Thứ ba 10/03/2026 08:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số sửa đổi về pháp luật bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu để đáp ứng yêu cầu của Hiệp định CPTPP

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2019 có những sửa đổi cơ bản đối với quy định về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, vừa nhằm phù hợp với các quy định của Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Hiệp định CPTPP), vừa khắc phục được một số hạn chế của Luật Sở hữu trí tuệ như: Công nhận việc sử dụng nhãn hiệu của người nhận chuyển nhượng nhãn hiệu cũng chính là hành vi sử dụng nhãn hiệu của chủ sở hữu; thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu trước bên thứ ba không căn cứ vào việc đăng ký hay không đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ; quy định về nộp hồ sơ trực tuyến…

Tuy nhiên, pháp luật sở hữu trí tuệ vẫn còn những quy định đã được sửa đổi nhưng chưa hợp lý hoặc mặc dù đã có quy định nhưng chưa rõ ràng cần tiếp tục được điều chỉnh. Trong phạm vi bài viết, tác giả nêu lên những quy định pháp luật sở hữu trí tuệ đã được sửa đổi để phù hợp với Hiệp định CPTPP, đồng thời đưa ra một số quy định cần tiếp tục được điều chỉnh như mở rộng phạm vi đối tượng được bảo hộ là nhãn hiệu; tiêu chí bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng.

Với vai trò quan trọng của việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu (bảo hộ nhãn hiệu), trong Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Hiệp định CPTPP), các quốc gia thành viên cũng đã có những thỏa thuận về vấn đề này. So với Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPs) thì quy định của Hiệp định CPTPP về bảo hộ nhãn hiệu có phạm vi điều chỉnh rộng hơn, có nhiều cam kết cao hơn, đặt ra những thách thức lớn đối với cả Việt Nam và các quốc gia thành viên khác. Ngay sau khi Hiệp định CPTPP có hiệu lực, Việt Nam đã tiến hành sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ, trong đó, có sửa đổi những quy định liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu. Sau một năm thi hành các quy định đó trên thực tế, vấn đề bảo hộ nhãn hiệu có những thay đổi tích cực. Tuy nhiên, cũng có những quy định đã được sửa đổi nhưng chưa hợp lý, vượt xa trần cam kết gây bất lợi cho doanh nghiệp hoặc có những quy định chưa rõ ràng cần tiếp tục được điều chỉnh. Đồng thời, chúng ta cũng đang nỗ lực để nội luật hóa những cam kết còn lại của CPTPP trong bối cảnh cùng lúc phải thực hiện cam kết trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới khác.

1. Những quy định đã được sửa đổi để phù hợp với Hiệp định CPTPP

Trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2019 (Luật sửa đổi năm 2019) có những sửa đổi cơ bản đối với quy định về bảo hộ nhãn hiệu, vừa nhằm phù hợp với các quy định của Hiệp định CPTPP, vừa khắc phục được một số hạn chế của Luật Sở hữu trí tuệ.

Một là, pháp luật công nhận việc sử dụng nhãn hiệu của người nhận chuyển nhượng nhãn hiệu cũng chính là hành vi sử dụng nhãn hiệu của chủ sở hữu

Hiện nay, ở Việt Nam, có tình trạng một số lượng lớn nhãn hiệu đăng ký nhưng chưa được nhìn thấy trên thị trường, điều này có thể được lý giải bằng nhiều lý do, chẳng hạn như một số chủ thể muốn đăng ký nhãn hiệu để đầu cơ, để ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh khác, để giữ chỗ cho một dự án đầu tư vào Việt Nam mà khả năng kiếm lợi nhuận có thể chưa thực sự rõ ràng, chủ sở hữu đã bị phá sản, không còn tồn tại hoặc thu hẹp thị trường...

Chủ sở hữu nhãn hiệu có nghĩa vụ phải sử dụng nhãn hiệu mà mình được bảo hộ không gián đoạn quá năm năm. Trong trường hợp ngược lại, bất kỳ người nào cũng có quyền yêu cầu Cục Sở hữu trí tuệ đình chỉ hiệu lực văn bằng bảo hộ. Điều này nhằm hạn chế tình trạng một số chủ thể chỉ đăng ký nhãn hiệu mà không sử dụng chúng, sau đó, dùng văn bằng bảo hộ bán lại cho những người có nhu cầu sử dụng nhãn hiệu. Việc quy định nghĩa vụ sử dụng nhãn hiệu được áp dụng ở hầu hết các nước, nhằm tập trung vào mục tiêu tối hậu của việc bảo hộ nhãn hiệu là bảo hộ uy tín sáng tạo của các chủ thể.

Trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Luật năm 2005), khoản 2 Điều 136 quy định, chủ sở hữu nhãn hiệu có nghĩa vụ sử dụng nhãn hiệu một cách liên tục, nếu nhãn hiệu không được sử dụng liên tục trong năm năm trở lên thì quyền sở hữu nhãn hiệu bị chấm dứt hiệu lực. Như vậy, khoản 2 Điều 136 này chỉ đề cập đến việc chủ sở hữu phải là người trực tiếp sử dụng nhãn hiệu, trong khi đó, tại điểm d khoản 1 Điều 95 Luật năm 2005 quy định việc chấm dứt hiệu lực của văn bằng bảo hộ như sau: “Nhãn hiệu không được chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu cho phép sử dụng trong thời hạn năm năm liên tục trước ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực mà không có lý do chính đáng, trừ trường hợp việc sử dụng được bắt đầu hoặc bắt đầu lại trước ít nhất ba tháng tính đến ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực”. Quy định trong điểm d khoản 1 Điều 95 Luật năm 2005 là hợp lý và rõ ràng hơn, phù hợp với logic của quy định tiếp theo tại khoản 1 Điều 143 Luật năm 2005 về chuyển quyền sử dụng độc quyền đối với đối tượng sở hữu công nghiệp mà không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của văn bằng bảo hộ.

Bên cạnh đó, Điều 18.27 Hiệp định CPTPP cũng quy định: “Không bên nào được yêu cầu ghi nhận hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu: (a) Nhằm thiết lập hiệu lực của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng; hoặc (b) Như là điều kiện để việc sử dụng nhãn hiệu bởi người nhận chuyển giao quyền sử dụng được xem như là sử dụng bởi người nắm quyền trong thủ tục liên quan tới việc xác lập, duy trì và thực thi nhãn hiệu”[1].

Từ đó, khoản 2 Điều 136 Luật năm 2005 được sửa đổi trong Luật sửa đổi năm 2019 như sau: “Chủ sở hữu nhãn hiệu có nghĩa vụ sử dụng liên tục nhãn hiệu. Việc sử dụng nhãn hiệu bởi bên nhận chuyển quyền theo hợp đồng sử dụng nhãn hiệu cũng được coi là hành vi sử dụng nhãn hiệu của chủ sở hữu nhãn hiệu. Trong trường hợp nhãn hiệu không được sử dụng liên tục từ năm năm trở lên thì Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đó bị chấm dứt hiệu lực theo quy định tại Điều 95 của Luật này”.

Hai là, thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu trước bên thứ ba không căn cứ vào việc đăng ký hay không đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ

Việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu chiếm vị trí đặc biệt trong các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ. Vì chủ sở hữu nhãn hiệu được độc quyền cho/không cho người khác sử dụng nhãn hiệu, nên việc sử dụng nhãn hiệu phải được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu. Hoạt động chuyển giao này vừa mang lại lợi ích cho bên chuyển giao, vừa mang lại lợi ích cho bên nhận chuyển giao. Đối với doanh nghiệp tạo lập nhãn hiệu thì cách tốt nhất để họ mở rộng mạng lưới kinh doanh, quảng bá sản phẩm là chuyển giao nhãn hiệu cho người khác cùng sử dụng, đặc biệt đối với việc mở rộng thị trường ra nước ngoài. Đồng thời, thông qua việc chuyển giao, họ sẽ nhận được một khoản phí không nhỏ từ việc chuyển giao đó. Đối với doanh nghiệp nhận chuyển giao, thay vì mất một thời gian dài tự xây dựng nhãn hiệu cho mình, việc nhận chuyển giao này giúp họ “đi tắt” trên cơ sở danh tiếng của các nhãn hiệu nổi tiếng.

Nhãn hiệu là tài sản dễ chuyển nhượng nhưng rất khó xác định, khó đánh giá và khó bảo vệ. Nếu không kiểm soát, các bên có thể khai giá của giao dịch quá cao nhằm chuyển vốn ra nước ngoài, hoặc tránh thuế. Tuy nhiên, việc kiểm soát giao dịch thông qua cơ chế đăng ký đôi khi gây ra hậu quả bất lợi như sẽ bị mất lợi thế cạnh tranh với các nước khác.

Chuyển quyền sử dụng đối với đối tượng sở hữu công nghiệp được quy định tại Điều 141 Luật năm 2005. Trong các văn bản pháp luật của nhiều nước trên thế giới và của nước ta trước đây, hoạt động này được gọi là li-xăng. Đây chỉ là việc “cho phép” sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp chứ không phải là “bán đứt” quyền sở hữu công nghiệp.

Khoản 2 Điều 148 Luật năm 2005 quy định: “...Hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp có hiệu lực theo thỏa thuận giữa các bên, nhưng chỉ có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba khi đã được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp”. Theo đó, chủ sở hữu có thể chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu cho người khác mà không cần đăng ký thì quyền giữa họ vẫn phát sinh, tuy nhiên, khi có tranh chấp thì quy định “cứng” không có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba.

Ở một số quốc gia khác, pháp luật không yêu cầu phải đăng ký khi ký hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, tiêu biểu như trong pháp luật bảo hộ nhãn hiệu của Anh. Đạo Luật Nhãn hiệu năm 1994 (thay thế Đạo Luật nhãn hiệu năm 1938) của Anh duy trì quy định về việc đăng ký hợp đồng li-xăng nhãn hiệu nhưng việc đăng ký này với mục đích lại hoàn toàn khác nhau. Đạo luật Nhãn hiệu năm 1994 đã loại bỏ các điều khoản về việc đăng ký người sử dụng nhãn hiệu mà thay vào đó là duy trì một mẫu đăng ký li-xăng nhãn hiệu với mục đích để minh bạch hóa các chi tiết cơ bản của việc li-xăng nhãn hiệu. Cụ thể: Mục đích của việc đăng ký hợp đồng li-xăng nhãn hiệu là thông báo với bên thứ ba biết về sự tồn tại của việc li-xăng nhãn hiệu này và cung cấp những quyền hạn cho người nhận li-xăng khi bị xâm phạm quyền[2].

Theo Điều 18.27 Hiệp định CPTPP thì không một quốc gia thành viên nào có thể yêu cầu đăng ký cấp phép sử dụng nhãn hiệu để thiết lập hiệu lực của việc cấp phép đó. Để tuân thủ Điều 18.27 Hiệp định CPTPP, Điều 148 Luật năm 2005 được sửa đổi trong Luật sửa đổi năm 2019, cụ thể là: “… 2. Đối với các loại quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở đăng ký theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 6 của Luật này, hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp có hiệu lực theo thỏa thuận giữa các bên. 3. Hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp tại khoản 2 Điều này, trừ hợp đồng sử dụng nhãn hiệu, phải đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp mới có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba”.

Mặc dù điều này đang hướng đến sự đơn giản hóa trong thủ tục hành chính, tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong các giao dịch, tuy nhiên, cùng với đó thì vấn đề đảm bảo ghi nhận bằng chứng người được chuyển giao đang sử dụng là cần thiết và doanh nghiệp phải biết để tránh thiệt hại, rủi ro. Do việc chuyển giao giữa hai chủ thể không đăng ký nên các doanh nghiệp phải kiểm soát cẩn thận nội dung trong hợp đồng chuyển giao, bởi thực tế cho thấy, đôi khi các doanh nghiệp đưa vào những điều khoản bất lợi cho chính mình.

Ba là, quy định về nộp hồ sơ trực tuyến

Việt Nam đã và đang từng bước gia nhập thị trường kinh tế thế giới, trong nền kinh tế hội nhập, chúng ta không thể phủ nhận vai trò của thế giới số, các thiết bị thông minh… Chính vì vậy, các dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ online cần được phát triển là điều tất yếu, tạo ra tính minh bạch và nhanh chóng, tiện lợi cho các tổ chức, cá nhân cũng như phía cơ quan quản lý nhà nước.

Đối với việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung cũng như bảo hộ nhãn hiệu nói riêng cũng không ngoại lệ. Yêu cầu này càng cấp thiết khi Hiệp định CPTPP yêu cầu các nước thành viên phải thiết lập một hệ thống điện tử trực tuyến để nộp đơn, gia hạn hiệu lực nhãn hiệu và một hệ thống thông tin điện tử mở để có thể truy cập công cộng, tra cứu nhãn hiệu trực tuyến (Điều 18.24).

Từ trước khi Hiệp định CPTPP có hiệu lực đối với Việt Nam, Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử (Nghị quyết số 36a/NQ-CP) đã có đề cập đến vấn đề xây dựng hệ thống thông tin quản lý đề tài, dự án khoa học, công nghệ trên mạng điện tử và thực hiện đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp qua mạng điện tử, cụ thể là thủ tục đăng ký nhãn hiệu online hay còn gọi là đăng ký nhãn hiệu trực tuyến. Trên thực tế, trong khuôn khổ thực hiện Nghị quyết số 36a/NQ-CP về cải cách hành chính, Cục Sở hữu trí tuệ đã xây dựng hệ thống nộp đơn điện tử trực tuyến đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp, trong đó có nhãn hiệu và hệ thống này đã hoạt động từ năm 2017. Bên cạnh đó, ngày 24/9/2018, Việt Nam đã có những thỏa thuận hợp tác với Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO). Trong đó, WIPO sẽ cung cấp miễn phí và hỗ trợ triển khai phần mềm WIPO IPAS tại Cục Sở hữu trí tuệ. Bên cạnh đó, các chuyên gia của WIPO sẽ hỗ trợ Cục Sở hữu trí tuệ xây dựng một trang thư viện điện tử mới, đó là hệ thống “Thư viện số về sở hữu công nghiệp” trên nền tảng WIPO Publish. Thư viện này sẽ giúp người dùng có thể tra cứu đầy đủ các thông tin về các đối tượng sở hữu công nghiệp đã được công bố với tần suất cập nhật thông tin theo chu kỳ công bố 01 lần/01 tháng.

Như vậy, cho đến trước thời điểm Hiệp định CPTPP có hiệu lực, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống điện tử phục vụ cho việc nộp đơn và tra cứu nhãn hiệu, nhưng hệ thống này còn chưa được hoàn thiện và vẫn cần được tiếp tục nâng cấp để đáp ứng nhu cầu về tra cứu nhãn hiệu, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu ngày càng tăng.

Tuy nhiên, để đảm bảo về mặt pháp lý cho việc đăng ký nhãn hiệu trực tuyến, Luật Sở hữu trí tuệ vẫn được sửa đổi theo đúng yêu cầu trong cam kết CPTPP. Theo đó, khoản 3 mới được bổ sung vào Điều 89 Luật sửa đổi năm 2019 bao gồm cả các đơn đăng ký xác lập tất cả các loại quyền sở hữu công nghiệp: “3. Đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp được nộp dưới hình thức văn bản ở dạng giấy cho cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp hoặc dạng điện tử theo hệ thống nộp đơn trực tuyến”.

Như vậy, hiện nay, các chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền lựa chọn phương thức nộp đơn sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh. Quy định này thực sự phù hợp với bối cảnh công nghệ số ngày càng phát triển, đồng thời, tạo thuận lợi cho các chủ sở hữu nhãn hiệu khi họ tiến hành nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ.

2. Những quy định cần tiếp tục sửa đổi

2.1. Mở rộng phạm vi đối tượng được bảo hộ là nhãn hiệu

Chế độ bảo hộ nhãn hiệu khác biệt giữa các quốc gia gây ảnh hưởng không nhỏ tới quyền và lợi ích của các chủ sở hữu nhãn hiệu trong hoạt động kinh doanh quốc tế, đặc biệt vấn đề nổi cộm hiện nay là xác định các dấu hiệu được bảo hộ là nhãn hiệu. Bên cạnh nhãn hiệu hình là nhãn hiệu truyền thống được bảo hộ, ở mỗi quốc gia khác nhau có thể có quy định về việc bảo hộ các nhãn hiệu phi truyền thống như mùi hương, âm thanh… Trên thế giới, bên cạnh loại nhãn hiệu truyền thống là dấu hiệu nhìn thấy được, pháp luật một số quốc gia còn bảo hộ cả các nhãn hiệu là âm thanh như tiết nhạc mà con người có thể nhận biết thông qua “thính giác”, hoặc các dấu hiệu mùi hương mà con người có thể nhận biết thông qua “khứu giác”, hay nhãn hiệu chỉ đơn thuần được thể hiện thông qua một mầu sắc nhất định… Các nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Anh, Nhật… đã sử dụng và bảo hộ phổ biến các loại nhãn hiệu phi truyền thống này. Bởi vậy, các chủ sở hữu của các nhãn hiệu này khi tiến hành lưu thông hàng hóa sản phẩm của mình sang các quốc gia khác cũng mong muốn các dấu hiệu đó được bảo hộ là nhãn hiệu ở các nước đó.

Theo tinh thần của Hiệp định TRIPs, pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam hiện nay mới chỉ dừng lại ở việc bảo hộ các dấu hiệu truyền thống là nhãn hiệu. Cụ thể, theo quy định tại khoản 1 Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (được sửa đổi năm 2009, năm 2019), dấu hiệu được đăng ký là nhãn hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc. Pháp luật Việt Nam chỉ bảo hộ những dấu hiệu có thể nhận biết được bằng thị giác.

Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 18.18 Hiệp định CPTPP thì không bên nào được yêu cầu nhãn hiệu phải là dạng nhìn thấy được mới được nộp đơn xin bảo hộ, cũng như cơ quan có thẩm quyền cũng không được từ chối đơn đăng ký chỉ vì nhãn hiệu xin đăng ký dưới dạng âm thanh; ngoài ra, mỗi quốc gia thành viên đều có trách nhiệm nỗ lực để tiến hành mở đăng ký cho các nhãn hiệu mùi hương.

Như vậy, Hiệp định CPTPP có hiệu lực đã đặt ra cho các quốc gia thành viên nhiệm vụ phải nhanh chóng thiết lập cơ chế bảo hộ đối với các nhãn hiệu phi truyền thống mà trước hết là nhãn hiệu âm thanh. Hiện nay, đã có 09 quốc gia trong số 11 quốc gia thành viên của Hiệp định CPTPP có quy định rõ ràng về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh trong luật của mình và 05 quốc gia thành viên chấp thuận bảo hộ nhãn hiệu mùi hương, chỉ còn Việt Nam và Malaysia chưa chấp thuận bảo hộ “dấu hiệu không nhìn thấy được” là nhãn hiệu bao gồm cả nhãn hiệu là âm thanh và mùi hương. Bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống là một nội dung mới cho pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam. Theo cam kết, Việt Nam sẽ phải điều chỉnh các quy định để bảo hộ nhãn hiệu âm thanh trong thời hạn 03 năm kể từ ngày Hiệp định CPTPP có hiệu lực. Sự thay đổi này có thể sẽ dẫn đến thay đổi căn bản toàn bộ cơ chế đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam. Việc bảo hộ nhãn hiệu âm thanh, mùi hương sẽ giúp doanh nghiệp yên tâm hơn, thỏa sức sáng tạo với những ý tưởng của mình. Tuy nhiên, đây cũng là thách thức cho các cơ quan quản lý và thực thi sở hữu trí tuệ cũng như các doanh nghiệp Việt Nam khi chưa có nhiều kiến thức và kinh nghiệm về loại nhãn hiệu mới này.

Với kinh nghiệm bảo hộ của nhiều quốc gia khác và cả các quốc gia thành viên CPTPP, Việt Nam có thể thừa hưởng kinh nghiệm lập pháp cũng như thực tiễn bảo hộ từ các quốc gia này để xây dựng một cơ chế bảo hộ riêng cho cả nhãn hiệu âm thanh và mùi hương.

Khi chúng ta thực hiện cam kết bảo hộ nhãn hiệu là âm thanh đồng nghĩa với việc chúng ta phải sửa đổi các quy định về bảo hộ nhãn hiệu. Cụ thể:

- Sửa đổi quy định về việc xác định các dấu hiệu được bảo hộ nhãn hiệu bên cạnh bảo hộ nhãn hiệu là dấu hiệu có thể nhìn thấy được thì còn bảo hộ đối với dấu hiệu không nhìn thấy được. Tác giả kiến nghị sửa đổi khoản 1 Điều 72 về dấu hiệu được đăng ký là nhãn hiệu như sau: “1. Là dấu hiệu nhìn thấy được hoặc dấu hiệu nghe thấy được”; đồng thời, cần có thêm quy định để chỉ rõ thế nào là dấu hiệu âm thanh có thể được bảo hộ.

- Sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 73, Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (được sửa đổi năm 2009, năm 2019) loại trừ các dấu hiệu không nhìn thấy được không được là nhãn hiệu và các trường hợp nhãn hiệu âm thanh bị coi là không có khả năng phân biệt.

2.2. Tiêu chí bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng

Bởi vì giá trị rất lớn của mình mà nhãn hiệu nổi tiếng thường bị xâm phạm dù vô tình hay hữu ý. Do vậy, vấn đề bảo hộ đối với nhãn hiệu nổi tiếng và tạo cho chúng sự bảo hộ đặc biệt đang là vấn đề được quan tâm của nhiều quốc gia từ cuối thế kỷ XIX cho đến nay. Khi trở thành thành viên của Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp và Hiệp định TRIPs, Việt Nam đã tích cực xây dựng các quy định pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng để thực hiện các cam kết trong các điều ước quốc tế này.

Một trong những nội dung quan trọng trong bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng là xác định các tiêu chí đánh giá mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu. Mỗi quốc gia sẽ đưa ra các quy định về tiêu chí này là khác nhau. Tuy nhiên, các tiêu chí này đều hướng đến việc làm rõ mức độ ảnh hưởng của nhãn hiệu đối với người tiêu dùng và nền kinh tế. Trên thế giới, các quốc gia thường dựa trên hai nguyên tắc là nguyên tắc “quyền ưu tiên” (first-to-file) và nguyên tắc “quyền sử dụng” (first-to-use) áp dụng trong việc đăng ký bảo hộ đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp, trong đó, nguyên tắc quyền ưu tiên đăng ký được sử dụng phổ biến hơn. Nhưng đối với nhãn hiệu nổi tiếng, việc bảo hộ không chỉ được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc quyền ưu tiên mà còn dựa trên nguyên tắc quyền sử dụng. Do vậy, nhãn hiệu nổi tiếng có thể được bảo hộ ngay cả khi chúng chưa được đăng ký bởi cơ quan có thẩm quyền.

Ở Việt Nam, sự ra đời của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đánh dấu bước tiến vô cùng quan trọng trong vấn đề bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp nói chung và bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng. Bên cạnh việc đưa ra định nghĩa chính thức về nhãn hiệu nổi tiếng, Luật còn đưa ra những tiêu chí cụ thể, rõ ràng để xác định một nhãn hiệu là nổi tiếng. Đây cũng là hành động cụ thể đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ thành viên của Việt Nam khi ký kết Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp. Pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam cũng tạo cơ chế bảo hộ đặc biệt cho nhãn hiệu nổi tiếng, cũng như nhiều quốc gia khác chấp nhận bảo hộ cho nhãn hiệu nổi tiếng dựa trên nguyên tắc “quyền sử dụng”. Theo khoản 2 Điều 6 Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp (Nghị định số 103/2006/NĐ-CP) thì quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng rộng rãi nhãn hiệu đó theo quy định tại Điều 75 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 mà không cần thực hiện thủ tục đăng ký nhãn hiệu như các nhãn hiệu thông thường. Bên cạnh đó, Điều 75 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đưa ra các tiêu chí để đánh giá mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu, trong đó, tại khoản 6, khoản 7 đề cập đến việc đánh giá mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu thông qua việc xem xét số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu và số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng. Với tư duy số lượng các quốc gia bảo hộ nhãn hiệu càng nhiều thì phạm vi nhãn hiệu được biết đến càng rộng rãi, hay khi nhiều quốc gia công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng thì càng chứng minh việc nhãn hiệu đó có sức ảnh hưởng lớn đối với người tiêu dùng tại quốc gia đó. Tiêu chí này dường như là định lượng tạo ra sự dễ dàng cho các cơ quan có thẩm quyền xác nhận mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu, nhưng nó lại gián tiếp công nhận việc áp dụng nguyên tắc quyền ưu tiên khác với nguyên tắc quyền sử dụng được đề cập trong định nghĩa về nhãn hiệu nổi tiếng trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (khoản 20 Điều 4) và trong Nghị định số 103/2006/NĐ-CP (khoản 2 Điều 6). Theo quan điểm của tác giả, thực tiễn sử dụng vẫn là một tiêu chí quan trọng nhất để một nhãn hiệu được công nhận là một nhãn hiệu nổi tiếng, chính nhờ quá trình sử dụng liên tục mà nhãn hiệu mới được người tiêu dùng biết đến. Ở đây có sự mâu thuẫn giữa quy định tại khoản 6, khoản 7 Điều 75 và tại khoản 20 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, theo đó, khoản 20 Điều 4 chỉ yêu cầu nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam, trong khi tiêu chí đánh giá tại khoản 6, khoản 7 Điều 75 lại nêu số lượng quốc gia.

Nếu luật các quốc gia có quy định việc đăng ký cũng như công nhận của một cơ quan sở hữu trí tuệ là điều kiện để xác lập quyền đối với một nhãn hiệu nổi tiếng thì đó là điều không hợp lý. Bởi vì, việc công nhận hoặc đăng ký sẽ tạo ra một nhãn hiệu bất biến, trái với nguyên tắc sử dụng liên tục của nhãn hiệu nổi tiếng. Trước đây, đã có một số cơ quan sở hữu trí tuệ quốc gia yêu cầu WIPO tiến hành nhận đơn công nhận nhãn hiệu nổi tiếng, nhưng WIPO đã từ chối với lý do nêu trên.

Hiệp định CPTPP (Điều 18.22) cũng có quy định về tiêu chí xác định mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu, theo đó, Hiệp định CPTPP yêu cầu các nước không được lấy tiêu chí số lượng các quốc gia đã bảo hộ nhãn hiệu, đã công nhận nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đã nằm trong danh mục nhãn hiệu nổi tiếng để quyết định bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng. Chính vì vậy, Luật Sở hữu trí tuệ sẽ phải điều chỉnh cho phù hợp. Theo đó, tác giả khuyến nghị nên bỏ quy định tại khoản 6 và khoản 7 Điều 75 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009, năm 2019).

ThS. Nguyễn Thị Nguyệt

Khoa Kinh tế - Luật, Đại học Thương mại Hà Nội



[1]. Theo bản dịch của VCCI đăng tại: http://trungtamwto.vn/FileNode/Download?fileid=18956&filename=18%20Chuong%20So%20huu%20tri%20tue%20-%20VIE.pdf.

[2]. Hoàng Lan Phương (2019), Pháp luật quốc tế về chuyển quyền sử dụng đối với nhãn hiệu và những khuyến nghị cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 2 (388).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: