Chủ nhật 20/09/2026 19:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát và các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Quyền hạn điều tra của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Bài viết bàn về mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

1. Các cơ quan được giao được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 không quy định những cơ quan nào là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, mà chỉ quy định tại Chương IX Những quy định chung về điều tra tại Điều 111. Quyền hạn điều tra của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 23/2004/PL-UBTVQH11 ngày 20/8/2004 tại Điều 2 quy định cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm có: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân. Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 cũng chưa quy định người nào được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong các cơ quan này, cũng như các hoạt động tố tụng được thực hiện gồm những hoạt động nào từ đó dẫn đến mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng còn nhiều vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự.

Khắc phục những thiếu sót đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có những thay đổi phù hợp cả về kỹ thuật lập pháp cũng như những quy định liên quan tới các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Ngay tại Điều 4 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã đưa ra cách giải thích từ ngữ như sau: Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm người tiến hành tố tụng và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Tại Điều 9 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 và tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm có: Các cơ quan của Bộ đội biên phòng; các cơ quan của Hải quan; các cơ quan của Kiểm lâm; các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển; các cơ quan của Các cơ quan của kiểm ngư; các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành hành một số hoạt động điều tra; Các cơ quan của Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Như vậy, so với Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung thêm các cơ quan của Kiểm ngư vào nhóm các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số nhiệm vụ điều tra. Việc bổ sung này là hoàn toàn phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Kiểm ngư theo Nghị định số 102/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/11/2012.

2. Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong giai đoạn điều tra

Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được quy định tại Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015[1].

Như vậy, khi phát hiện tội phạm trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thuộc lĩnh vực, địa bàn mình quản lý các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải thực hiện việc xác định những loại tội phạm nào thuộc thẩm quyền điều tra của mình được quy định trong Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015, nếu thuộc thẩm quyền điều tra của mình thì phải căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tôi xác định người, pháp nhân đã thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng được quy định trong Bộ luật Hình sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015thì tiến hành các thủ tục tố tụng vụ án như: Khởi tố vụ án; khởi tố bị can; khám nghiệm hiện trường; trưng cầu giám định; hỏi cung bị can; lấy lời khai người bị hại… được quy định tại các Điều 39, Điều 40 Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 164 Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày khởi tố vụ án để tiến hành điều tra theo luật định.

3. Mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 - những bất cập khi thực hiện

Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát đối với đối với các hoạt động tố tụng là hết sức quan trọng, không chỉ làm sáng tỏ sự thật khách quan, toàn diện của vụ án đã được khởi tố nhằm phát hiện tội phạm, phát hiện người, pháp nhân đã thực hiện hành vi phạm tội góp phần trong công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm một cách có hiệu quả.

Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra trong giai đoạn này, Viện kiểm sát có các nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 165, Điều 166, Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như: Yêu cầu cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can không có căn cứ và trái pháp luật; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra; kiến nghị yêu cầu cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm trong việc khởi tố, điều tra…

Như vậy, đối với việc điều tra vụ án của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đến khi kết thúc điều tra bằng bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố hoặc kết luận điều tra và đình chỉ vụ án cùng hồ sơ chuyển sang Viện kiểm sát. Viện kiểm sát phải có trách nhiệm kiểm sát việc khởi tố có đúng thẩm quyền, đúng lĩnh vực, địa bàn mà các cơ quan này được giao nhiệm vụ, quyền hạn quản lý, so sánh, đối chiếu với các loại tội phạm thuộc thẩm quyền của các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra đã được quy định từ Điều 32 đến Điều 39 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự. Đối với các tội phạm ít nghiệm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng thì các cơ quan này có quyền quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 01 tháng (Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định là 20 ngày) kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự là ít hơn thời hạn điều tra đối với các tội phạm ít nghiệm trọng mà cơ qua quan điều tra tiến hành điều tra (thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiệm trọng quy định tại khoản 1 Điều 172 Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015), nên nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong giai đoạn này là rất lớn, Viện kiểm sát phải kiểm sát về thẩm quyền điều tra,về thời hạn điều tra, các biện pháp tố tụng được áp dụng, trình tự thủ tục áp dụng đảm bảo vụ án được khởi tố, điều tra đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Tuy nhiên, việc điều tra trong thời hạn 01 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng, cho thấy đã đủ điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn được quy định tại Điều 456 Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bên cạnh đó, tại khoản 1 Điều 457 quy định trong thời hạn 24 giờ kể từ khi vụ án có đủ điều kiện quy định tại Điều 456 của Bộ luật này, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án “phải” ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn. Vậy khi này, vụ án đã đủ điều kiện phải áp dụng thủ tục rút gọn nhưng thẩm quyền áp dụng lại không thuộc về cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát cũng không thể yêu cầu các cơ quan này áp dụng thủ tục rút gọn khi nhận thấy vụ án đã đủ điều kiện, mà chỉ có thể đợi hồ sơ vụ án đã được chuyển sang Viện kiểm sát để áp dụng thủ tục rút gọn từ giai đoạn truy tố, việc quy định trên có thể thấy sự chưa hợp lý trong các quy định của pháp luật, nhất là việc áp dụng thủ tục rút gọn đối với các vụ án gọn, nhẹ là yêu cầu cần thiết đặt ra, nhằm rút ngắn thời gian tố tụng, tiết kiệm được thời gian cũng như chi phí nhà nước phải bỏ ra.

Bên cạnh đó, một số điều luật khác chưa thực sự thể hiện được mối quan hệ phối hợp trong điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đối với viện kiểm sát như quy định tại các Điều 178, 179, 183, 187, 201, 206; 449… Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Từ những phân tích nên trên, tác giả bài viết cho rằng trong thời gian tới, trong khi thực hiện Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015, liên ngành tư pháp trung ương sớm ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện và ký kết các quy chế phối hợp trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ phối hợp trong công tác giữa Viện kiểm sát và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự để có sự áp dụng thống nhất./.

Phạm Tuân

Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: