Thứ tư 06/05/2026 23:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Bộ Tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 27-NQ/TW trong 06 tháng đầu năm 2024

Công tác cán bộ trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ý nghĩa “then chốt của then chốt”. Nguồn nhân lực pháp luật là nhân tố trung tâm, đột phá trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Chất lượng hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án, các cơ quan tư pháp, cơ quan hành chính nhà nước có đảm bảo, hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức pháp luật. Vì vậy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật tức là nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do vậy, yêu cầu đặt ra hiện nay là cần phải tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức xây dựng, thi hành pháp luật các cấp có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ chính trị.

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII của Đảng về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW) cũng đã đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đối với công tác phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, trong đó có nguồn nhân lực pháp luật, cụ thể: “Phát triển nguồn nhân lực pháp luật, hiện đại hóa phương thức, phương tiện xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật. Củng cố, kiện toàn tổ chức pháp chế, tổ chức làm công tác pháp luật; nâng cao năng lực, trình độ, bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng và thi hành pháp luật”. Nghị quyết số 27-NQ/TW đã xác định rõ nhiệm vụ: Tập trung phát triển toàn diện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của nền hành chính quốc gia; nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực tư pháp…

1. Kết quả đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Bộ Tư pháp trong 06 tháng đầu năm 2024

Là một trong những cơ quan thuộc Chính phủ chiếm đa số là nguồn nhân lực pháp luật, Bộ Tư pháp trong 06 tháng đầu năm 2024 tiếp tục tập trung đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức nhằm: Từng bước tiêu chuẩn hóa các chức danh; tăng cường bồi dưỡng kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ theo vị trí việc làm cho các chức danh lãnh đạo, quản lý và công chức hành chính. Từ đó, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp theo tinh thần Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, Nghị định số 89/2021/NĐ-CP ngày 18/10/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP, Quyết định số 163/QĐ-TTg ngày 25/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 - 2025, Quyết định số 1066/QĐ-BTP ngày 11/5/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý trong các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp, Quyết định số 1789/QĐ-BTP ngày 21/8/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc sửa đổi một số phụ lục kèm theo Quyết định số 1066/QĐ-BTP, Quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức, viên chức chuyên sâu về pháp luật của Bộ Tư pháp giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030; Kế hoạch đào tạo bồi dưỡng công chức, viên chức của Bộ Tư pháp giai đoạn 2021 - 2025; Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực ngoại ngữ đối với công chức, viên chức Bộ Tư pháp giai đoạn 2021 - 2025… đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra.

Trong 06 tháng đầu năm 2024, Học viện Tư pháp (đơn vị tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng cho các cán bộ, công chức, viên chức của Bộ Tư pháp) đã tuyển sinh và tổ chức đào tạo cho 2.583 học viên các lớp, đạt tỷ lệ 71,76% chỉ tiêu đăng ký đầu năm. Ngoài thực hiện số lượng tuyển sinh nói trên, từ đầu năm 2024 đến nay Học viện Tư pháp còn tiếp tục đào tạo đối với các khóa/lớp được mở từ năm 2022 và năm 2023 (chưa kết thúc) với số lượng là 9.270 học viên. Trong đó đã xét và cấp chứng chỉ/giấy chứng nhận tốt nghiệp cho 3.412 học viên[1].

Về nội dung đào tạo, bồi dưỡng đã chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kiến thức lý luận chính trị, quốc phòng và an ninh, kỹ năng quản lý nhà nước, quản lý chuyên ngành, chuyên môn, nghiệp vụ; đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp; kiến thức hội nhập quốc tế, ngoại ngữ... theo đúng phương châm và quan điểm của Đảng là “Bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ mọi mặt; bồi dưỡng toàn diện về kỹ năng; định kỳ cập nhật kiến thức mới theo từng nhóm đối tượng”. Chính sách, pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức hiện nay đã cắt giảm tối đa quy định về chứng chỉ không thực sự cần thiết, như: Các ngạch công chức chuyên ngành thống nhất quy định 01 loại chứng chỉ bồi dưỡng đối với công chức giữ ngạch tương ứng; các chức danh nghề nghiệp viên chức trong cùng một chuyên ngành chỉ quy định chung 01 chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành (không chia theo hạng chức danh nghề nghiệp như trước đây), không yêu cầu về chứng chỉ ngoại ngữ, tin học trong quy định về trình độ đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức.

Chính sách, pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức hiện hành cũng quy định rõ đối tượng tham gia học các chương trình bồi dưỡng lý luận chính trị, chương trình bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh theo hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền. Công chức phải hoàn thành chương trình bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước theo tiêu chuẩn ngạch công chức trước khi bổ nhiệm ngạch. Viên chức phải hoàn thành chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành trước khi bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp. Cán bộ, công chức, viên chức tham gia học các chương trình bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu vị trí việc làm theo quy định của cơ quan có thẩm quyền quản lý và theo nhu cầu bản thân, thời gian thực hiện tối thiểu 01 tuần (40 tiết)/năm, tối đa 04 tuần (160 tiết)/năm. Cán bộ, công chức, viên chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng trong nước được cơ quan quản lý, sử dụng bố trí thời gian và kinh phí theo quy định; được tính thời gian đào tạo, bồi dưỡng vào thời gian công tác liên tục; được hưởng các chế độ, phụ cấp theo quy định; được biểu dương, khen thưởng về kết quả xuất sắc trong đào tạo, bồi dưỡng. Cán bộ, công chức, viên chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài được hưởng quyền lợi theo quy định của pháp luật và quy chế của cơ quan, đơn vị. Cán bộ, công chức, viên chức nữ, là người dân tộc thiểu số, ngoài những quyền lợi chung còn được hưởng các quyền lợi theo quy định của pháp luật về bình đẳng giới và công tác dân tộc…

Nhìn chung, công tác đào tạo, bồi dưỡng của Bộ, Ngành Tư pháp trong năm 2024 đã cơ bản đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra. Sau một giai đoạn tập trung vào nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng gắn quy hoạch với bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh, xây dựng đội ngũ công chức, viên chức có bản lĩnh, năng lực nổi trội và triển vọng theo vị trí chuyên môn, lãnh đạo, quản lý thì trong năm 2024, Kế hoạch đã tập trung vào bồi dưỡng các nội dung chuyên môn chuyên sâu. Cơ bản các lớp trong Kế hoạch đã được triển khai thực hiện dù còn nhiều khó khăn. Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng được sử dụng tiết kiệm, đúng quy định của pháp luật.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đào tạo, bồi dưỡng còn một số hạn chế, tồn tại như sau[2]:

Một là, việc tổ chức thực hiện Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng còn chưa bám sát được tiến độ đặt ra; công chức, viên chức đã đăng ký tham gia các lớp bồi dưỡng nhưng đến khi mở lớp lại xin không tham gia hoặc thay đổi người tham gia dẫn đến chất lượng học viên không đạt so với yêu cầu; một số lớp bồi dưỡng còn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu về chất lượng; việc tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên sâu còn gặp nhiều khó khăn do số lượng công chức, viên chức tham gia ít, không đủ để tổ chức lớp;

Hai là, công tác đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu làm việc trong môi trường quốc tế cho Bộ, ngành Tư pháp chưa đạt hiệu quả như mong đợi.

Ba là, kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức, viên chức ở nước ngoài không do các bộ, ngành chủ động mà phụ thuộc vào các Đề án do Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Giáo dục và đào tạo chủ trì nên việc đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức, viên chức khó đảm bảo tính chuyên sâu, đặc thù.

Bốn là, việc tham gia dự tuyển các chương trình học bổng sau đại học, tham gia các chương trình bồi dưỡng chuyên ngành trung hạn, ngắn hạn ở trong và ngoài nước của các công chức, viên chức còn rất hạn chế, chủ yếu đi học bằng nguồn kinh phí học bổng do nước ngoài chi trả. Trong khi đó, vẫn có tình trạng một số công chức, viên chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng chưa nắm rõ các quy định của pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng.

Năm là, công tác phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ còn chưa thực sự hiệu quả, việc đề xuất các nội dung, nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cho công chức, viên chức của đơn vị còn chưa sâu sát, chưa đề xuất được các nội dung cần đào tạo, bồi dưỡng mà còn bị động, phụ thuộc vào Vụ Tổ chức cán bộ và Học viện Tư pháp.

Sáu là, việc đánh giá sau đào tạo chưa thường xuyên, liên tục; việc đánh giá kết quả bồi dưỡng bắt buộc hàng năm của công chức, viên chức theo khoản 4 Điều 15 Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức (viết tắt là Nghị định số 101/2017/NĐ-CP) còn hạn chế, chưa có chế tài đủ mạnh, đặc biệt chưa có nguyên tắc, bộ công cụ để đánh giá mức độ ứng dụng kết quả học tập trong thực tế tại cơ quan, đơn vị.

2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức Bộ Tư pháp trong thời gian tới

Để nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức viên chức Bộ Tư pháp trong 06 tháng cuối năm và những năm tiếp theo cần áp dụng đồng loạt nhiều giải pháp, cụ thể[3]:

Thứ nhất, tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ đã được đặt ra trong các văn kiện của Đảng về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Trên cơ sở các văn kiện của Đảng, các cơ quan, đơn vị cần quán triệt thực hiện nghiêm túc, trọng tâm là tăng cường đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao làm công tác pháp luật, ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn nội dung này.

Thứ hai, tiếp tục đổi mới căn bản nội dung, chương trình, tài liệu, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và nghiên cứu áp dụng các chuẩn mực quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng, đồng thời tăng cường hợp tác với các nước trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Sớm hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng cho phù hợp với cơ chế tự chủ và hội nhập quốc tế theo hướng minh bạch, công khai và cụ thể nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người học. Đồng thời, có cơ chế giám sát việc chấp hành của các cơ quan, đơn vị nhà nước nhằm khuyến khích, động viên và công nhận trình độ, năng lực của cán bộ, công chức, viên chức cũng như người lao động khi tự túc kinh phí đi học tập nâng cao trình độ chuyên môn.

Thứ ba, cắt giảm các chứng chỉ bồi dưỡng không cần thiết, không gắn với tiêu chuẩn, điều kiện và yêu cầu của vị trí việc làm công chức, viên chức. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và năng lực, chất lượng của hệ thống cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức theo hướng đáp ứng yêu cầu làm việc trong môi trường công nghệ; đẩy mạnh chuyển đổi số và tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; tổ chức có hiệu quả các khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng làm việc trong môi trường số cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đặc biệt là cán bộ trẻ, cán bộ nữ cho các bộ, ngành và chính quyền địa phương.

Thứ tư, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức của các bộ, ngành cần phối hợp chặt chẽ với nhau để xây dựng, thiết kế tài liệu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng làm việc trong môi trường số cho cán bộ, công chức, viên chức. Đồng thời, thiết lập mạng lưới các chuyên gia, nhà khoa học, giảng viên, báo cáo viên trong nước và nước ngoài có trình độ, kinh nghiệm để chủ động tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng làm việc cho cán bộ, công chức, viên chức của các bộ, ngành, địa phương.

Thứ năm, cần có chính sách khuyến khích tinh thần học tập suốt đời, nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, công chức, viên chức để góp phần giảm thiểu các khoản chi từ ngân sách nhà nước cho đào tạo, bồi dưỡng. Đồng thời, phải có cơ chế động viên, khen thưởng và công nhận trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức đã tự túc kinh phí, tự học nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ.

Thứ sáu, cần quan tâm, nâng cấp, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, hiện đại hóa trang thiết bị dạy và học tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức nhằm bảo đảm các điều kiện dạy và học có chất lượng phù hợp với từng thời kỳ. Việc đổi mới toàn diện, căn bản các hình thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức trên cơ sở lấy người học làm trung tâm, đặc biệt ưu tiên ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết kế bài giảng và truyền đạt bài giảng là yếu tố vô cùng quan trọng trong xu thế hội nhập quốc tế. Khuyến khích các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng đầu tư cơ sở vật chất, công nghệ hiện đại, ứng dụng công nghệ số vào đào tạo, bồi dưỡng. Thực hiện sáp nhập, giải thể, tinh gọn và củng cố, kiện toàn hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức theo hướng chuyên nghiệp từ cấp Trung ương đến địa phương.

Thứ bảy, cần bổ sung và hoàn thiện chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức, viên chức khi được cử đi học nhằm bảo đảm phù hợp với tình hình mới để cán bộ, công chức yên tâm học tập nâng cao trình độ chuyên môn. Công khai, minh bạch việc đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức, viên chức dựa trên kết quả học tập, bồi dưỡng hàng năm và những việc đã làm được theo bảng phân công nhiệm vụ công việc để làm tiêu chuẩn xem xét khen thưởng, nâng ngạch, chuyển ngạch, thăng hạng, xét tặng, phong danh hiệu cho cán bộ, công chức, viên chức nhằm động viên kịp thời sự cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ và có nhiều đóng góp cho tổ chức.

Quỳnh Vũ


[1] Tài liệu chương trình Hội thảo “Lấy ý kiến dự thảo Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức Bộ Tư pháp năm 2025” tổ chức ngày 27/6/2024 tại Hà Nội.

[2] Tài liệu chương trình Hội thảo “Lấy ý kiến dự thảo Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức Bộ Tư pháp năm 2025” tổ chức ngày 27/6/2024 tại Hà Nội.

[3] Một số kiến nghị để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, đăng tải trên trang web https://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/lists/nghiencuutraodoi/view_detail.aspx?itemid=1108.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Tóm tắt: Triển khai tố tụng điện tử, gồm áp dụng văn bản số, chữ ký số, hồ sơ điện tử, quản trị dữ liệu điện tử, chia sẻ, kết nối liên thông giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự sẽ làm thay đổi phương thức bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của đối tượng yếu thế, tạo ra yêu cầu mới đối với hoạt động trợ giúp pháp lý. Trên cơ sở nhận diện khoảng trống pháp lý và thách thức trong hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực, cơ chế phối hợp và năng lực số, nghiên cứu phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra đối với hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự, từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật, tăng cường năng lực số, phát triển hạ tầng công nghệ và bảo đảm an toàn thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người được trợ giúp pháp lý trong điều kiện triển khai tố tụng điện tử.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, bảo đảm quyền con người và thích ứng với chuyển đổi số, việc sửa đổi pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế của pháp luật hiện hành và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích, đánh giá yêu cầu thực tiễn, so sánh quy định của pháp luật hiện hành với dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) để chỉ ra những điểm mới cơ bản của dự thảo Luật, làm rõ định hướng cải cách lập pháp trong lĩnh vực này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật có nhiều đổi mới quan trọng. Những nội dung này góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo gắn với yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội trong bối cảnh phát triển mới.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Dấu ấn công tác năm 2025 và định hướng phát triển Hệ thống thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Dấu ấn công tác năm 2025 và định hướng phát triển Hệ thống thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân năm 2026, trong không khí rộn ràng đón chào năm mới, toàn hệ thống thi hành án dân sự (THADS) nhìn lại và tự hào về những kết quả ấn tượng đạt được trong năm 2025, năm triển khai nhiều nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng của đất nước như sắp xếp tổ chức bộ máy, triển khai mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp. Phát huy cao tinh thần đoàn kết, khát vọng đổi mới và với quyết tâm mạnh mẽ cùng sự chỉ đạo sát sao quyết liệt của Lãnh đạo Bộ Tư pháp, công tác THADS năm 2025 đã hoàn thành và vượt các chỉ tiêu nhiệm vụ được Quốc hội giao, vận hành ổn định, thông suốt theo mô hình cơ quan THADS một cấp tại địa phương.
Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Ngày 30/12/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 3758/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch cải cách hành chính của Bộ Tư pháp năm 2026. Kế hoạch nhằm tiếp tục đảm bảo mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC), đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 và hoàn thành các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp theo Kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030… Trong đó tập trung cải cách thể chế; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng cao; xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số đáp ứng yêu cầu phát triển chung.
Cán bộ tư pháp tích cực đóng góp trí tuệ, nắm bắt tinh thần mới, nội dung mới trong dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng

Cán bộ tư pháp tích cực đóng góp trí tuệ, nắm bắt tinh thần mới, nội dung mới trong dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng

Ngày 14/11/2025, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng do Thứ trưởng Bộ Tư pháp Phan Chí Hiếu chủ trì. Đồng chủ trì Hội thảo có Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh; Phó Bí thư chuyên trách Đảng ủy Bộ Tư pháp Nguyễn Quang Thái.
Nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự theo yêu cầu của Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự theo yêu cầu của Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Sáng 4/11, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 10, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan, Quốc hội họp Phiên toàn thể ở Hội trường, nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra về dự án Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi).
Nhận diện những hạn chế, bất cập trong cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam

Nhận diện những hạn chế, bất cập trong cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam

Chiều ngày 29/10/2025, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo khoa học cấp Bộ "Thực trạng cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam". Đồng chí Nguyễn Thanh Tịnh, Thứ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì có đồng chí Ngô Trung Thành, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội. Tham dự Hội thảo có đại diện các bộ, ngành ở trung ương; đại diện một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp cùng các chuyên gia, nhà khoa học.
Trao quyền phải đồng thời trao công cụ - Điều kiện tiên quyết để xã hội hóa thi hành án thành công

Trao quyền phải đồng thời trao công cụ - Điều kiện tiên quyết để xã hội hóa thi hành án thành công

Đây là khẳng định được thống nhất cao tại Hội thảo khoa học “Hoàn thiện thể chế Thừa phát lại đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” do Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phối hợp Cục Quản lý thi hành án dân sự tổ chức ngày 16/10/2025 bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến. Đồng chí Trương Thế Côn, Tổng Biên tập và đồng chí Hoàng Thế Anh, Trưởng ban Ban Nghiệp vụ thi hành án hành chính và Thừa phát lại, Cục Quản lý thi hành án dân sự đồng chủ trì Hội thảo.
"Luồng gió mới để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam"

"Luồng gió mới để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam"

Tổng Bí thư Tô Lâm đã đưa ra quan điểm chỉ đạo trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thông qua sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng; thông qua vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở đảng và tính tiên phong cách mạng, gương mẫu đi đầu của cán bộ, đảng viên để chúng ta nỗ lực thực hiện thành công Nghị quyết 27.

Theo dõi chúng tôi trên: