Chủ nhật 13/09/2026 12:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những điểm cần lưu ý trong quá trình thực hiện ủy thác tư pháp về dân sự tại Việt Nam

Thực hiện chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa và chủ trương chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, có hiệu quả[1], cho đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 180 quốc gia trong 193 quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc và có quan hệ thương mại với gần 230 quốc gia

Thực hiện chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa và chủ trương chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, có hiệu quả[1], cho đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 180 quốc gia trong 193 quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc và có quan hệ thương mại với gần 230 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, tham gia và là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế quan trọng. Bên cạnh các tác động tích cực, hội nhập quốc tế cũng làm phát sinh tác động tiêu cực mà hệ quả tất yếu là các vụ việc tranh chấp về dân sự, thương mại có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều. Để giải quyết được các vụ việc này, cần có sự hỗ trợ, hợp tác quốc tế, tương trợ tư pháp giữa các nước có liên quan.

Từ trước ngày 01/10/2016, cơ sở điều ước quốc tế cho việc thực hiện ủy thác tư pháp (UTTP) trong lĩnh vực dân sự của Việt Nam là 17 hiệp định/thỏa thuận tương trợ tư pháp song phương[2] (hiệp định song phương). Từ ngày 01/10/2016, Việt Nam chính thức là thành viên Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại (Công ước Tống đạt). Việc gia nhập Công ước Tống đạt với hơn 70 quốc gia thành viên đã tạo thêm cơ sở pháp lý quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu về tương trợ tư pháp, hỗ trợ tích cực cho hoạt động xét xử của các cơ quan tố tụng của Việt Nam. Bên cạnh đó, nhằm nội luật hóa các nội dung của Công ước Tống đạt và khắc phục những vướng mắc UTTP về dân sự trên thực tế, ngày 19/10/2016, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Tòa án nhân dân tối cao đã liên tịch ban hành Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao quy định trình tự, thủ tục ủy thác tư pháp về dân sự (Thông tư liên tịch số 12) thay thế Thông tư liên tịch số 15/2011/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 15/9/2011 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của Luật Tương trợ tư pháp.

Trên thực tế, các cơ quan có thẩm quyền Việt Nam vẫn còn lúng túng trong việc thực thi Công ước Tống đạt, thi hành các văn bản quy phạm pháp luật mới liên quan đến lĩnh vực tương trợ tư pháp như Thông tư liên tịch số 12. Do vậy, nhằm thống nhất áp dụng, hạn chế các yêu cầu UTTP của các cơ quan có thẩm quyền bị trả lại, các cơ quan có thẩm quyền yêu cầu UTTP về dân sự của Việt Nam ra nước ngoài cần lưu ý một số nội dung như sau:

1. Về quy trình ủy thác tư pháp về dân sự ra nước ngoài

Khi các cơ quan có thẩm quyền phát sinh yêu cầu UTTP về dân sự ra nước ngoài thì cần làm rõ một số nội dung như: Yêu cầu UTTP là tống đạt giấy tờ hay thu thập chứng cứ; quốc gia cần UTTP có hay không có điều ước quốc tế về TTTP trong lĩnh vực dân sự với Việt Nam... để lựa chọn quy trình UTTP phù hợp. Bên cạnh đó, theo điểm c, d khoản 2 Điều 11 Thông tư liên tịch số 12, trong trường hợp vụ việc cần UTTP có một hoặc nhiều đương sự có địa chỉ khác nhau hoặc có phạm vi UTTP khác nhau thì phải lập riêng hồ sơ UTTP cho từng đương sự hoặc từng phạm vi UTTP (Điều 10 của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007). Hiện nay, phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể, việc UTTP về dân sự ra nước ngoài của Việt Nam có thể thực hiện theo quy trình UTTP của hiệp định song phương; Công ước Tống đạt hoặc UTTP không có điều ước quốc tế.

1.1. Ủy thác tư pháp theo hiệp định thỏa thuận tương trợ tư pháp song phương

Theo các hiệp định song phương, Việt Nam và các nước ký hiệp định song phương đã cam kết phạm vi sẽ tương trợ tư pháp cho nhau, về cơ bản bao gồm: Tống đạt giấy tờ; thu thập, cung cấp chứng cứ và các yêu cầu UTTP khác và Bộ Tư pháp Việt Nam được chỉ định là đầu mối liên hệ về TTTP về dân sự. Do vậy, các cơ quan có thẩm quyền yêu cầu UTTP của Việt Nam[3] (cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam) sẽ lập hồ sơ UTTP theo quy định và gửi cho Bộ Tư pháp. Bộ Tư pháp sẽ có trách nhiệm tiếp nhận, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và chuyển giao các yêu cầu UTTP về dân sự của Việt Nam đến cơ quan trung ương của nước được yêu cầu.

1.2. Ủy thác tư pháp theo Công ước Tống đạt

Công ước Tống đạt là công ước áp dụng cho việc tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại đến hơn 70 quốc gia thành viên. Theo đó, các quốc gia thành viên có thể sử dụng kênh tống đạt chính qua cơ quan trung ương hoặc 07 kênh thay thế, bổ sung[4]. Tuy nhiên, khi gia nhập, Việt Nam đã tuyên bố bảo lưu kênh trực tiếp giữa cán bộ tư pháp và kênh trực tiếp giữa người có liên quan với cán bộ tư pháp nên quy trình UTTP theo Công ước Tống đạt của Việt Nam chỉ bao gồm 01 kênh tống đạt chính và 05 kênh thay thế, bổ sung. Quy trình UTTP tống đạt giấy tờ theo kênh chính của Công ước Tống đạt sẽ được tập trung làm rõ hơn bởi đây là kênh được các quốc gia thành viên Công ước ưu tiên áp dụng do tiết kiệm chi phí, thời gian tố tụng.

Các yêu cầu UTTP áp dụng theo kênh chính của Công ước Tống đạt sẽ xử lý theo quy trình gần giống với quy trình UTTP theo các hiệp định song phương, cụ thể: Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam → Bộ Tư pháp Việt Nam → Cơ quan trung ương của nước được yêu cầu → Cơ quan có thẩm quyền thực hiện yêu cầu UTTP của nước ngoài.

1.3. Ủy thác tư pháp trong trường hợp không có điều ước quốc tế

Trong trường hợp phát sinh yêu cầu UTTP giữa Việt Nam và nước được yêu cầu UTTP chưa ký hiệp định song phương về tương trợ tư pháp hoặc không cùng là thành viên của Công ước Tống đạt thì các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cũng có thể thực hiện việc UTTP trên cơ sở nguyên tắc “có đi có lại”. Theo đó, hồ sơ yêu cầu UTTP sẽ được xử lý theo quy trình 07 bước như sau: Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam → Bộ Tư pháp Việt Nam → Bộ Ngoại giao Việt Nam → Cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài → Bộ Ngoại giao của nước được yêu cầu → Cơ quan có thẩm quyền được chỉ định của nước được yêu cầu → Cơ quan có thẩm quyền thực hiện của nước được yêu cầu.

2. Về hồ sơ, chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài

Sau khi đã lựa chọn một trong các quy trình UTTP nêu trên, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cần lập hồ sơ theo đúng quy định của quy trình đã lựa chọn.

2.1. Ủy thác tư pháp theo hiệp định thỏa thuận tương trợ tư pháp song phương

a. Hồ sơ ủy thác tư pháp

Theo quy định, hồ sơ UTTP về dân sự của Việt Nam gửi theo quy trình UTTP theo hiệp định song phương sẽ bao gồm: Văn bản yêu cầu UTTP về dân sự gửi Bộ Tư pháp (Mẫu số 01)5; văn bản UTTP gửi cơ quan có thẩm quyền nước được UTTP (Mẫu số 02A), bản dịch ngôn ngữ đã thông báo trong hiệp định song phương; các giấy tờ, tài liệu khác phục vụ việc UTTP có kèm theo bản dịch; bản sao biên lai thu phí/lệ phí.

b. Về chi phí ủy thác tư pháp

Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, nếu phát sinh yêu cầu UTTP (tống đạt văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, …) thì đương sự làm phát sinh yêu cầu có nghĩa vụ thanh toán các chi phí UTTP bao gồm: Phí, lệ phí và chi phí thực tế phát sinh khi thực hiện UTTP.

Về chi phí thực tế: Chi phí thực tế thực hiện UTTP của Việt Nam ra nước ngoài theo Thông tư liên tịch số 12 bao gồm: Chi phí dịch thuật, công chứng, chi phí tống đạt hồ sơ UTTP ở nước ngoài… theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của quốc gia liên quan. Các chi phí thực tế phát sinh trong nước do người có nghĩa vụ nộp chi phí UTTP về dân sự (người có nghĩa vụ) thanh toán trực tiếp cho người cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên, đối với chi phí thực tế do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thu thì hầu hết các hiệp định song phương quy định hai bên thực hiện miễn phí cho nhau (trừ yêu cầu tống đạt giấy tờ, thu thập chứng cứ bằng phương thức đặc biệt). Do đó, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam khi lập hồ sơ không cần yêu cầu người có nghĩa vụ nộp chi phí thực tế cũng như tạm ứng chi phí thực tế theo khoản 2 Điều 7 Thông tư liên tịch số 12.

Về lệ phí, lệ phí UTTP: Hiện nay, lệ phí, phí UTTP sẽ được thu/nộp như sau:

Đối với các vụ việc thụ lý trước ngày 01/01/2017, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thông báo người có nghĩa vụ nộp phí UTTP ra nước ngoài theo Thông tư số 18/2014/TT-BTC ngày 11/02/2014 của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thực hiện ủy thác tư pháp về dân sự.

Đối với các vụ việc thụ lý sau ngày 01/01/2017, các cơ quan Tòa án có thẩm quyền yêu cầu người có nghĩa vụ nộp lệ phí UTTP ra nước ngoài theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; các cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh yêu cầu người có người có nghĩa vụ nộp phí UTTP ra nước ngoài theo Thông tư số 203/2016/TT-BTC ngày 09/11/2016 của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý phí thực hiện UTTP về dân sự có yếu tố nước ngoài.

Do đó, khi phát sinh yêu cầu UTTP, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cần căn cứ thời điểm thụ lý vụ việc để yêu cầu người có nghĩa vụ nộp lệ phí hoặc phí theo đúng quy định.

2.2. Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại

a. Về hồ sơ ủy thác tư pháp

Hồ sơ UTTP theo kênh chính của Công ước Tống đạt sẽ bao gồm: (i) Văn bản yêu cầu UTTP về dân sự gửi Bộ Tư pháp; (ii) Văn bản UTTP gửi cơ quan trung ương nước được yêu cầu UTTP (Mẫu số 02B). Văn bản này có thể làm bằng song ngữ hoặc được dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp hoặc ngôn ngữ của nước được yêu cầu; (iii) Các giấy tờ, tài liệu khác phục vụ việc UTTP kèm theo bản dịch sang ngôn ngữ của nước được yêu cầu; (iv) Bản sao biên lai thu phí/lệ phí và giấy tờ xác nhận đã thanh toán chi phí thực tế cho cơ quan có thẩm quyền nước ngoài/biên lai tạm ứng chi phí thực tế.

Mẫu 02B ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 12 là mẫu của Công ước Tống đạt được sử dụng chung cho các quốc gia thành viên khi yêu cầu tống đạt giấy tờ theo kênh chính. Do đó, khi sử dụng, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cần nghiên cứu và thực hiện đầy đủ các hướng dẫn tại phần Hướng dẫn thực hiện mẫu số 02B ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 12.

b. Về chi phí ủy thác tư pháp

Các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam yêu cầu người có nghĩa vụ nộp phí hoặc lệ phí UTTP như quy định đối với quy trình UTTP theo hiệp định song phương. Đối với thanh toán chi phí thực tế, khi các cơ quan có thẩm quyền đã lựa chọn quy trình UTTP tống đạt giấy tờ theo kênh chính của Công ước Tống đạt, cần lưu ý đến thông tin về chi phí, phương thức thu nộp của quốc gia cần UTTP đến. Cụ thể:

Đối với yêu cầu UTTP tống đạt giấy tờ đến các quốc gia thành viên Công ước Tống đạt đã có thông báo cụ thể về chi phí thực tế và phương thức thanh toán, cơ quan có thẩm quyền thông báo yêu cầu người có nghĩa vụ thanh toán chi phí UTTP này cho phía nước ngoài theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7 Thông tư liên tịch số 12. Ví dụ: Hoa Kỳ đã thông báo chi phí tống đạt giấy tờ thực tế là 95 đô la Mỹ và thanh toán bằng phương thức chuyển khoản trực tiếp cho Công ty ABC Legal trước khi chuyển hồ sơ. Do vậy, đối với yêu cầu tống đạt giấy tờ cho đương sự ở Hoa Kỳ, cơ quan có thẩm quyền cần thông báo cho người có nghĩa vụ chuyển khoản cho Công ty ABC Legal và sẽ không phải nộp tạm ứng chi phí UTTP (3.000.000 đồng).

Đối với yêu cầu UTTP tống đạt giấy tờ đến các quốc gia thành viên Công ước Tống đạt đã thông báo không thu/miễn phí chi phí thực hiện tống đạt giấy tờ, cơ quan có thẩm quyền không cần yêu cầu người có nghĩa vụ nộp chi phí thực tế cũng như tạm ứng chi phí thực tế theo khoản 2 Điều 7 Thông tư liên tịch số 12.

Đối với yêu cầu UTTP tống đạt giấy tờ đến các quốc gia thành viên Công ước Tống đạt chưa thông báo về chi phí thực tế hoặc đã thông báo có thu chi phí nhưng thu sau thì cơ quan có thẩm quyền thông báo yêu cầu người có nghĩa vụ nộp tạm ứng chi phí UTTP (3.000.000 đồng) tại cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 7 Thông tư liên tịch số 12. Ví dụ: Ô-xtrây-lia sẽ thông báo về chi phí và phương thức chuyển trả sau khi thực hiện yêu cầu tống đạt. Do đó, khi yêu cầu tống đạt giấy tờ sang Ô-xtrây-lia, các cơ quan có thẩm quyền cần yêu cầu người có nghĩa vụ nộp chi phí UTTP nộp tạm ứng 3.000.000 đồng để bảo đảm việc thanh toán chi phí cho phía Ô-xtrây-lia khi có thông báo cụ thể.

2.3. Ủy thác tư pháp trong trường hợp không có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự

- Về hồ sơ UTTP: Đối với các yêu cầu UTTP đến các quốc gia chưa ký kết điều ước quốc tế trong lĩnh vực TTTP về dân sự, hồ sơ UTTP bao gồm: (i) Văn bản yêu cầu UTTP về dân sự gửi Bộ Tư pháp (Mẫu số 01); (ii) Văn bản UTTP gửi cơ quan có thẩm quyền của nước được UTTP (Mẫu số 02A)[6] kèm theo bản dịch ngôn ngữ chính thức của nước được UTTP; (iii) Các giấy tờ theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước được yêu cầu (nếu có), bản dịch; (iv) Các giấy tờ, tài liệu khác phục vụ việc UTTP, bản dịch; (v) Bản sao biên lai thu phí/lệ phí và biên lai tạm ứng chi phí thực tế.

- Về chi phí UTTP: Đối với yêu cầu UTTP đến các quốc gia khác chưa ký kết điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp với Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cần thông báo, yêu cầu người có nghĩa vụ nộp tạm ứng chi phí UTTP (3.000.000 đồng) theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 7 Thông tư liên tịch số 12 để thanh toán chi phí thực tế trong trường hợp phát sinh tại nước được yêu cầu kịp thời. Đối với việc thu, nộp phí hoặc lệ phí UTTP ra nước ngoài áp dụng như quy trình UTTP theo hiệp định song phương.

3. Một số lưu ý khác

3.1. Tống đạt giấy tờ cho công dân Việt Nam ở nước ngoài

Đối với việc tống đạt giấy tờ cho công dân Việt Nam ở nước ngoài, theo khoản 2 Điều 26 Thông tư liên tịch số 12 thì việc tống đạt văn bản tố tụng cho công dân Việt Nam ở nước ngoài thông qua cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài sẽ được thực hiện theo quy định của thông tư liên tịch giữa Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Ngoại giao. Tuy nhiên cho đến nay, thông tư liên tịch này vẫn chưa được ban hành. Do đó, trong thời gian chờ ban hành thông tư liên tịch nêu trên, những yêu cầu tống đạt giấy tờ cho công dân Việt Nam ở nước ngoài có thể gửi trực tiếp cho cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước có công dân (điểm d khoản 1 Điều 474 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015); gửi bưu điện có bảo đảm cho công dân Việt Nam (điểm c khoản 1 Điều 474 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Ngoài ra, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thể lựa chọn sử dụng kênh chính của Công ước Tống đạt để tống đạt giấy tờ cho công dân Việt Nam hiện đang cư trú tại các quốc gia thành viên Công ước. Nếu sử dụng kênh chính, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cần lập hồ sơ, thanh toán chi phí thực tế như đã nêu tại mục II.2.

3.2. Lưu ý khi ủy thác tư pháp đến một số quốc gia

Bên cạnh thực hiện đúng các quy định về UTTP về dân sự trong các điều ước quốc tế và văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cần lưu ý đến các giấy tờ theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước được yêu cầu, ví dụ: Hồ sơ UTTP sang Xinh-ga-po cần phải có thêm văn bản gửi Bộ trưởng Bộ Pháp luật Xinh-ga-po kèm theo bản dịch tiếng Anh, trong đó nêu rõ yêu cầu UTTP; đối với Thái Lan, văn bản UTTP về dân sự phải được lập bằng hoặc dịch sang tiếng Anh hoặc tiếng Thái, trong đó nêu rõ sẽ áp dụng nguyên tắc có đi có lại với các yêu cầu UTTP của Thái Lan trong trường hợp tương tự, tất cả hồ sơ, bản dịch và tài liệu gửi kèm phải được chứng nhận lãnh sự...

Từ khi Công ước Tống đạt và các quy định mới về quy trình, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự có hiệu lực, các cơ quan có thẩm quyền yêu cầu UTTP của Việt Nam bước đầu làm quen với các quy trình UTTP, xây dựng hồ sơ tương ứng và thanh toán, tạm ứng các chi phí thực tế và sau đó có thể chủ động lựa chọn quy trình UTTP nhằm tiết kiệm thời gian, chi phí thực tế. Bên cạnh đó, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cũng cần thường xuyên theo dõi, cập nhật thông tin của các quốc gia là thành viên Công ước Tống đạt tại trang điện tử của Công ước và Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.

Nguyễn Thị Hoa

Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế.

[2]. Tiệp Khắc (Séc và Slovakia kế thừa), Cuba, Hung-ga-ri, Bun-ga-ri, Ba Lan, Lào, Liên bang Nga, Trung Quốc, Pháp, U-crai-na, Mông Cổ, Bê-la- rút, Triều Tiên, An-giê- ri, Ca-dắc- xtan, Cam-pu-chia, Đài Loan.

[3]. Cơ quan có thẩm quyền yêu cầu ủy thác tư pháp của Việt Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Thông tư liên tịch số 12.

[4]. Kênh ngoại giao, lãnh sự trực tiếp; kênh ngoại giao gián tiếp; kênh lãnh sự gián tiếp; kênh trực tiếp giữa cán bộ tư pháp; kênh trực tiếp giữa người có liên quan với cán bộ tư pháp; kênh bưu điện; kênh khác.

[5]. Mẫu số 01, 02A ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 12.

[6]. Mẫu số 01, 02A ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 12.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.

Theo dõi chúng tôi trên: