Thứ sáu 01/05/2026 05:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội của Luật Thủ đô năm 2024

Luật Thủ đô năm 2024 được thông qua gồm 07 Chương với 54 Điều nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng, phát triển, quản lý, bảo vệ Thủ đô tại các Nghị quyết của Bộ Chính trị, đặc biệt là Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 05/5/2022 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó xác định, xây dựng Thủ đô Hà Nội “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại”.

Thủ đô là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, nơi đặt trụ sở của các cơ quan Trung ương của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế. Thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Hà Nội - thành phố trực thuộc Trung ương, đô thị loại đặc biệt, là trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế của cả nước. Chính vì lý do đó, Luật Thủ đô (sửa đổi) đã quy định một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội so với pháp luật hiện hành, tạo thuận lợi cho Thủ đô phát triển, khai thác tốt các thế mạnh đúng với nội dung mà Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 05/5/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định: “Xây dựng một số cơ chế, chính sách đặc thù và phân cấp cho chính quyền Thủ đô Hà Nội thẩm quyền, trách nhiệm giải quyết công việc phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ đặc thù của Thủ đô, trọng tâm là các lĩnh vực đầu tư, tài chính, quy hoạch, đất đai, quản lý trật tự xây dựng, giao thông, môi trường, dân cư, tổ chức bộ máy, biên chế…”. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2025, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 54 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025.

Về nguyên tắc áp dụng, Luật Thủ đô (sửa đổi) đã khắc phục một số tồn tại của Luật Thủ đô năm 2012 như không có nguyên tắc áp dụng pháp luật làm cho những điều khoản của Luật Thủ đô không còn giá trị riêng có, bị các luật ban hành sau vô hiệu theo nguyên tắc áp dụng pháp luật. Thay vào đó, Luật Thủ đô (sửa đổi) đã có 01 điều riêng quy định về nguyên tắc áp dụng Luật Thủ đô.

Về tổ chức chính quyền ở Hà Nội, Luật Thủ đô (sửa đổi) đã bảo đảm tổ chức chính quyền Thủ đô theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Cụ thể, Luật quy định chính quyền địa phương ở thành phố Hà Nội, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc thành phố, xã, thị trấn là cấp chính quyền địa phương gồm Hội đồng nhân dân Ủy ban nhân dân; chính quyền địa phương ở phường tại Hà Nội là Ủy ban nhân dân phường. Như vậy, Luật đã cụ thể hóa quy định không tổ chức Hội đồng nhân dân cấp phường được quy định trong Nghị quyết số 97/2019/QH14 ngày 27/11/2019 của Quốc hội về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội.

Theo quy định của Luật, thành phố Hà Nội được bầu 125 đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố, trong đó có ít nhất là 25% tổng số đại biểu hoạt động chuyên trách (tăng 30 đại biểu so với hiện tại). Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội hoạt động chuyên trách có không quá 11 thành viên gồm Chủ tịch, không quá 03 Phó Chủ tịch (tăng 01 Phó Chủ tịch và 04 thành viên Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố). Nếu theo quy định này thì nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân thành phố sẽ phải tăng thêm trên 80 nội dung. Do đó, việc tăng số lượng đại biểu chuyên trách sẽ đồng nghĩa với việc tăng thêm sức mạnh cho bộ máy để không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả, chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp, bảo đảm thực chất và đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới.

Luật Thủ đô (sửa đổi) cũng phân quyền trực tiếp cho Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố khi quy định trong thời gian Hội đồng nhân dân thành phố không họp, Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố quyết định một số nội dung và báo cáo Hội đồng nhân dân thành phố tại kỳ họp gần nhất. Quy định này sẽ giúp bảo đảm tính cấp thiết, kịp thời trong quá trình quản lý, điều hành tại Thủ đô.

Đối với Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Luật Thủ đô (sửa đổi) đã phân cấp cho chính quyền thành phố quyết định thành lập mới đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý; Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân các cấp được phân cấp hoặc ủy quyền thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định. Để bảo đảm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực trong việc thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp, ủy quyền, tránh lạm dụng, ủy quyền tràn lan, Luật giao Hội đồng nhân dân thành phố quy định chi tiết phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được ủy quyền. Bên cạnh đó, giao Ủy ban nhân dân thành phố quy định việc điều chỉnh hồ sơ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền phù hợp với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp, ủy quyền; giao Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp của thành phố và các tổ chức thành viên giám sát việc thực hiện các nội dung được phân cấp, ủy quyền theo quy định của Luật.

Nhằm ưu tiên các nguồn lực phát triển Thủ đô, Luật Thủ đô năm 2024 đã quy định một số cơ chế, chính sách đặc thù như:

- Quy định tập trung nguồn lực, ưu tiên tổ chức thực hiện quy hoạch phân khu sông Hồng và sông Đuống phù hợp với quy hoạch Thủ đô và quy hoạch chung Thủ đô. Thành phố Hà Nội được xây dựng trung tâm công nghiệp văn hóa tại bãi sông, bãi nổi sông Hồng và khu vực khác có lợi thế về vị trí không gian văn hóa phù hợp với quy hoạch.

- Đối với Khu công nghệ cao Hòa Lạc, bên cạnh những cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư cao nhất theo quy định, Luật cũng quy định ưu tiên đầu tư hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật; cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ cao và kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển khoa học và công nghệ trong Khu công nghệ cao Hòa Lạc; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; xây dựng nhà lưu trú phù hợp với quy hoạch để bố trí cho người lao động làm việc tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc thuê trong thời gian làm việc.

- Cho phép đầu tư phát triển đường sắt đô thị tại Hà Nội được ưu tiên áp dụng mô hình TOD, bảo đảm hiện đại, đồng bộ, bền vững; trong khu vực TOD, thành phố được thu và sử dụng 100% tiền thu đối với một số khoản thu để tái đầu tư xây dựng đường sắt đô thị, hệ thống giao thông công cộng, hạ tầng kỹ thuật kết nối với hệ thống vận tải hành khách công cộng.

Bên cạnh đó, Luật Thủ đô năm 2024 xác định, Nhà nước ưu tiên đầu tư, thu hút các nguồn lực nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh của Thủ đô để xây dựng, phát triển, quản lý và bảo vệ Thủ đô. Trong đó, trường hợp ngân sách trung ương tăng thu so với dự toán các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương với ngân sách thành phố Hà Nội, ngân sách trung ương trích 30% của số tăng thu để thưởng cho ngân sách thành phố. Ngân sách thành phố Hà Nội được hưởng 100% số thu tăng thêm từ các khoản thu do việc điều chỉnh chính sách phí, lệ phí để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và chi hoạt động kinh tế, khoa học và công nghệ, giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao và phúc lợi xã hội thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách thành phố.

Thành phố Hà Nội được thí điểm thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm có sử dụng ngân sách nhà nước để đầu tư vốn vào các doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong các lĩnh vực trọng điểm về khoa học, công nghệ của thành phố nhằm hỗ trợ, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo và thương mại hóa sản phẩm khoa, học công nghệ.

Theo Điều 33 Luật Thủ đô năm 2024 quy định, Hội đồng nhân dân thành phố được quy định mức tiền phạt cao hơn nhưng không quá 02 lần mức tiền phạt chung do Chính phủ quy định trong lĩnh vực văn hóa, quảng cáo, đất đai, xây dựng, phòng cháy, chữa cháy, an toàn thực phẩm, giao thông đường bộ, bảo vệ môi trường, an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Trong trường hợp thật cần thiết, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp được áp dụng biện pháp yêu cầu ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước đối với công trình xây dựng sai quy hoạch, xây dựng không có giấy phép hoặc sai giấy phép xây dựng; công trình xây dựng sai với thiết kế xây dựng được phê duyệt.

- Luật cũng quy định các chính sách về tuyển dụng, quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức; thu hút, trọng dụng người có tài năng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; phát triển văn hóa, thể thao, du lịch; phát triển khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số…

Với phạm vi điều chỉnh khá toàn diện, Luật Thủ đô năm 2024 được kỳ vọng sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật và bảo đảm thực thi pháp luật đồng bộ, thống nhất, hiệu lực, hiệu quả với các cơ chế, chính sách ưu tiên, vượt trội để phát triển Thủ đô./.

Hồng Hạnh

Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật - Bộ Tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng môi trường kinh doanh bất động sản thông thoáng, minh bạch, an toàn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân

Xây dựng môi trường kinh doanh bất động sản thông thoáng, minh bạch, an toàn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân

Chính sách xây dựng Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) tập trung hoàn thiện các quy định hiện hành liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản; làm rõ quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia thị trường; đồng thời tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý

Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý

Chiều ngày 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý. Kết quả biểu quyết có 494/494 đại biểu Quốc hội có mặt tham gia biểu quyết tán thành với việc thông qua Luật này, chiếm tỷ lệ 100% số đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết và chiếm 98,80% tổng số đại biểu Quốc hội.
Quốc hội thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) với tỷ lệ 98,40%

Quốc hội thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) với tỷ lệ 98,40%

Tiếp tục Kỳ họp thứ Nhất, chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội khóa XVI biểu quyết thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả biểu quyết cho thấy, có 492/493 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành thông qua luật này (chiếm tỷ lệ 98,04% số ĐBQH).
Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng

Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI, chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, các đại biểu tiến hành biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Quốc hội thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60%

Quốc hội thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60%

Chiều ngày 23/4, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, với sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, các đại biểu Quốc hội đã tiến hành biểu quyết thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60% tán thành.
Bảo đảm chính sách ưu tiên đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Bảo đảm chính sách ưu tiên đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Các chính sách của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) được xây dựng nhằm giải quyết các hạn chế, khó khăn, vướng mắc do quy định của Luật năm 2012; đồng thời đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đa dạng phương thức, truyền thông chính sách ngay từ khi soạn thảo.
Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với 492/492 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (đạt tỷ lệ 100%).
Thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất để quản lý viên chức theo vị trí việc làm

Thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất để quản lý viên chức theo vị trí việc làm

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, chiều ngày 22/4/2026, Bộ Tư pháp tổ chức cuộc họp Hội đồng thẩm định đối với dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định về vị trí việc làm (dự thảo Nghị định). Đồng chí Nguyễn Thị Hạnh, Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp chủ trì cuộc họp. Tham dự cuộc họp có đồng chí Trương Hải Long, Thứ trưởng Bộ Nội vụ và các thành viên Hội đồng thẩm định gồm đại diện các bộ Công an, Quốc phòng, Tài chính, Ngoại giao, Khoa học và Công nghệ, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Y tế, Giáo dục và Đào tạo; Sở Nội vụ thành phố Hà Nội và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định quan trọng, góp phần bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Bài viết phân tích các rào cản pháp lý và thực tiễn trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam, thông qua phân tích, so sánh giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù khuôn khổ pháp lý đã bước đầu được thiết lập, nhưng tồn tại một số hạn chế liên quan đến phạm vi thông tin, chủ thể cung cấp, cơ chế phân loại thông tin, phương thức cung cấp và giám sát thực thi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.
Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam đang định hình ranh giới giữa minh bạch thông tin và quyền riêng tư với việc ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, cùng dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (dự thảo Luật). Điều này dẫn đến nguy cơ xung đột giữa quyền được biết của công chúng với quyền riêng tư của cá nhân. Bài viết làm rõ về bản chất pháp lý giữa khái niệm “thông tin” và “dữ liệu cá nhân”, đồng thời, đánh giá quy định tại dự thảo Luật, đặc biệt là cơ chế “tiếp cận có điều kiện” đối với thông tin liên quan đến đời tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân và so sánh với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam thông qua giới hạn ngoại lệ, xây dựng quy trình đánh giá lợi ích công và biện pháp hài hòa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 trong kỷ nguyên số.
Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Chế định cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp là cơ chế pháp lý quan trọng để bảo đảm thực thi quyền tiếp cận thông tin. Nghiên cứu phân tích nội dung chế định này theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, chỉ ra một số hạn chế trong quá trình triển khai thi hành, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Thụy Điển và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định trong dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) ở Việt Nam.
Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin, đặc biệt là thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ trở thành chuẩn mực quan trọng của quản trị dân chủ và Nhà nước pháp quyền trên thế giới. Nội dung và cũng là yêu cầu cốt lõi trong bảo đảm quyền này là cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp, bên cạnh nghĩa vụ chủ động công bố thông tin của các cơ quan công quyền. Nghiên cứu phân tích quy định về cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới và theo Luật mẫu của ARTICLE 19, làm rõ những ưu điểm về bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cơ chế cung cấp thông tin hiệu quả theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp không chỉ gồm quy định về chủ thể có quyền và trách nhiệm, mà còn gắn với các yếu tố như cơ chế giám sát độc lập, chuẩn hóa quy trình xử lý yêu cầu và ứng dụng công nghệ số trong quản lý, cung cấp thông tin. Trên cơ sở đó, nghiên cứu, đề xuất Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc một số kinh nghiệm có giá trị trong việc hoàn thiện khung pháp luật về cung cấp thông tin theo yêu cầu, đặc biệt, trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, thúc đẩy quản trị minh bạch và phát triển Chính phủ số.
Đại biểu Quốc hội: Tăng lương ở mức nào vừa bảo đảm đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách?

Đại biểu Quốc hội: Tăng lương ở mức nào vừa bảo đảm đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách?

Tiếp tục Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 21/4, Quốc hội thảo luận tại hội trường, về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước năm 2025; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2026. Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng điều hành Phiên họp.

Theo dõi chúng tôi trên: