Thứ tư 04/03/2026 01:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhận diện khó khăn, vướng mắc và đề xuất giải pháp nhằm giải quyết “tận gốc, tận rễ” trong công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Ngày 10/3/2025, đồng chí Nguyễn Thanh Tịnh, Thứ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì Tọa đàm cho ý kiến đối với dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật (dự thảo Nghị định).

Toàn cảnh Tọa đàm.

Phát biểu khai mạc Tọa đàm, đồng chí Nguyễn Thanh Tịnh, Thứ trưởng Bộ Tư pháp cho biết, ngày 19/02/2025, tại Kỳ họp bất thường lần thứ 9, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi). Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2025, thay thế Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi) có nhiều nội dung mới, nhận được phản hồi tích cực từ phía các bộ, ngành trung ương và địa phương. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để thực hiện các mục tiêu cải cách pháp luật, kịp thời tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho việc xây dựng và vận hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, khả thi, dễ tiếp cận, hiệu lực và hiệu quả, dễ áp dụng trên thực tế, khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới. Để triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả, thống nhất trên toàn quốc, Chính phủ sẽ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ trưởng hy vọng tại Tọa đàm, các đại biểu tham dự với kinh nghiệm thực tiễn trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật sẽ cùng trao đổi, thảo luận, nhận diện các khó khăn, vướng mắc và đề xuất giải pháp để giải quyết “tận gốc, tận rễ” vấn đề, từ đó góp phần hoàn thiện dự thảo Nghị định nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện, từ tư duy đến cách thức xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Đồng chí Trần Văn Lợi, Phó Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp phát biểu tại Tọa đàm.

Tại Tọa đàm, đồng chí Trần Văn Lợi, Phó Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo đã giới thiệu tổng quan một số nội dung của dự thảo Nghị định. Cụ thể, dự thảo Nghị định gồm 07 chương, 85 điều quy định chi tiết, biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội do Chính phủ trình; trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, chính quyền địa phương; ngôn ngữ, thể thức, kỹ thuật trình bày và dịch văn bản quy phạm pháp luật; đăng tải trên công báo điện tử; nguồn lực trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; quản lý nhà nước về công tác xây dựng pháp luật.

Đại diện Sở Tư pháp thành phố Đà Nẵng phát biểu tại Tọa đàm.

Góp ý trực tiếp đối với nội dung của dự thảo Nghị định, đại diện Sở Tư pháp thành phố Đà Nẵng cho rằng, việc đề xuất xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân và quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã được quy định tại Điều 44 dự thảo Nghị định quy định về việc lập danh mục văn bản của chính quyền địa phương được giao quy định chi tiết, trong đó có danh mục văn bản quy định chi tiết của Hội đồng nhân dân và quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Tuy nhiên, Điều 45 dự thảo Nghị định tiếp tục quy định về đề xuất xây dựng nghị quyết Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Vì vậy, đại diện Sở Tư pháp thành phố Đà Nẵng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo xem xét và cân nhắc về sự phù hợp của Điều 45 dự thảo Nghị định. Đối với nội dung về đối tượng và phạm vi lấy ý kiến phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, tại điểm b khoản 2 Điều 2 dự thảo Nghị định quy định “lấy ý kiến của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp đối với chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của công dân”. Trong khi đó, tại khoản 1 Điều 6 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi) có quy định “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện phản biện xã hội đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật này, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các luật khác có liên quan…”, tuy nhiên, Điều 33 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 quy định “Đối tượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là dự thảo văn bản của cơ quan nhà nước cùng cấp có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”, như vậy, có thể thấy, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 2 dự thảo Nghị định là chưa đầy đủ và có phạm vi hẹp hơn so với phạm vi lấy ý kiến của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015. Bên cạnh đó, việc lấy ý kiến phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quá trình xây dựng và ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định tại điểm d khoản 1 Điều 46 dự thảo Nghị định quy định cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm “… Lấy ý kiến phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp; cử đại diện tham gia cuộc họp phản biện xã hội khi được đề nghị” được hiểu là tất cả các dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đều phải lấy ý kiến phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp. Tuy nhiên, điều này lại mâu thuẫn với quy định về việc lấy ý kiến phản biện tại điểm b khoản 2 Điều 2 dự thảo Nghị định và cũng không phù hợp với quy định trong Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015. Ngoài ra, quy định này cũng không phù hợp với thực tế tại địa phương vì không phải nội dung nghị quyết quy phạm pháp luật nào của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh khi ban hành cũng đều có nội dung cần phải lấy ý kiến phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Vì vậy, đại diện Sở Tư pháp thành phố Đà Nẵng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát, điều chỉnh quy định về lấy ý kiến phản biện cho phù hợp các quy định hiện hành và thực tiễn thi hành. Đối với nội dung về thẩm định văn bản quy phạm pháp luật của Sở Tư pháp, khoản 2 Điều 47 dự thảo Nghị định quy định “Sở Tư pháp tổ chức hội đồng thẩm định hoặc cuộc họp thẩm định có sự tham gia của đại diện Sở Tài chính, Sở Nội vụ, cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học” và Điều 52 dự thảo Nghị định quy định về thẩm định dự thảo quyết định. Đại diện Sở Tư pháp thành phố Đà Nẵng cho rằng, đa phần các văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đều cần phải có ý kiến của Sở Tài chính về bảo đảm nguồn tài chính, Sở Nội vụ về bảo đảm nguồn nhân lực và việc phân cấp. Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn có một số văn bản không cần thiết phải lấy ý kiến của Sở Tài chính và Sở Nội vụ như văn bản quy định chi tiết các văn bản được trung ương giao nội dung. Ngoài ra, đồng chí cũng cho biết, việc mời chuyên gia, nhà khoa học tham gia hội đồng thẩm định là khá khó khăn do Sở Tư pháp không có thông tin đầy đủ về các chuyên gia trong từng lĩnh vực. Chính vì vậy, đại diện Sở Tư pháp thành phố Đà Nẵng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cân nhắc về nội dung này để quy định trong dự thảo Nghị định.

Đối với nội dung về sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật tại Điều 4 dự thảo Nghị định, đại diện Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang cho biết, điểm b khoản 1 Điều 4 dự thảo Nghị định quy định “Ban hành quyết định hành chính để đình chỉ việc thi hành văn bản do mình ban hành, trong đó nêu rõ lý do đình chỉ, thời hạn đình chỉ” và điểm c khoản 1 Điều 4 dự thảo Nghị định quy định “Ban hành quyết định hành chính để bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành trong trường hợp văn bản không còn đối tượng điều chỉnh, không còn phù hợp với thực tiễn mà không cần thiết ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới”, tuy nhiên, đối với trường hợp Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thì chỉ ban hành nghị quyết chứ không ban hành quyết định, vì vậy, đại diện Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cân nhắc sử dụng “văn bản hành chính” hoặc “nghị quyết, quyết định hành chính” để phù hợp hơn. Về nội dung quy định thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật, khoản 2 Điều 5 dự thảo Nghị định quy định “Việc quy định thủ tục hành chính để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp được thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và Nghị định này”, đại diện Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang cho rằng, Luật Tổ chức chính quyền địa phương giao cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành chính sách đặc thù ở địa phương thì Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành thủ tục hành chính hay giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành thủ tục hành chính thực hiện nghị quyết? Vì vậy, đại diện Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cần làm rõ vấn đề này để tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật.

Đại diện Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh phát biểu tại Tọa đàm.

Tại Tọa đàm, đại diện Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh cho biết, hiệu quả của việc lấy ý kiến văn bản quy phạm pháp luật tại địa phương chưa cao, đặc biệt là việc lấy ý kiến thông qua việc đăng tải trên cổng, trang thông tin điện tử của tỉnh. Vì vậy, đại diện Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo bổ sung một khoản tại Điều 2 dự thảo Nghị định việc lấy ý kiến đối với Hội doanh nghiệp cấp tỉnh đối với chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp, công dân. Bên cạnh đó, đại diện Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh cũng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu bổ sung đối tượng Ban Quản lý khu kinh tế được đề xuất xây dựng quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tại khoản 2 Điều 45 dự thảo Nghị định để tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn.

Đối với nội dung về truyền thông chính sách, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, đại diện Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang cho biết, khoản 3 Điều 3 dự thảo Nghị định quy định “Hình thức truyền thông bao gồm: truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng; ứng dụng mạng xã hội; xây dựng, đăng tải tài liệu truyền thông phù hợp với từng đối tượng trên cổng, trang thông tin điện tử của cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo; tổ chức các hội nghị, tọa đàm, diễn đàn, phỏng vấn, đối thoại trực tiếp, trực tuyến, họp báo; qua hệ thống loa truyền thanh cơ sở, niêm yết tại bảng tin, màn hình tại khu dân cư; lồng ghép trong các loại hình văn hóa cơ sở và các hình thức khác phù hợp”, nếu quy định như trên thì được hiểu rằng các cơ quan thực hiện truyền thông chính sách có trách nhiệm phải thực hiện tất cả các hình thức được quy định tại khoản 3 Điều 3 dự thảo Nghị định. Vì vậy, đại diện Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu chỉnh sửa khoản 3 Điều 3 dự thảo Nghị định theo hướng “hình thức truyền thông lựa chọn thực hiện theo một trong các hình thức sau: truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng; ứng dụng mạng xã hội…”. Việc quy định theo hướng như vậy sẽ phù hợp với thực tế và giúp cho cơ quan chủ trì soạn thảo có sự chủ động hơn trong việc thực hiện chính sách.

Đồng chí Nguyễn Thanh Tịnh, Thứ trưởng Bộ Tư pháp phát biểu kết luận Tọa đàm.

Phát biểu kết luận Tọa đàm, đồng chí Nguyễn Thanh Tịnh, Thứ trưởng Bộ Tư pháp đánh giá cao sự chuẩn bị của Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là đơn vị chủ trì soạn thảo dự thảo Nghị định. Đồng thời, Thứ trưởng cảm ơn sự tham dự và đóng góp ý kiến của đại diện các địa phương đối với dự thảo Nghị định. Bên cạnh đó, Thứ trưởng rất chia sẻ với lãnh đạo Sở Tư pháp các địa phương vẫn đang trong quá trình sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy. Thứ trưởng mong muốn, các Sở Tư pháp tiếp tục tập trung cho công tác của ngành; phát huy tinh thần trách nhiệm, khẩn trương tham mưu, hoàn thiện văn bản góp ý gửi về Bộ Tư pháp. Trên cơ sở đó, Bộ Tư pháp sẽ tổng hợp, liên tục cập nhật, tiếp thu các ý kiến góp ý dự thảo Nghị định. Thứ trưởng cho biết, sau khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi) có hiệu lực, Bộ Tư pháp sẽ tổ chức tập huấn, hướng dẫn để các địa phương nắm bắt được những nội dung mới của Luật và triển khai thi hành đạt chất lượng, hiệu quả cao./.

Hoàng Trung

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Cơ chế phối hợp đặc thù - chìa khóa nâng hiệu quả xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế

Cơ chế phối hợp đặc thù - chìa khóa nâng hiệu quả xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế

Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế quy định cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù trong phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, việc hòa giải trong tranh chấp đầu tư quốc tế, tổ chức và hoạt động của Trung tâm phòng ngừa và giải quyết đầu tư quốc tế.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, ngành Tư pháp luôn song hành cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những ngày đầu thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945) đến nay, trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Tư pháp luôn khẳng định vị thế là cơ quan tham mưu nòng cốt trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước yêu cầu đột phá về thể chế để đất nước phát triển bền vững, vai trò của công tác tư pháp tại địa phương càng quan trọng, đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Thể chế, pháp luật và lợi thế cạnh tranh quốc gia có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Hệ thống thể chế, pháp luật được xây dựng đồng bộ, thống nhất khả thi, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng và có sức cạnh tranh trong hội nhập. Đồng thời, để giữ lợi thế cạnh tranh quốc gia trong hội nhập, hệ thống thể chế, pháp luật phải được quan tâm hoàn thiện để “đánh thức” mọi tiềm năng, thế mạnh, khơi thông và thu hút nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện những giải pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia mình trong nền kinh tế toàn cầu. Trong suốt hành trình hơn 80 năm qua, Bộ Tư pháp xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, luôn được Đảng, Nhà nước giao trọng trách thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc nhận diện đầy đủ và phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập là rất cần thiết, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Tạo lập khuôn khổ pháp lý đủ mạnh cho sự phát triển bền vững của Thủ đô

Tạo lập khuôn khổ pháp lý đủ mạnh cho sự phát triển bền vững của Thủ đô

Chiều ngày 09/02/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì Phiên họp tham vấn chuyên gia kinh tế, đầu tư về Luật Thủ đô (sửa đổi). Cùng dự có Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội Phạm Thị Thanh Mai.
Nghiên cứu chính sách "cấm theo thế hệ" bảo vệ tương lai khỏi tác hại thuốc lá

Nghiên cứu chính sách "cấm theo thế hệ" bảo vệ tương lai khỏi tác hại thuốc lá

Chiều ngày 05/02/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì cuộc họp thẩm định hồ sơ chính sách Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá.
Hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin để khơi thông quyền của người dân

Hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin để khơi thông quyền của người dân

Hội thảo "Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới" do Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phối hợp với Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính (Bộ Tư pháp) tổ chức sáng ngày 05/02 bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến. Đồng chí Nguyễn Thanh Ngọc, Thứ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì có đồng chí Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: