Chủ nhật 12/07/2026 04:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao năng lực phân tích, phản ứng chính sách cho người làm công tác xây dựng pháp luật

Đây là nội dung của Hội nghị tập huấn do Học viện Tư pháp, Bộ Tư pháp phối hợp với Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tổ chức ngày 28/8/2025 tại Hà Nội.

Tham dự Hội nghị có bà Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp; ông Onishi Hiromichi, chuyên gia pháp lý của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản; TS. Nguyễn Thị Kim Thoa, Nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp luật hình sự - hành chính, Bộ Tư pháp; GS.TS. Lê Hồng Hạnh, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, Giảng viên cao cấp Đại học Luật Hà Nội, Nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp; TS. Nguyễn Quỳnh Liên - Trưởng Ban Dân chủ, Giám sát và Phản biện xã hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; cùng đông đảo đại biểu đại diện các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp các tỉnh/thành phố…

Nâng cao năng lực phân tích, phản ứng chính sách cho người làm công tác xây dựng pháp luật
Toàn cảnh Hội nghị.

Trao đổi tại Hội nghị, GS.TS. Lê Hồng Hạnh cho rằng, chính sách là khái niệm được xác định khá rõ về nội hàm, về vai trò và phương thức xây dựng, thi hành. Tuy nhiên, hầu như trong các nghiên cứu về chính sách, khái niệm chính sách hầu như được mặc định là chính sách công, có rất ít công trình nghiên cứu về chính sách tư được thực hiện ở Việt Nam. Theo GS.TS. Lê Hồng Hạnh, việc thiếu sự phân biệt chính sách tư và chính sách công là "vùng xám" trong khoa học về quản trị, kinh tế học, quản lý ở nước ta và ảnh hưởng không nhỏ đến xây dựng và thi hành chính sách nói chung, phản ứng chính sách nói riêng. Hệ quả là trong thực tế, các cơ quan thi hành chính sách chỉ thi hành chính sách công, còn việc thực hiện các chính sách công trong các thực thể vi mô hay chính sách của chính các thực thể này không được chú trọng. Nói cách khác, đang tồn tại sự "cắt khúc" giữa thực hiện chính sách công và thực hiện chính sách tư trong thực tiễn mặc dù chúng đều là những bộ phận hợp thành của thể chế. Thực tiễn cho thấy phản ứng chính sách ở Việt Nam chỉ dừng ở phản ứng chính sách công, chưa chú trọng đến những phản ứng chính sách tư. Điều này dẫn tới sự thiếu đồng bộ trong việc thực hiện các giải pháp phản ứng. Vấn đề đặt ra là đồng bộ hóa được các phản ứng chính sách công và các chính sách tư. Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với phản ứng chính sách đồng thời đòi hỏi làm rõ nội hàm giữa chính sách công và chính sách tư. Tính nhất quán và sự phối hợp toàn diện trong phản ứng chính sách là rất quan trọng để đạt được các kết quả mong đợi.

Nâng cao năng lực phân tích, phản ứng chính sách cho người làm công tác xây dựng pháp luật
GS.TS. Lê Hồng Hạnh trao đổi tại Hội nghị.

Theo TS. Nguyễn Thị Kim Thoa, quy trình đánh giá tác động của chính sách cần tuân thủ các bước: Xác định vấn đề chính sách; xác định rõ mục tiêu của từng chính sách; xác định rõ các giải pháp/các phương án để giải quyết vấn đề bất cập; phân tích và đánh giá, so sánh được các tác động tích cực, tiêu cực về mặt định tính và/hoặc định lượng; xác định rõ giải pháp/phương án tối ưu trên cơ sở các giải pháp/phương án đều đã được đánh giá tác động tích cực, tiêu cực về mặt định tính và/hoặc định lượng. Chính phủ các nước thường xây dựng một quy trình đánh giá tác động của chính sách áp dụng riêng để phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của nước mình. TS. Nguyễn Thị Kim Thoa cho rằng, quy trình đánh giá tác động chính sách cần được thực hiện tuần tự theo các bước: (i) Bước 1: Xác định đúng vấn đề cần giải quyết; (ii) Bước 2: Dự kiến các rủi ro có thể xảy ra, cả về mức độ và phạm vi ảnh hưởng đối với các bên có liên quan; (iii) Bước 3: Đánh giá tình hình hiện tại và diễn biến có thể xảy ra nếu không có sự can thiệp của chính sách/pháp luật; (iv) Bước 4: Xác định mục tiêu giải quyết vấn đề; (v) Bước 5: Tham vấn với các chuyên gia thuộc các nhóm đối tượng dự kiến bị ảnh hưởng lớn nhằm chuẩn hóa lại vấn đề và mục tiêu giải quyết vấn đề, rủi ro dự kiến; (vi) Bước 6: Lựa chọn giải pháp; (vii) Bước 7: Lựa chọn phương pháp và phạm vi đánh giá; (viii) Bước 8: Thu thập chứng cứ, số liệu cụ thể về lợi ích và chi phí của giải pháp đã lựa chọn (thông qua điều tra, khảo sát hoặc khai thác từ nguồn sẵn có); (ix) Bước 9: Đánh giá tác động của các giải pháp đối với các đối tượng có liên quan; (x) Bước 10: Phân tích, so sánh các giải pháp và thảo luận để đưa ra kết luận về giải pháp dự kiến lựa chọn sau khi đã tổ chức tham vấn rộng rãi.

Nâng cao năng lực phân tích, phản ứng chính sách cho người làm công tác xây dựng pháp luật
Ông Onishi Hiromichi, chuyên gia pháp lý của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) chia sẻ những kinh nghiệm lập pháp của Nhật Bản tại Hội nghị.

Trao đổi tại Hội nghị, ông Onishi Hiromichi, chuyên gia pháp lý của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản khái quát về những quan điểm chính liên quan đến phân tích chính sách của người phụ trách soạn thảo dự luật tại Nhật Bản; cơ chế chính liên quan đến việc đánh giá chính sách của Chính phủ tại Nhật Bản; xu hướng chủ yếu gần đây trong tư duy liên quan đến hoạt động xây dựng chính sách của Chính phủ Nhật Bản; thực tiễn các quan điểm chính gần đây liên quan đến các hoạt động xây dựng chính sách tại Nhật Bản; quá trình xây dựng dự thảo Luật tại Nhật Bản…

Ông Onishi Hiromichi cho biết, nền hành chính không có sai sót nếu thực sự được hiện thực hóa sẽ góp phần tạo sự ổn định của hệ thống hành chính, nhận được kỳ vọng của người dân đối với nền hành chính của đất nước và khát vọng tự hào của đội ngũ cán bộ hành chính khi đáp ứng được những kỳ vọng đó. Tuy nhiên, thực tế, việc hành chính luôn nắm bắt chính xác mọi dữ liệu và không bao giờ có sai sót là điều không thể. Hơn nữa, trong thời đại mà môi trường thay đổi nhanh chóng, các biện pháp ứng phó dựa trên giả định về sự thay đổi tuyến tính ngày càng trở nên kém hiệu quả, việc hiện thực điều đó không dễ dàng. Ngoài ra, trong bối cảnh giá trị quan và nhu cầu của người dân ngày càng đa dạng, chu kỳ thay đổi cũng ngày càng ngắn, nền văn hóa tổ chức hành chính mà dễ thúc đẩy xu hướng duy trì hiện trạng một cách dễ dãi, sẽ xuất hiện rõ rệt những mặt tiêu cực. Ví dụ, các chính sách hiện hành nhằm giải quyết các vấn đề ngắn hạn hoặc phục vụ cho một lợi ích nhất định có thể trở thành đặc quyền riêng, các khoảng trống để thiết lập chính sách cho việc giải quyết vấn đề thật sự cần thiết trở nên ngày càng ít, các chính sách cứng nhắc và không thể tái tạo do sự kế thừa các tiền lệ, từ đó những bất cập ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn.

Tại Hội nghị, các đại biểu đã chia sẻ, trao đổi, thảo luận sôi nổi về kinh nghiệm đánh giá tác động chính sách trong quá trình xây dựng pháp luật và các sáng kiến cải cách tư pháp. Nhật Bản là quốc gia có nhiều kinh nghiệm trong việc cải cách tư pháp và phát triển hệ thống luật pháp, do đó những chia sẻ từ đại diện Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) sẽ mang lại nhiều hữu ích cho những người làm công tác xây dựng pháp luật tại Việt Nam, hướng tới xây dựng một hệ thống tư pháp công bằng, minh bạch và hiệu quả hơn trong tương lai./.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xem xét bổ sung cơ chế xử lý vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài

Xem xét bổ sung cơ chế xử lý vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài

Chiều ngày 10/7, thừa ủy quyền của Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh, Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính (Bộ Tư pháp) Nguyễn Thị Hạnh chủ trì Hội đồng thẩm định hồ sơ dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi). Tham dự phiên họp có đại diện các bộ, ngành có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Sửa đổi, bổ sung Luật Kinh doanh bất động sản đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường bất động sản

Sửa đổi, bổ sung Luật Kinh doanh bất động sản đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường bất động sản

Ngày 08/7, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì Hội đồng thẩm định dự án Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi).
Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán

Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán

Sáng ngày 07/7, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì Hội đồng thẩm định hồ sơ dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập. Tham dự phiên họp có đại diện các bộ, ngành có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Thí điểm áp dụng KPI trong đánh giá công tác xây dựng pháp luật

Thí điểm áp dụng KPI trong đánh giá công tác xây dựng pháp luật

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 1205/QĐ-TTg ngày 06/7/2026 phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm công tác xây dựng pháp luật.
Thành phố Hà Nội triển khai đồng bộ các nhiệm vụ thi hành Luật Thủ đô năm 2026

Thành phố Hà Nội triển khai đồng bộ các nhiệm vụ thi hành Luật Thủ đô năm 2026

Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành Thông báo số 578/TB-VP ngày 30/6/2026, thông báo kết luận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội tại Hội nghị phổ biến, quán triệt các nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội và các quyết định của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội triển khai thi hành Luật Thủ đô số 02/2026/QH16.
Bảo đảm chất lượng, tiến độ xây dựng dự án Luật Đô thị đặc biệt

Bảo đảm chất lượng, tiến độ xây dựng dự án Luật Đô thị đặc biệt

Ngày 06/7, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng và Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú đồng chủ trì cuộc họp với các cơ quan, địa phương về dự án Luật Đô thị đặc biệt.
Hoàn thiện chính sách pháp luật về phòng, chống thiên tai theo hướng quản trị rủi ro

Hoàn thiện chính sách pháp luật về phòng, chống thiên tai theo hướng quản trị rủi ro

Ngày 03/7, Bộ Tư pháp tổ chức Hội đồng thẩm định Hồ sơ chính sách Luật Phòng, chống thiên tai (thay thế). Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì cuộc họp.
Hoàn thiện chính sách hình sự, nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm

Hoàn thiện chính sách hình sự, nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm

Ngày 02/7, Bộ Tư pháp tổ chức hội đồng thẩm định Hồ sơ dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi) (dự thảo Bộ luật). Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì phiên họp.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về định danh và xác thực điện tử

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về định danh và xác thực điện tử

Chính sách Luật Định danh và xác thực điện tử được xây dựng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về định danh và xác thực điện tử, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ chủ quyền quốc gia; đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho việc định danh thống nhất các thực thể trong môi trường vật lý và môi trường điện tử, qua đó làm nền tảng cho kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn

Hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn

Sáng ngày 01/7, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý Nguyễn Văn Cương chủ trì Hội thảo khoa học "Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật và việc thúc đẩy phát triển kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn". Tham dự Hội thảo có đại diện một số cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở giáo dục, đào tạo cùng các chuyên gia, nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn.
Hoàn thiện dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Phát triển thị trường dịch vụ pháp lý, đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Phát triển thị trường dịch vụ pháp lý, đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong bối cảnh mới

Ngày 29/6/2026, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phối hợp Cục Bổ trợ tư pháp tổ chức Hội thảo khoa học “Hoàn thiện thể chế về luật sư và hành nghề luật sư trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì có đồng chí Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật và đồng chí Đặng Kim Hoa, Phó Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp. Hội thảo được tổ chức bằng hình thức trực tiếp tại Hà Nội, kết hợp trực tuyến tại điểm cầu của các địa phương trên cả nước.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Đẩy mạnh hiện đại hóa, chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin, giao dịch điện tử trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán

Đẩy mạnh hiện đại hóa, chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin, giao dịch điện tử trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán

Chiều ngày 30/6, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì Hội đồng thẩm định dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán. Tham dự phiên họp có đại diện các bộ, ngành có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về điện lực đáp ứng yêu cầu phát triển mới

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về điện lực đáp ứng yêu cầu phát triển mới

Chiều 30/6, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì Hội đồng thẩm định dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực. Đồng chủ trì có Thứ trưởng Bộ Công Thương Trương Thanh Hoài - đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo dự án Luật.
Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gắn với năng lực tự chủ chiến lược, năng lực sản xuất, công nghệ và sức cạnh tranh

Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gắn với năng lực tự chủ chiến lược, năng lực sản xuất, công nghệ và sức cạnh tranh

Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (Nghị quyết số 10-NQ/TW) đặt ra những mục tiêu và yêu cầu cao hơn về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải gắn với năng lực tự chủ chiến lược, năng lực sản xuất, công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công và khả năng tiếp nhận các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao.

Theo dõi chúng tôi trên: