![]() |
Kế hoạch nhằm cụ thể hóa chỉ đạo của Trung ương, tạo chuyển biến trong chuyển đổi số
Kế hoạch được ban hành nhằm cụ thể hoá đầy đủ, kịp thời kết luận, chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (sau đây gọi tắt là Ban Chỉ đạo Trung ương) tại Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ ngày 07/7/2026 của Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ ngày 11/7/2026 của Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương; nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo Trung ương giao tại Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW ngày 11/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị.
Đồng thời, Kế hoạch hướng tới tạo bước chuyển rõ rệt trong phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, quản trị, điều hành và phục vụ, đồng bộ giữa các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Đảng ủy Bộ Tư pháp và các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp; bảo đảm hoạt động của hệ thống chính trị và chính quyền 3 cấp vận hành đồng bộ, thông suốt, an toàn, dựa trên dữ liệu.
Bên cạnh đó, Kế hoạch nhằm đổi mới phương thức quản trị theo sản phẩm đầu ra, mức độ sử dụng thực tế và giá trị mang lại; giảm thao tác thủ công, giảm giấy tờ, giảm thời gian và chi phí cho cơ quan, cán bộ, người dân, doanh nghiệp; thiết lập kỷ luật, nguyên tắc thống nhất trong quản trị dữ liệu, hạ tầng, nền tảng số và bảo đảm an ninh mạng; không để tình trạng đầu tư phân tán, cát cứ dữ liệu, trùng lặp hệ thống và tình trạng nguồn lực đã bố trí nhưng triển khai, giải ngân chậm.
Yêu cầu quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 57-NQ/TW gắn với triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
Yêu cầu tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 57-NQ/TW gắn với triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Phải nhận thức sâu sắc khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu để đổi mới mô hình phát triển, xác lập mô hình tăng trưởng mới; là con đường tất yếu để hiện thực hoá hai mục tiêu 100 năm của đất nước. Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt, việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW không chỉ nhằm khắc phục nguy cơ tụt hậu mà còn trực tiếp góp phần nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia.
Bên cạnh đó, tổ chức thực hiện phải bảo đảm nguyên tắc “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả”, đồng thời xác định rõ các điều kiện bảo đảm cần thiết để triển khai đầy đủ, đúng tiến độ các nhiệm vụ được giao. Các đơn vị chủ trì phải rà soát từng nhiệm vụ, xác định rõ trách nhiệm, sản phẩm và thời hạn hoàn thành; tập trung xử lý dứt điểm các nhiệm vụ quá hạn, văn bản còn nợ đọng và những điểm nghẽn thuộc trách nhiệm của Bộ Tư pháp.
Đổi mới mạnh mẽ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện theo sản phẩm đầu ra. Người đứng đầu các đơn vị phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW thuộc phạm vi đơn vị phụ trách; coi đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên của đơn vị, không phải là của cơ quan chuyên trách về công nghệ thông tin.
Đồng thời, cần triển khai đồng bộ các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số giữa các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Đảng ủy Bộ Tư pháp, các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp và các cơ quan, đơn vị có liên quan tại Trung ương và địa phương; ưu tiên dùng chung, tích hợp, chia sẻ, tái sử dụng.
Đẩy mạnh phát triển dữ liệu và các nền tảng dùng chung. Xác định dữ liệu là tài nguyên chiến lược, nền tảng của chuyển đổi số, vì vậy phải được tạo lập, quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”; tạo ra giá trị thiết thực cho hoạt động của cơ quan, tổ chức, người dân, doanh nghiệp, phát triển thị trường dữ liệu và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.
Chủ động phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo an toàn, có kiểm soát, hiệu quả. Xác định trí tuệ nhân tạo là công cụ hỗ trợ quan trọng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác và năng suất lao động, nhưng không thay thế trách nhiệm, thẩm quyền và quyết định của con người. Việc phát triển, ứng dụng trí tuệ nhân tạo phải đúng mục đích, đúng thẩm quyền, có trách nhiệm, tránh lạm dụng, đồng thời, phải bảo đảm tuyệt đối an ninh quốc gia, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu ngay từ khâu thiết kế, sử dụng trí tuệ nhân tạo.
Cần lưu ý, bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và chủ quyền dữ liệu ngay từ khâu thiết kế; mọi hệ thống trọng yếu của Bộ Tư pháp phải được xác định, phê duyệt cấp độ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin và triển khai đầy đủ phương án bảo đảm an ninh mạng theo cấp độ được phê duyệt; hệ thống thông tin quan trọng phải được kiểm thử độc lập, phương án ứng cứu, sao lưu và khôi phục dữ liệu trước khi vận hành chính thức.
Việc thực hiện Kế hoạch được cập nhật, giám sát hằng tuần, hằng tháng trên Hệ thống theo dõi tình hình thực hiện Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận của Trung ương, trong đó nêu rõ các nhiệm vụ chậm, nguyên nhân, trách nhiệm và biện pháp xử lý.
Kế hoạch triển khai trong 100 ngày, tập trung xử lý các điểm nghẽn thuộc 09 nhóm vấn đề lớn
Kế hoạch xác định phạm vi triển khai tập trung xử lý các điểm nghẽn thuộc 09 nhóm vấn đề về thể chế; hạ tầng số; dữ liệu số; nền tảng số; dịch vụ công trực tuyến; kinh tế số; nguồn nhân lực; tài chính và giải ngân; kỷ luật thực thi và tuân thủ.
Về đối tượng thực hiện, gồm: Các thành viên Ban Chỉ đạo của Bộ Tư pháp về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06, Thủ trưởng các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Đảng ủy Bộ Tư pháp, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Thời gian triển khai Kế hoạch là 100 ngày làm việc, từ ngày 10/7/2026 đến hết ngày 30/11/2026.
Trên cơ sở đó, Kế hoạch xác định nhiều nhiệm vụ trọng tâm trên các lĩnh vực then chốt như thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số; dữ liệu số; nền tảng số; dịch vụ công trực tuyến; kinh tế số; nguồn nhân lực; tài chính, giải ngân; kỷ luật thực thi. Trong đó:
Đối với nhóm nhiệm vụ về thể chế, chỉ đạo, điều hành, cần hoàn thành việc ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền các văn bản nợ đọng, văn bản hướng dẫn thi hành các luật liên quan đến chuyển đổi số có hiệu lực từ ngày 01/7/2026; Nghị quyết về phát triển công dân số; cập nhật Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số theo danh mục được cấp có thẩm quyền giao. Cùng với đó, cần rà soát, lập danh mục các quy định pháp luật còn mâu thuẫn, chồng chéo, cản trở chuyển đổi số; đề xuất phương án sửa đổi, bổ sung hoặc xử lý theo thẩm quyền.
Về hạ tầng số, thực hiện kiểm kê toàn bộ trung tâm dữ liệu, các phòng máy chủ thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp; đánh giá mức độ đáp ứng về tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn, hiệu suất, chi phí; xây dựng phương án chuyển dịch hoặc dừng các hạ tầng nhỏ lẻ, kém hiệu quả. Đồng thời, lập Bản đồ cấp độ an ninh mạng cho các hệ thống số của 04 khối và địa phương, gồm chủ quản, cấp độ dự kiến/đã phê duyệt và đầu mối ứng cứu. Ngoài ra, cần hoàn thành hồ sơ cấp độ, kiểm thử xâm nhập và đánh giá độc lập trước khi vận hành hoặc mở rộng; kết nối hệ thống quan trọng với đầu mối giám sát 24/7; định kỳ kiểm tra tài khoản, phân quyền và dữ liệu nhạy cảm, thực hiện kết nối chia sẻ thông tin giám sát an ninh mạng với Trung tâm An ninh mạng quốc gia tối thiểu với các hệ thống từ cấp độ 3 trở lên; kiểm tra, đánh giá hệ thống mạng gửi, nhận, xử lý và lưu trữ văn bản mật của khối đảng theo yêu cầu; cảnh báo sớm, thường xuyên các nguy cơ rủi ro an ninh thông tin trên các hệ thống thông tin quan trọng của Bộ Tư pháp.
Đối với nền tảng số, cần rà soát hiện trạng, xây dựng hoặc điều chỉnh kế hoạch triển khai các nền tảng số dùng chung quốc gia theo Quyết định số 1132/QĐ-TTg; tổ chức triển khai theo lộ trình được phê duyệt, bảo đảm các nền tảng được đưa vào sử dụng thực chất, lấy người sử dụng làm trung tâm, đồng thời kết nối với công cụ đánh giá mức độ sử dụng và thu thập phản hồi của người sử dụng do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Bên cạnh đó, hoàn thiện Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp, bảo đảm tích hợp, hoạt động đồng bộ, thống nhất, thông suốt và ổn định với Cổng Dịch vụ công quốc gia, đáp ứng yêu cầu về chất lượng dịch vụ và trải nghiệm người dùng; đồng thời rà soát các nền tảng dùng chung quốc gia của Bộ Tư pháp đang triển khai, ban hành bộ tiêu chí và yêu cầu kỹ thuật bảo đảm khả năng đăng nhập một lần qua VNeID.