy tắc, chuẩn mực được quy định cụ thể để xác định quyền, nghĩa vụ và chế tài trong các tình huống điển hình cần có sự điều chỉnh của pháp luật. Đặc biệt, GS.TS. Lê Minh Tâm nhấn mạnh, để việc xây dựng hệ thống pháp luật được khoa học, hợp lý, vừa thống nhất, ổn định, vừa có tính mở, tính năng động trong việc phát huy vai trò thích ứng, hiệu lực của mỗi bộ phận hợp thành và của toàn bộ hệ thống pháp luật, cấu trúc nội dung của hệ thống pháp luật phải có lĩnh vực pháp luật, ngành luật, chế định pháp luật và quy phạm pháp luật.

Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam bảo đảm thể chế và pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, dẫn dắt sự phát triển của đất nước
GS.TS. Phan Trung Lý, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội trao đổi tại Hội thảo.

Trao đổi tại Hội thảo, GS.TS. Phan Trung Lý, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội cho rằng, hệ thống pháp luật cần được chia thành 03 tầng: Bản chất, nội dung và hình thức. Bên cạnh đó, GS.TS. Phan Trung Lý nhấn mạnh, hiện nay Việt Nam chưa có mô hình tổng thể về cấu trúc hệ thống pháp luật, mà mới chỉ dừng lại ở việc xử lý các vấn đề cụ thể trong từng văn bản. Vì vậy, cần sớm xác lập một khung mô hình chung để định hướng tái cấu trúc toàn hệ thống. Ngoài ra, trong quá trình tái cấu trúc hệ thống pháp luật, cần đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao vị thế và hiệu lực của điều ước quốc tế, bảo đảm tính tương thích với pháp luật trong nước.

Phát biểu kết luận Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú đánh giá cao ý kiến đóng góp của các đại biểu tham dự Hội thảo, đồng thời bày tỏ mong muốn, trong thời gian tới sẽ tiếp tục nhận được sự hỗ trợ từ các chuyên gia, nhà khoa học trong việc cung cấp thêm thông tin nhằm giúp Bộ Tư pháp hoàn thành Đề án “Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” đạt hiệu quả cao nhất.

Thùy Dung

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Đổi mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong kỷ nguyên số

Đổi mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong kỷ nguyên số

Ngày 18/9, ông Nguyễn Duy Thắng, Phó Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 52/2015/NĐ-CP về cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Tham dự cuộc họp có đại diện các đơn vị có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp xã, phường, đặc khu

Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp xã, phường, đặc khu

Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ theo vị trí việc làm cho công chức thực hiện nhiệm vụ tư pháp xã, phường, đặc khu (Chương trình) tập trung vào tập huấn kỹ năng, đặc biệt các kỹ năng liên quan đến chuyển đổi số, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu và xử lý tình huống gắn với những khó khăn, vướng mắc trong thực tế triển khai thực hiện công việc.
Triển khai kịp thời, hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Triển khai kịp thời, hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Ngày 15/9/2026, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1788/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Đề xuất phương án xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở

Đề xuất phương án xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở

Sáng ngày 16/9, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở (dự thảo Nghị định). Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc, Tổ trưởng Tổ soạn thảo chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì Hội thảo có Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Ngô Quỳnh Hoa.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Xây dựng Trang Hiến kế xây dựng, thi hành pháp luật

Xây dựng Trang Hiến kế xây dựng, thi hành pháp luật

Chiều ngày 15/9, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc làm việc với các đơn vị có liên quan về việc triển khai Trang Thông tin điện tử Hiến kế xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới trên Cổng Pháp luật quốc gia (Trang Hiến kế).
Triển khai kịp thời, toàn diện, thống nhất Luật Hòa giải ở cơ sở

Triển khai kịp thời, toàn diện, thống nhất Luật Hòa giải ở cơ sở

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu vừa ký Quyết định số 1774/QĐ-TTg ngày 14/9/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở (Kế hoạch). Việc ban hành Kế hoạch nhằm bảo đảm Luật được triển khai kịp thời, toàn diện, thống nhất và hiệu quả; qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả và tính thực chất trong tổ chức thi hành pháp luật.
Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.

Theo dõi chúng tôi trên: