Thứ ba 21/04/2026 20:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhiều chính sách bảo đảm thu hút, đãi ngộ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng pháp luật

Chính sách bảo đảm thu hút, đãi ngộ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng pháp luật là một trong những nội dung quan trọng tại Nghị quyết số 197/2025/QH15 vừa được Quốc hội thông qua ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật (Nghị quyết số 197/2025/QH15).

Trên cơ sở chủ trương của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới về việc “Thực hiện chính sách đặc thù, vượt trội, áp dụng chế độ thù lao, thuê khoán tương xứng để thu hút, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tham gia các nhiệm vụ, hoạt động xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật. Có cơ chế, chính sách kéo dài thời gian công tác, không giữ chức vụ cho một số cán bộ, công chức đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định nhưng có trình độ chuyên môn cao, kinh nghiệm thực tiễn sâu sắc về xây dựng pháp luật. Thu hút, tiếp nhận chuyên gia, nhà khoa học pháp lý, luật gia, luật sư giỏi vào khu vực công. Hỗ trợ hàng tháng bằng 100% mức lương theo hệ số lương hiện hưởng đối với người trực tiếp, thường xuyên làm công tác tham mưu nghiên cứu chiến lược, chính sách, xây dựng pháp luật tại một số cơ quan, đơn vị”; đường lối, chủ trương của Đảng về nguồn nhân lực tại văn bản khác có liên quan; yêu cầu về thu hút, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật, Nghị quyết số 197/2025/QH15 có nhiều quy định về chính sách về đảm bảo thu hút, đãi ngộ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Hỗ trợ hàng tháng bằng 100% mức lương hiện hưởng cho nhân lực làm công tác xây dựng pháp luật

Nghị quyết số 197/2025/QH15 quy định về chế độ hỗ trợ hàng tháng cho cán bộ, công chức tại một số cơ quan Trung ương và địa phương theo danh mục được Quốc hội quy định tại Phụ lục I kèm theo, theo hướng có sự phân hóa các nhóm:

- Cán bộ, công chức, lực lượng vũ trang tại cơ quan, đơn vị ở Trung ương trực tiếp, thường xuyên thực hiện nhiệm vụ xây dựng pháp luật, pháp chế (theo Mục I Phụ lục I của Nghị quyết); cán bộ, công chức trực tiếp, thường xuyên thực hiện nhiệm vụ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; nghiên cứu viên của tổ chức nghiên cứu chiến lược, chính sách trong lĩnh vực pháp luật; cán bộ, công chức trực tiếp, thường xuyên tham gia giải quyết tranh chấp quốc tế được hưởng hỗ trợ hàng tháng bằng 100% mức lương hiện hưởng. Khoản hỗ trợ được trả cùng kỳ lương và không dùng để tính đóng, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.

- Cán bộ, công chức tại cơ quan, đơn vị ở địa phương trực tiếp, thường xuyên thực hiện nhiệm vụ xây dựng pháp luật, pháp chế (theo Mục II Phụ lục I của Nghị quyết) được hưởng hỗ trợ hàng tháng theo mức do Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định và bố trí từ ngân sách của địa phương.

Ngoài ra, Nghị quyết số 197/2025/QH15 quy định thu nhập có được từ hoạt động xây dựng pháp luật được miễn thuế thu nhập cá nhân và các nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước. Cá nhân thuộc đối tượng được áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt mà không có nhà ở tại địa phương nơi công tác thì được mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội mà không phải đáp ứng điều kiện quy định tại Luật Nhà ở và văn bản hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở.

Nghị quyết số 197/2025/QH15 khẳng định rõ chế độ, chính sách nêu trên “không áp dụng đối với người giữ chức danh, chức vụ lãnh đạo từ Thứ trưởng và tương đương trở lên”.

Quy định như trên tại Nghị quyết số 197/2025/QH15 xuất phát từ cơ sở thực tiễn, công tác xây dựng pháp luật được xem là hoạt động đóng góp vào việc xây dựng thượng tầng kiến trúc của xã hội với tính chất khó khăn, phức tạp, kéo dài, áp lực, chịu trách nhiệm lớn, mang tính trí tuệ cao, đòi hỏi đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật phải có trình độ, bản lĩnh, kinh nghiệm, dành thời gian tập trung cho công việc và cần có chế độ đãi ngộ tương xứng. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, hiện chưa có cơ chế đặc biệt về đãi ngộ, động viên về nguồn lực để thu hút, “giữ chân” nhân lực tham gia công tác xây dựng pháp luật; chưa có cơ chế để đội ngũ cán bộ, công chức yên tâm, tập trung làm việc, phát huy khả năng trong công tác xây dựng pháp luật. Theo quy định, cán bộ, công chức làm công tác xây dựng chính sách, pháp luật hưởng thu nhập cơ bản là tiền lương (01 lần lương); nhóm cán bộ, cồng chức ở Trung ương nói chung được chế độ phụ cấp công vụ (25%); nhóm cán bộ, công chức làm công tác pháp chế ở bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ được hưởng mức hỗ trợ là 60.000 đồng/ngày làm việc, ở các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được hưởng mức hỗ trợ là 40.000 đồng/ngày làm việc. Thực trạng này góp phần dẫn đến việc tỷ lệ cán bộ, công chức có kinh nghiệm, năng lực xây dựng pháp luật không gắn bó lâu dài với công việc, có xu hướng tìm kiếm công việc khác có thu nhập cao hơn. Ở khía cạnh khác, đã có một số quy định tại văn bản quy phạm pháp luật ghi nhận chế độ đặc thù cho cán bộ, công chức theo ngành, địa phương (theo thống kê chưa đầy đủ, hiện có 37 loại vị trí việc làm hoặc cơ quan đã có cơ ché đặc biệt về tiền lương; có đơn vị được chi bổ sung thu nhập 03 lần tiền lương theo ngạch, bậc, chức vụ theo quy định). Bên cạnh đó, nhiều cán bộ, công chức làm công tác xây dựng pháp luật vì thu nhập còn thấp nên gặp khó khăn về chỗ ở, tuy nhiên, việc tiếp cận nhà ở xã hội còn khó do tiêu chí, điều kiện để được mua, thuê mua, thuê.

Bảo đảm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác xây dụng pháp luật

Trên cơ sở chủ trương của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 66-NQ/TW về việc “thu hút, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tham gia các nhiệm vụ, hoạt động xây dựng pháp luật, thỉ hành pháp luật”; đường lối, chủ trương của Đảng về công tác xây dựng pháp luật tại văn bản khác có liên quan; yêu cầu bảo đảm hơn cơ chế khả thi, linh hoạt, hiệu quả trong thu hút, nâng cao chất lượng nguồn nhận lực cho công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật và thực trạng nguồn nhân lực hiện tại, Nghị quyết số 197/2025/QH15 quy định Nhà nước có chính sách, cơ chế đặc biệt thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cho công tác xây dựng pháp luật, bao gồm:

- Người tốt nghiệp xuất sắc trình độ đại học trở lên trong các lĩnh vực, ngành, nghề khác nhau và hoàn thành chương trình đào tạo chuyên sâu về xây dựng pháp luật thì được ưu tiên hơn khi xét tuyển vào cơ quan, đơn vị quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị quyết này. Chương trình đào tạo chuyên sâu về xây dựng pháp luật được thực hiện theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

- Người thực hiện nhiệm vụ, hoạt động quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 197/2025/QH15 được ưu tiên cử tham gia khóa đào tạo, bồi dưỡng trong nước, nước ngoài phù hợp với yêu cầu công tác.

- Thực hiện chế độ, chính sách thu hút, trọng dụng, kéo dài thời gian công tác không giữ chức vụ đối với cán bộ, công chức, sĩ quan thuộc lực lượng vũ trang có trình độ chuyên môn cao, kinh nghiệm thực tiễn sâu sắc về xây dựng pháp luật.

- Cán bộ, công chức, sĩ quan thuộc lực lượng vũ trang, nghiên cứu viên theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 197/2025/QH15 được ưu tiên quy hoạch, biệt phái, điều động, luân chuyển giữa các Bộ, ngành, địa phương; được rút ngắn thời gian xét nâng lương, nâng ngạch cao hơn, nâng ngạch vượt cấp hoặc bố trí vào vị trí lãnh đạo, quản lý trên cơ sở kết quả đánh giá năng lực, thành tích làm việc.

- Thực hiện cơ chế đặc biệt thu hút, xét tuyển, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, kinh nghiệm thực tiễn về pháp luật quốc tế, giải quyết tranh chấp quốc tế; đưa chuyên gia Việt Nam vào làm việc tại bộ phận pháp lý của tổ chức quốc tế, tổ chức pháp lý quốc tế, cơ quan tài phán quốc tế.

- Cán bộ, công chức, sĩ quan thuộc lực lượng vũ trang được lựa chọn tham gia, làm việc tại bộ phận pháp lý của tổ chức quốc tế, tổ chức pháp lý quốc tế, cơ quan tài phán quốc tế được hưởng chế độ, chính sách tham gia, làm việc tại các tổ chức quốc tế này và giữ nguyên chế độ, chính sách trong nước.

- Người đứng đầu cơ quan quản lý người được hưởng chế độ hỗ trợ quy định tại các điểm c, d, đ và e khoản 1 Điều 7 của Nghị quyết có trách nhiệm tổ chức rà soát, kiểm tra, đánh giá, sàng lọc để bảo đảm yêu cầu, nâng cao chất lượng nhân lực làm công tác xây dựng pháp luật.

Quy định này nhằm khắc phục bất cập về việc chế độ tuyển dụng, sử dụng cán bộ thực hiện theo quy định chung và không có quy định riêng để thu hút được người tài vào làm công tác xây đựng pháp luật; việc xây dựng chính sách và soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật phải do cơ quan được giao nhiệm vụ chủ trì thực hiện, chỉ được thuê, mời chuyên gia với tư cách cá nhân tham gia Ban soạn thảo, Tổ biên tập của dự án luật; cơ chế hiện hành cho thấy cũng khó có thể huy động chuyên gia, nhà khoa học đóng góp vào quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; chưa có cơ chế cho phép thành lập Tổ xây dựng/nghiên cứu dự án luật độc lập hay thuê các đơn vị, tố chức xây dựng chính sách, soạn thảo dự án luật; chưa có chính sách đủ mạnh để sử dụng chuyên gia giỏi (người Việt Nam, người Việt Nam ở nước ngoài, các chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài) tham gia vào các nhiệm vụ xây dựng pháp luật của Việt Nam.

Minh Trí

Ảnh: internet

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xử lý kỷ luật viên chức bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh

Xử lý kỷ luật viên chức bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh

Thực hiện Quyết định số 304/QĐ-TTg ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Viên chức, Bộ Nội vụ đang chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng dự thảo Nghị định quy định về xử lý kỷ luật viên chức (dự thảo Nghị định) theo trình tự, thủ tục rút gọn quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 để thay thế các quy định về xử lý kỷ luật viên chức tại Nghị định số 112/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 71/2023/NĐ-CP.
Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Tín ngưỡng và tôn giáo là yếu tố cấu thành cơ bản trong đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi cá nhân, gồm các lễ nghi truyền thống và tập tục. Từ góc độ pháp lý, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận là quyền cơ bản của con người được quy định trong Hiến pháp và pháp luật của các quốc gia. Bài viết nghiên cứu, phân tích, so sánh khung pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một số quốc gia trong hệ thống dân luật và cách thức quản trị sự đa dạng tôn giáo của các quốc gia này. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và quản lý hoạt động của các tôn giáo tại Việt Nam nhằm hài hòa và thúc đẩy công bằng xã hội.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Tăng cường công khai, minh bạch trong trình tự, thủ tục đấu giá tài sản

Tăng cường công khai, minh bạch trong trình tự, thủ tục đấu giá tài sản

Đây là 01 trong 05 chính sách được đề xuất tại phiên họp Hội đồng thẩm định chính sách Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) (chính sách Luật) do Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp) Nguyễn Quốc Hoàn chủ trì ngày 16/4. Tham dự phiên họp có đại diện Văn phòng Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nội vụ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường… cùng đại diện một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Tóm tắt: Triển khai tố tụng điện tử, gồm áp dụng văn bản số, chữ ký số, hồ sơ điện tử, quản trị dữ liệu điện tử, chia sẻ, kết nối liên thông giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự sẽ làm thay đổi phương thức bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của đối tượng yếu thế, tạo ra yêu cầu mới đối với hoạt động trợ giúp pháp lý. Trên cơ sở nhận diện khoảng trống pháp lý và thách thức trong hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực, cơ chế phối hợp và năng lực số, nghiên cứu phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra đối với hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự, từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật, tăng cường năng lực số, phát triển hạ tầng công nghệ và bảo đảm an toàn thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người được trợ giúp pháp lý trong điều kiện triển khai tố tụng điện tử.
Pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Trung Quốc và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Trung Quốc và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế nhất định, đặt ra yêu cầu phải sửa đổi nhằm đáp ứng thực tiễn quản trị hiện đại. Nghiên cứu tập trung đánh giá các khoảng trống pháp lý trên không gian mạng, sự phức tạp trong thủ tục hành chính hiện hành; đồng thời, đi sâu phân tích kinh nghiệm của Trung Quốc đối với mô hình quản lý tôn giáo trực tuyến và cơ chế hậu kiểm, từ đó, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Bằng việc sử dụng phương pháp so sánh luật học và phân tích chính sách, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các hướng hoàn thiện cụ thể: luật hóa trách nhiệm định danh trên môi trường số, thiết lập cơ chế quản trị nhiều bên và đẩy mạnh phân cấp quản lý gắn liền với việc khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Những giải pháp đó nhằm kiến tạo hành lang pháp lý vững chắc, góp phần bảo đảm quyền tự do tôn giáo hài hòa với lợi ích an ninh quốc gia.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Tiếp thu, chỉnh lý nhiều nội dung quan trọng trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tiếp thu, chỉnh lý nhiều nội dung quan trọng trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sáng ngày 14/4, tại Phiên họp thứ Nhất, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XVI cho ý kiến về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý đối với dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế tiếp cận thông tin, thích ứng với công cuộc chuyển đổi số

Hoàn thiện cơ chế tiếp cận thông tin, thích ứng với công cuộc chuyển đổi số

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ và yêu cầu minh bạch hóa hoạt động quản lý nhà nước ngày càng cao, việc sửa đổi Luật Tiếp cận thông tin đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của các đại biểu Quốc hội. Nhiều ý kiến tại nghị trường sáng ngày 12/4 đã tập trung làm rõ những vấn đề cốt lõi như bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân, nâng cao trách nhiệm của chính quyền cơ sở, thúc đẩy chuyển đổi số gắn với chất lượng dữ liệu, cũng như hoàn thiện quy trình cung cấp thông tin theo hướng minh bạch, thuận lợi và giảm thiểu thủ tục hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: