Thứ hai 27/07/2026 22:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao năng lực phân tích, phản ứng chính sách cho người làm công tác xây dựng pháp luật

Đây là nội dung của Hội nghị tập huấn do Học viện Tư pháp, Bộ Tư pháp phối hợp với Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tổ chức ngày 28/8/2025 tại Hà Nội.

Tham dự Hội nghị có bà Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp; ông Onishi Hiromichi, chuyên gia pháp lý của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản; TS. Nguyễn Thị Kim Thoa, Nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp luật hình sự - hành chính, Bộ Tư pháp; GS.TS. Lê Hồng Hạnh, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, Giảng viên cao cấp Đại học Luật Hà Nội, Nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp; TS. Nguyễn Quỳnh Liên - Trưởng Ban Dân chủ, Giám sát và Phản biện xã hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; cùng đông đảo đại biểu đại diện các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp các tỉnh/thành phố…

Nâng cao năng lực phân tích, phản ứng chính sách cho người làm công tác xây dựng pháp luật
Toàn cảnh Hội nghị.

Trao đổi tại Hội nghị, GS.TS. Lê Hồng Hạnh cho rằng, chính sách là khái niệm được xác định khá rõ về nội hàm, về vai trò và phương thức xây dựng, thi hành. Tuy nhiên, hầu như trong các nghiên cứu về chính sách, khái niệm chính sách hầu như được mặc định là chính sách công, có rất ít công trình nghiên cứu về chính sách tư được thực hiện ở Việt Nam. Theo GS.TS. Lê Hồng Hạnh, việc thiếu sự phân biệt chính sách tư và chính sách công là "vùng xám" trong khoa học về quản trị, kinh tế học, quản lý ở nước ta và ảnh hưởng không nhỏ đến xây dựng và thi hành chính sách nói chung, phản ứng chính sách nói riêng. Hệ quả là trong thực tế, các cơ quan thi hành chính sách chỉ thi hành chính sách công, còn việc thực hiện các chính sách công trong các thực thể vi mô hay chính sách của chính các thực thể này không được chú trọng. Nói cách khác, đang tồn tại sự "cắt khúc" giữa thực hiện chính sách công và thực hiện chính sách tư trong thực tiễn mặc dù chúng đều là những bộ phận hợp thành của thể chế. Thực tiễn cho thấy phản ứng chính sách ở Việt Nam chỉ dừng ở phản ứng chính sách công, chưa chú trọng đến những phản ứng chính sách tư. Điều này dẫn tới sự thiếu đồng bộ trong việc thực hiện các giải pháp phản ứng. Vấn đề đặt ra là đồng bộ hóa được các phản ứng chính sách công và các chính sách tư. Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với phản ứng chính sách đồng thời đòi hỏi làm rõ nội hàm giữa chính sách công và chính sách tư. Tính nhất quán và sự phối hợp toàn diện trong phản ứng chính sách là rất quan trọng để đạt được các kết quả mong đợi.

Nâng cao năng lực phân tích, phản ứng chính sách cho người làm công tác xây dựng pháp luật
GS.TS. Lê Hồng Hạnh trao đổi tại Hội nghị.

Theo TS. Nguyễn Thị Kim Thoa, quy trình đánh giá tác động của chính sách cần tuân thủ các bước: Xác định vấn đề chính sách; xác định rõ mục tiêu của từng chính sách; xác định rõ các giải pháp/các phương án để giải quyết vấn đề bất cập; phân tích và đánh giá, so sánh được các tác động tích cực, tiêu cực về mặt định tính và/hoặc định lượng; xác định rõ giải pháp/phương án tối ưu trên cơ sở các giải pháp/phương án đều đã được đánh giá tác động tích cực, tiêu cực về mặt định tính và/hoặc định lượng. Chính phủ các nước thường xây dựng một quy trình đánh giá tác động của chính sách áp dụng riêng để phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của nước mình. TS. Nguyễn Thị Kim Thoa cho rằng, quy trình đánh giá tác động chính sách cần được thực hiện tuần tự theo các bước: (i) Bước 1: Xác định đúng vấn đề cần giải quyết; (ii) Bước 2: Dự kiến các rủi ro có thể xảy ra, cả về mức độ và phạm vi ảnh hưởng đối với các bên có liên quan; (iii) Bước 3: Đánh giá tình hình hiện tại và diễn biến có thể xảy ra nếu không có sự can thiệp của chính sách/pháp luật; (iv) Bước 4: Xác định mục tiêu giải quyết vấn đề; (v) Bước 5: Tham vấn với các chuyên gia thuộc các nhóm đối tượng dự kiến bị ảnh hưởng lớn nhằm chuẩn hóa lại vấn đề và mục tiêu giải quyết vấn đề, rủi ro dự kiến; (vi) Bước 6: Lựa chọn giải pháp; (vii) Bước 7: Lựa chọn phương pháp và phạm vi đánh giá; (viii) Bước 8: Thu thập chứng cứ, số liệu cụ thể về lợi ích và chi phí của giải pháp đã lựa chọn (thông qua điều tra, khảo sát hoặc khai thác từ nguồn sẵn có); (ix) Bước 9: Đánh giá tác động của các giải pháp đối với các đối tượng có liên quan; (x) Bước 10: Phân tích, so sánh các giải pháp và thảo luận để đưa ra kết luận về giải pháp dự kiến lựa chọn sau khi đã tổ chức tham vấn rộng rãi.

Nâng cao năng lực phân tích, phản ứng chính sách cho người làm công tác xây dựng pháp luật
Ông Onishi Hiromichi, chuyên gia pháp lý của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) chia sẻ những kinh nghiệm lập pháp của Nhật Bản tại Hội nghị.

Trao đổi tại Hội nghị, ông Onishi Hiromichi, chuyên gia pháp lý của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản khái quát về những quan điểm chính liên quan đến phân tích chính sách của người phụ trách soạn thảo dự luật tại Nhật Bản; cơ chế chính liên quan đến việc đánh giá chính sách của Chính phủ tại Nhật Bản; xu hướng chủ yếu gần đây trong tư duy liên quan đến hoạt động xây dựng chính sách của Chính phủ Nhật Bản; thực tiễn các quan điểm chính gần đây liên quan đến các hoạt động xây dựng chính sách tại Nhật Bản; quá trình xây dựng dự thảo Luật tại Nhật Bản…

Ông Onishi Hiromichi cho biết, nền hành chính không có sai sót nếu thực sự được hiện thực hóa sẽ góp phần tạo sự ổn định của hệ thống hành chính, nhận được kỳ vọng của người dân đối với nền hành chính của đất nước và khát vọng tự hào của đội ngũ cán bộ hành chính khi đáp ứng được những kỳ vọng đó. Tuy nhiên, thực tế, việc hành chính luôn nắm bắt chính xác mọi dữ liệu và không bao giờ có sai sót là điều không thể. Hơn nữa, trong thời đại mà môi trường thay đổi nhanh chóng, các biện pháp ứng phó dựa trên giả định về sự thay đổi tuyến tính ngày càng trở nên kém hiệu quả, việc hiện thực điều đó không dễ dàng. Ngoài ra, trong bối cảnh giá trị quan và nhu cầu của người dân ngày càng đa dạng, chu kỳ thay đổi cũng ngày càng ngắn, nền văn hóa tổ chức hành chính mà dễ thúc đẩy xu hướng duy trì hiện trạng một cách dễ dãi, sẽ xuất hiện rõ rệt những mặt tiêu cực. Ví dụ, các chính sách hiện hành nhằm giải quyết các vấn đề ngắn hạn hoặc phục vụ cho một lợi ích nhất định có thể trở thành đặc quyền riêng, các khoảng trống để thiết lập chính sách cho việc giải quyết vấn đề thật sự cần thiết trở nên ngày càng ít, các chính sách cứng nhắc và không thể tái tạo do sự kế thừa các tiền lệ, từ đó những bất cập ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn.

Tại Hội nghị, các đại biểu đã chia sẻ, trao đổi, thảo luận sôi nổi về kinh nghiệm đánh giá tác động chính sách trong quá trình xây dựng pháp luật và các sáng kiến cải cách tư pháp. Nhật Bản là quốc gia có nhiều kinh nghiệm trong việc cải cách tư pháp và phát triển hệ thống luật pháp, do đó những chia sẻ từ đại diện Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) sẽ mang lại nhiều hữu ích cho những người làm công tác xây dựng pháp luật tại Việt Nam, hướng tới xây dựng một hệ thống tư pháp công bằng, minh bạch và hiệu quả hơn trong tương lai./.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 03 pháp lệnh được Ủy ban Thường vụ khóa XVI thông qua tại Phiên họp thứ 4

Công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 03 pháp lệnh được Ủy ban Thường vụ khóa XVI thông qua tại Phiên họp thứ 4

Chiều ngày 25/7, tại Văn phòng Chủ tịch nước, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Cấn Đình Tài chủ trì họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 03 Pháp lệnh đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XVI thông qua tại Phiên họp thứ 4 gồm: Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng; Pháp lệnh Trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đi cai nghiện bắt buộc; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Chi phí tố tụng.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Hoàn thiện Hồ sơ chính sách của Luật về văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thiện Hồ sơ chính sách của Luật về văn bản quy phạm pháp luật

Sáng ngày 24/7, Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo cho ý kiến đối với chính sách của Luật về văn bản quy phạm pháp luật.
Định hướng hoàn thiện tổ chức, hoạt động các cơ quan tư pháp đến năm 2045

Định hướng hoàn thiện tổ chức, hoạt động các cơ quan tư pháp đến năm 2045

Ngày 23/7, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo khoa học "Tổ chức và hoạt động các cơ quan tư pháp, bổ trợ tư pháp và nguồn nhân lực tư pháp, bổ trợ tư pháp trong kỷ nguyên mới - đề xuất định hướng, nhiệm vụ hoàn thiện đến năm 2045". Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tú chủ trì Hội thảo.
Bảo đảm cơ sở pháp lý trong triển khai thực hiện chế độ chính sách về bảo hiểm xã hội

Bảo đảm cơ sở pháp lý trong triển khai thực hiện chế độ chính sách về bảo hiểm xã hội

Ngày 23/7, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú và Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Mạnh Khương đồng chủ trì Hội đồng thẩm định hồ sơ dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội. Tham dự phiên họp có đại diện các bộ, ngành có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Dự kiến sửa đổi quy định về đối tượng không chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Dự kiến sửa đổi quy định về đối tượng không chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Ngày 22/7, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú và Thứ trưởng Bộ Tài chính Cao Anh Tuấn đồng chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
Bảo đảm tính liên ngành, đa chiều tại Hội thảo cấp quốc gia về tổ chức thi hành pháp luật

Bảo đảm tính liên ngành, đa chiều tại Hội thảo cấp quốc gia về tổ chức thi hành pháp luật

Chiều ngày 21/7, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh làm việc với Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật về việc tổ chức Hội thảo cấp quốc gia về tổ chức thi hành pháp luật.
Phát huy thế mạnh trong nghiên cứu, đề xuất và phản biện chính sách

Phát huy thế mạnh trong nghiên cứu, đề xuất và phản biện chính sách

Ngày 21/7, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú làm việc với Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý về Đề án "Nâng tầm tổ chức nghiên cứu chiến lược, chính sách trong lĩnh vực pháp luật thuộc Bộ Tư pháp (Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý) trở thành cơ sở nghiên cứu trọng điểm quốc gia, trung tâm nghiên cứu chính sách, pháp luật thuộc nhóm dẫn đầu các nước ASEAN" và Đề án "Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới".
Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Bài viết đề xuất hoàn thiện dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo hướng chuyển trọng tâm từ đánh giá kinh nghiệm hành nghề của từng giảng viên sang đánh giá năng lực của cơ sở giáo dục đại học trong việc tổ chức hoạt động đào tạo gắn với thực tiễn.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Kinh nghiệm quốc tế trong hoàn thiện hệ thống pháp luật

Kinh nghiệm quốc tế trong hoàn thiện hệ thống pháp luật

Sáng ngày 17/7, TS. Nguyễn Văn Cương, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) và TS. Nguyễn Hữu Huyên, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Tư pháp) đồng chủ trì Hội thảo khoa học "Nghiên cứu kinh nghiệm hoàn thiện hệ thống pháp luật của một số quốc gia trên thế giới". Tham dự Hội thảo có đại diện một số cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị thuộc Bộ Tư pháp cùng các chuyên gia, nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn.
Xây dựng Luật An ninh dữ liệu, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong môi trường số

Xây dựng Luật An ninh dữ liệu, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong môi trường số

Ngày 17/7, thừa ủy quyền của Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh, Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính Nguyễn Thị Hạnh chủ trì Hội đồng thẩm định Hồ sơ dự thảo chính sách Luật An ninh dữ liệu (chính sách Luật). Tham dự phiên họp có đại diện các bộ, ngành có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.

Theo dõi chúng tôi trên: