Thứ bảy 24/10/2026 15:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nghị quyết số 57-NQ/TW được triển khai thực hiện khẩn trương, quyết liệt và đồng bộ

Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết số 57-NQ/TW) diễn ra chiều ngày 01/7. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì Hội nghị.
Nghị quyết số 57-NQ/TW được triển khai thực hiện khẩn trương, quyết liệt và đồng bộ
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị (Ảnh: VGP/Nhật Bắc)

Cùng dự hội nghị có: Thủ tướng Lê Minh Hưng; Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; các Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư; các Ủy viên Trung ương Đảng; lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương…

Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, kết nối từ điểm cầu Trung tâm - Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội tới 3.662 điểm cầu tại các bộ, ban, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị với tổng số trên 568.380 đại biểu tham dự.

Dự Hội nghị tại điểm cầu Đảng ủy Bộ Tư pháp có đồng chí Nguyễn Quang Thái, Phó Bí thư chuyên trách Đảng ủy Bộ; các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ; lãnh đạo, cán bộ các cơ quan tham mưu, giúp việc Đảng ủy Bộ cùng lãnh đạo, đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.

Trình bày tóm tắt Báo cáo sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW và quán triệt chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về sơ kết triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW tại Hội nghị, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Nguyễn Hải Ninh khẳng định, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW được thực hiện khẩn trương, quyết liệt và đồng bộ.

Tính đến ngày 29/6, Ban Chỉ đạo đã giao 1.937 nhiệm vụ; các cơ quan đã hoàn thành 84,8% nhiệm vụ có thời hạn, xử lý 1.009/1.071 phản ánh, kiến nghị, sáng kiến, giải pháp (đạt tỷ lệ 94,2%).

Về hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, các cơ quan đã xây dựng, trình cơ quan, người có thẩm quyền ban hành hơn 400 văn bản, gồm 13 văn bản của Ban Bí thư, 30 luật, hơn 170 văn bản quy phạm pháp luật của Thủ tướng Chính phủ, hơn 80 thông tư có liên quan đến khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

Về chuyển đổi số quốc gia, ngay khi mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận hành, công tác chuyển đổi số đã được Ban Chỉ đạo Trung ương và các cơ quan, địa phương chỉ đạo quyết liệt, kịp thời, bước đầu đã đạt một số kết quả tích cực trong toàn hệ thống chính trị.

Đánh giá tổng thể, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Nguyễn Hải Ninh nhấn mạnh, Nghị quyết số 57-NQ/TW đã mở ra một giai đoạn phát triển mới của đất nước. Đây là sự chuyển đổi tư duy phát triển có tính nền tảng, tạo tiền đề để Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và năng suất.

Bên cạnh những kết quả đạt được, Ban Chỉ đạo Trung ương cũng thẳng thắn chỉ ra một số hạn chế, điểm nghẽn cần tập trung tháo gỡ, như tiến độ xây dựng cơ sở dữ liệu, nền tảng số dùng chung ở một số bộ, ngành còn chậm; tỷ lệ giải ngân kinh phí cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo còn thấp (đạt tỷ lệ 23,35% tính đến ngày 17/6/2026); việc chuyển hóa chủ trương, cơ chế thành sản phẩm công nghệ và kết quả phát triển cụ thể còn hạn chế; việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo còn phân tán.

Nghị quyết số 57-NQ/TW được triển khai thực hiện khẩn trương, quyết liệt và đồng bộ

Nghị quyết số 57-NQ/TW đã mở ra một giai đoạn phát triển mới của đất nước (Ảnh: VGP/Nhật Bắc)

Chỉ đạo nhiệm vụ thời gian tới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh 04 yêu cầu lớn. Trước hết, phải tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 57-NQ/TW gắn với yêu cầu triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Phải nhận thức sâu sắc khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực chủ yếu của mô hình phát triển, mô hình tăng trưởng mới. Đây không phải là sự lựa chọn, mà là con đường bắt buộc phải thực hiện để hiện thực hóa 02 mục tiêu 100 năm của đất nước.

Phải chuyển mạnh sang tạo ra sản phẩm, kết quả và giá trị cụ thể, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số. Theo đó, phải chuyển mạnh từ tư duy hoàn thành đầu việc sang tư duy tạo ra sản phẩm đầu ra. Các nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW chỉ được coi là hoàn thành khi có sản phẩm vận hành, dữ liệu kiểm chứng, người dùng thực tế và hiệu quả đo đếm được.

Về chuyển đổi số quốc gia, bên cạnh việc tập trung cho chuyển đổi số trong hệ thống chính trị, phải đẩy mạnh chuyển đổi số trong doanh nghiệp, trong toàn xã hội và phát triển kinh tế số, kinh tế dữ liệu.

Về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, các công nghệ chiến lược quốc gia phải được tập trung nguồn lực để làm chủ và phát triển thành sản phẩm cụ thể, nhất là trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, robot và tự động hóa, sinh học và y sinh, vật liệu và năng lượng, chip bán dẫn, an ninh mạng và lượng tử, thiết bị bay không người lái, công nghệ biển, đại dương và lòng đất… Phải đặt mục tiêu sau 01 năm, 03 năm, 05 năm, 10 năm, chúng ta làm chủ được công nghệ nào, có sản phẩm gì, xuất khẩu được gì, đóng góp được bao nhiêu cho tăng trưởng, quốc phòng, an ninh và năng lực tự chủ quốc gia. Bộ nào chủ trì dự án công nghệ chiến lược, bộ đó phải chịu trách nhiệm đến sản phẩm cuối cùng; không chỉ chịu trách nhiệm về quy trình, thủ tục, mà phải chịu trách nhiệm về kết quả, hiệu quả và tác động thực tế.

Nghị quyết số 57-NQ/TW được triển khai thực hiện khẩn trương, quyết liệt và đồng bộ
Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Nguyễn Hải Ninh báo cáo tại Hội nghị (Ảnh: VGP/Nhật Bắc)

Đồng thời, phải đặc biệt quan tâm bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin, an ninh dữ liệu và chủ quyền số quốc gia. Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu, nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu, không phải làm xong rồi mới bổ sung giải pháp bảo mật. Các cơ quan, đơn vị, địa phương phải chịu trách nhiệm chính về an ninh, an toàn của chính hệ thống mình.

Nhấn mạnh yêu cầu phải tạo được chuyển biến đồng bộ từ Trung ương tới địa phương; từ các cơ quan trong hệ thống chính trị ra toàn xã hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị, các bộ, ngành Trung ương phải thực sự đóng vai trò kiến tạo phát triển ngành, lĩnh vực phụ trách; chủ động rà soát, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách; ban hành kịp thời các quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy trình, kiến trúc tổng thể; tháo gỡ những rào cản, điểm nghẽn, khó khăn, vướng mắc. Việc thuộc thẩm quyền phải giải quyết ngay; việc vượt thẩm quyền phải chủ động đề xuất, không để ách tắc kéo dài. Đồng thời, phải hướng dẫn, hỗ trợ và đồng hành cùng địa phương. Đối với các bài toán lớn của quốc gia, các công nghệ chiến lược, các cơ sở dữ liệu quốc gia và những nhiệm vụ liên ngành, liên vùng, cơ quan được giao chủ trì phải trực tiếp chỉ đạo, tổ chức thực hiện đến cùng.

Đối với các địa phương, phải chuyển mạnh từ tư duy thụ động chờ hướng dẫn sang tư duy chủ động tổ chức thực hiện, sáng tạo trong khuôn khổ pháp luật và phân cấp, phân quyền của Trung ương. Mỗi địa phương cần xuất phát từ điều kiện thực tiễn, lợi thế so sánh và nhu cầu phát triển của mình để lựa chọn đúng trọng tâm, trọng điểm. Các địa phương mạnh dạn đăng ký đảm nhận các bài toán lớn; chủ động đề xuất cơ chế mới, mô hình mới, cách làm mới; phát hiện những vướng mắc từ thực tiễn để kiến nghị Trung ương sửa đổi, hoàn thiện thể chế.

Đối với cộng đồng doanh nghiệp, cần tăng cường đầu tư cho nghiên cứu phát triển, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, đào tạo nhân lực chất lượng cao và tham gia các chương trình công nghệ chiến lược quốc gia. Doanh nghiệp phải là trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; là nơi đặt hàng, tiếp nhận, ứng dụng, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và tạo ra giá trị mới cho nền kinh tế. Các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn kinh tế nhà nước và tư nhân cần phát huy vai trò dẫn dắt, tiên phong trong làm chủ công nghệ lõi, phát triển sản phẩm công nghệ Việt Nam, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và hình thành các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có sức lan tỏa.

Đối với các viện nghiên cứu, trường đại học và đội ngũ các nhà khoa học, cần tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong tạo ra tri thức mới, công nghệ mới và nguồn nhân lực chất lượng cao. Các viện nghiên cứu, trường đại học tập trung mạnh hơn vào các bài toán thực tiễn của đất nước, ngành, địa phương và của doanh nghiệp; lấy hiệu quả ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa làm một trong những thước đo quan trọng của hoạt động nghiên cứu. Cần khắc phục tình trạng nghiên cứu xa rời thực tiễn, kết quả nghiên cứu nằm trong ngăn kéo hoặc không tìm được địa chỉ ứng dụng.

Đồng thời, phải có chính sách mạnh mẽ hơn nữa thu hút nhân tài, chuyên gia quốc tế và trí thức người Việt; hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, kết nối mạng lưới trí thức Việt Nam toàn cầu. Hợp tác quốc tế trọng tâm không chỉ là thu hút vốn, mà phải chuyển sang thu hút tri thức, công nghệ và chuyên gia, góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu phát triển trong nước.

Nghị quyết số 57-NQ/TW được triển khai thực hiện khẩn trương, quyết liệt và đồng bộ
Hội nghị tại điểm cầu Đảng ủy Bộ Tư pháp

Lưu ý một nhiệm vụ có ý nghĩa căn cơ, lâu dài là chuẩn bị nguồn nhân lực, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị, ngay từ năm học mới tới đây, ngành giáo dục, đào tạo và các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp cần rà soát chương trình đào tạo, ưu tiên các lĩnh vực công nghệ chiến lược, đẩy mạnh đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI.

Nhấn mạnh yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị người đứng đầu các cấp phải trực tiếp lãnh đạo, trực tiếp chỉ đạo, trực tiếp kiểm tra và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW; việc thuộc thẩm quyền phải chủ động làm; việc vượt thẩm quyền phải kịp thời báo cáo, đề xuất, không chờ đợi, không đùn đẩy, không né tránh. Kết quả thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW phải là tiêu chí quan trọng để đánh giá cán bộ.

Nêu rõ Bộ Chính trị đã quyết định nâng tỉ lệ cán bộ có trình độ khoa học, công nghệ trong cấp ủy từ 5% lên 10-15%, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng ở Trung ương và địa phương cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để chuẩn bị nguồn cán bộ đáp ứng yêu cầu này.

Tin bài có thể bạn quan tâm

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đề xuất cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền trong giải quyết một số công việc; đồng thời bước đầu lồng ghép các yếu tố khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động hành nghề luật sư và quản lý nhà nước về luật sư, hành nghề luật sư. Những định hướng này nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với nghề luật sư.
Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Tóm tắt: Nghề luật sư có tính truyền thống, lâu đời tại nhiều quốc gia. Mô hình truyền thống của tổ chức hành nghề luật sư mang tính đối nhân giữa các luật sư, như văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh. Cùng với sự phát triển của thị trường và yêu cầu đa dạng hóa dịch vụ pháp lý, mô hình tổ chức đối nhân đã từng bước chuyển hóa thành mô hình đối vốn, như công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Mô hình tổ chức hành nghề mang tính đối vốn kể từ Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức hành nghề luật sư và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các tổ chức này. Hiện, thị trường dịch vụ pháp lý trên thế giới chịu tác động đáng kể từ yêu cầu của thị trường và sự phát triển của công nghệ. Trước bối cảnh đó, một số quốc gia đã cho phép thành viên góp vốn không phải luật sư có thể tham gia vào hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, qua đó, bổ sung nguồn lực tài chính, công nghệ và năng lực quản trị, tạo điều kiện cho các tổ chức này phát triển. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện pháp luật về luật sư để bổ sung quy định về thành viên góp vốn tại tổ chức hành nghề luật sư, góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức này trên thị trường trong nước và quốc tế.
Nâng cao chất lượng triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Nâng cao chất lượng triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chiều ngày 16/10, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng chủ trì cuộc họp giao ban Ban Chỉ đạo Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Tư pháp phiên họp thứ XVIII. Cùng dự có Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh và Phó Bí thư chuyên trách Đảng ủy Bộ Nguyễn Quang Thái.
Phát huy vai trò công chứng trong bảo đảm an toàn pháp lý thời kỳ số

Phát huy vai trò công chứng trong bảo đảm an toàn pháp lý thời kỳ số

Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc phát huy vai trò của công chứng trong phòng ngừa tranh chấp, bảo vệ quyền tài sản và bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch là yêu cầu quan trọng, góp phần xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định.
Hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số

Hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số

Ngày 15/10, Khoa Luật, Đại học Phenikaa tổ chức Hội thảo khoa học "Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số ở Việt Nam". PGS.TS. Mai Đắc Biên, Trưởng Khoa Luật và TS. Nguyễn Hồng Bắc, Trưởng Bộ môn Luật Quốc tế và Thương mại quốc tế, Đại học Phenikaa đồng chủ trì Hội thảo.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và trợ lý ảo trong phổ biến, giáo dục pháp luật

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và trợ lý ảo trong phổ biến, giáo dục pháp luật

Ngày 14/10, Bộ Tư pháp tổ chức họp Tổ soạn thảo mở rộng xây dựng dự thảo Nghị định quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (dự thảo Nghị định). Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc, Tổ trưởng Tổ soạn thảo chủ trì cuộc họp.
Để người dân, doanh nghiệp thuận lợi trong tiếp cận, sử dụng dịch vụ công trực tuyến

Để người dân, doanh nghiệp thuận lợi trong tiếp cận, sử dụng dịch vụ công trực tuyến

Ngày 30/9/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 13/2026/TT-BTP hướng dẫn thi hành một số nội dung về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia (Thông tư số 13/2026/TT-BTP). Thông tư góp phần hỗ trợ, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, người dân tiếp cận, thực hiện thủ tục hành chính, sử dụng dịch vụ công trực tuyến.
Phê duyệt “Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật”

Phê duyệt “Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật”

“Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật” được phê duyệt tại Quyết định số 1949/QĐ-TTg ngày 08/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ (Đề án) nhằm mục tiêu xây dựng hạ tầng dữ liệu pháp luật quốc gia thống nhất, dùng chung, tạo nền tảng ứng dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, góp phần đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, hướng tới xây dựng nền quản trị pháp luật thông minh.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Nhân Ngày Chuyển đổi số Quốc gia (10/10), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh - Phó Trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo của Bộ Tư pháp về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 về yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển dữ liệu lớn và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Thứ trưởng chia sẻ về những nhiệm vụ Bộ Tư pháp đang triển khai nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật; đồng thời làm rõ vai trò của dữ liệu và AI trong đổi mới phương thức hoạt động của Ngành Tư pháp.
Pháp luật quốc tế về tội phạm trên không gian mạng và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Pháp luật quốc tế về tội phạm trên không gian mạng và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển nhanh, mạnh, tác động lớn đến xã hội và toàn cầu hóa, pháp luật quốc tế ngày càng giữ vai trò quan trọng trong xây dựng các chuẩn mực chung để các quốc gia phối hợp, xử lý hiệu quả tội phạm trên không gian mạng. Nghiên cứu phân tích các nội dung cơ bản của pháp luật quốc tế về tội phạm hóa hành vi, hài hòa hóa hình phạt, tương trợ tư pháp hình sự, dẫn độ, chuyển giao người bị kết án và xác định thẩm quyền tài phán qua các văn kiện quốc tế như Công ước Budapest, Công ước Hà Nội và một số văn kiện liên quan, đồng thời, gợi mở một số giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế.
Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chính sách, pháp luật về kiểm soát phân tầng xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số

Chính sách, pháp luật về kiểm soát phân tầng xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số

Những biến đổi của phân tầng xã hội, tác động của chuyển đổi số và yêu cầu hoàn thiện chính sách, pháp luật nhằm bảo đảm cơ hội tham gia, tiếp cận và thụ hưởng các nguồn lực phát triển là những nội dung được các đại biểu tập trung trao đổi tại Hội thảo khoa học “Chính sách và pháp luật về kiểm soát phân tầng xã hội nhằm mục đích giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội" tổ chức ngày 30/9. PGS.TS. Nguyễn Văn Quang, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội và TS. Bùi Phương Đình, Phó Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công đồng chủ trì.
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tập trung xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tập trung xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số

Ngày 19/8/2026, Ban Thường vụ Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ban hành Kế hoạch số 46-KH/TLĐ về hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (Kế hoạch), nhằm tập trung xử lý dứt điểm các điểm nghẽn thuộc phạm vi quản lý, tạo chuyển biến trong phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ trên môi trường số.
Chuyển đổi số công tác báo cáo: Tạo lập dữ liệu dùng chung, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật

Chuyển đổi số công tác báo cáo: Tạo lập dữ liệu dùng chung, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật

Trong khuôn khổ Chương trình hợp tác năm 2026 giữa Bộ Tư pháp và Viện Konrad-Adenauer-Stiftung (Viện KAS), ngày 25/9/2026, Bộ Tư pháp phối hợp với Viện KAS tổ chức Hội thảo với chủ đề "Nhu cầu và giải pháp chuyển đổi số trong công tác báo cáo về tổ chức thi hành pháp luật". Tham dự Hội thảo có ông Lewe Paul, Trưởng đại diện Viện KAS tại Việt Nam; đại diện các bộ, ngành ở Trung ương; đại diện một số Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân, sở, ban, ngành trên địa bàn thành phố Hà Nội; đại diện các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp và các chuyên gia, nhà khoa học.

Theo dõi chúng tôi trên: