Chủ nhật 13/09/2026 04:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về cho thuê đất đối với doanh nghiệp - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện

Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất và Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước đã cụ thể hóa Điều 108 Luật Đất đai năm 2013. Để tính tiền thuê đất phải thực hiện xác định giá đất cụ thể tại thời điểm Nhà nước cho thuê đất và tính khấu trừ tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo phương án đã được phê duyệt vào tiền thuê đất.

1. Thực trạng quy định pháp luật về cho thuê đất đối với doanh nghiệp

Hệ thống chính sách, pháp luật về cho thuê đất đối với doanh nghiệp thời gian qua liên tục được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện đã phần nào khắc phục được những hạn chế, bất cập, phù hợp hơn với những đòi hỏi thực tiễn của hoạt động cho thuê đất đối với doanh nghiệp. Khung pháp lý về cho thuê đất đối với doanh nghiệp tương đối đầy đủ và ngày càng hoàn thiện như: Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Đất đai năm 2013, Luật Đầu tư năm 2020, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về giá đất; Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước; Nghị định số 135/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước; Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai; Thông tư số 77/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Nghị định số 46/2014/NĐ-CP… Về cơ bản, các quy định trên đã kịp thời khắc phục được các nội dung chồng chéo, chưa nhất quán của những văn bản đã ban hành trước đây. Phần lớn các văn bản trên phù hợp với thực tiễn, phát huy hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước về cho thuê đất nói chung và cho thuê đất đối với doanh nghiệp nói riêng. Tuy nhiên, bên cạnh đó, một số quy định pháp luật về cho thuê đất đối với doanh nghiệp vẫn phát sinh những bất cập và hạn chế như sau:

Thứ nhất, căn cứ để cho thuê đất vẫn còn bất cập, chưa bao quát các trường hợp cho thuê đất phát sinh trong thực tiễn.

Quy định về căn cứ cho thuê đất như hiện nay không phân tách rõ các trường hợp cho thuê đất thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất; các trường hợp cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án sử dụng đất. Việc quy định về căn cứ cho thuê đất chung chung như hiện nay sẽ gây ra khó khăn cho các doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục thuê đất.

Thứ hai, quy định về điều kiện để doanh nghiệp thuê đất thông qua đấu giá quyền sử dụng đất chưa thực sự chặt chẽ.

Khoản 1 Điều 39 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 quy định về tiền đặt trước và xử lý tiền đặt trước đối với các nhà đầu tư tham gia đấu giá chưa thực sự chặt chẽ dẫn đến tình trạng “bỏ cọc” của nhiều nhà đầu tư sau khi đã đấu giá thành công quyền sử dụng đất. Việc “bỏ cọc” dẫn đến rất nhiều hệ lụy khó lường và ảnh hưởng nghiêm trọng đến thị trường bất động sản[1].

Đối với những trường hợp Nhà nước cho doanh nghiệp thuê đất theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất đã thể hiện công khai, minh bạch bằng cơ chế thị trường nhằm tạo cho các nhà đầu tư chủ động, linh hoạt trong việc tiếp cận đất đai. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp cho thuê đất không theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất mà được các địa phương thực hiện theo hình thức chỉ định bằng biện pháp hành chính. Theo đó, cơ chế “xin - cho” vẫn “ngầm” đang được áp dụng như một thứ quyền lực hiển nhiên từ chính quyền địa phương khi phân bổ, điều chỉnh đất đai cho các chủ thể sử dụng đất, mà chưa thực sự mang tính “kiến tạo”, khuyến khích và thu hút nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các nhà đầu tư, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội trong việc sử dụng đất, đặc biệt đối với các dự án đầu tư liên quan đến đất nông nghiệp, đất sản xuất phi nông nghiệp… Thực trạng đó tạo ra hậu quả của việc cạnh tranh thiếu công bằng, thiếu lành mạnh và bất bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; là trở lực đối với các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận đất đai; là rào cản lớn trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển. Từ đó, xuất hiện tình trạng thâu tóm nguồn lực đất đai của các doanh nghiệp lớn, hạn chế cơ hội và khả năng đầu tư của các doanh nghiệp khác[2].

Thứ ba, quy định về xác định giá đất khi Nhà nước cho thuê đất chưa phù hợp với thực tế.

Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất và Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước đã cụ thể hóa Điều 108 Luật Đất đai năm 2013. Để tính tiền thuê đất phải thực hiện xác định giá đất cụ thể tại thời điểm Nhà nước cho thuê đất và tính khấu trừ tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo phương án đã được phê duyệt vào tiền thuê đất.

Tuy nhiên, hiện nay, giá đất theo quy định của Nhà nước thường chưa tương thích với giá thị trường, thậm chí là thấp hơn nhiều so với giá thị trường. Vì thế, nhiều dự án được Nhà nước cho thuê đất nhưng việc xác định giá đất bị kéo dài, chậm huy động nguồn thu ngân sách nhà nước, làm chậm trễ việc triển khai thực hiện dự án, gây lãng phí nguồn lực đất đai, làm giảm hiệu quả đầu tư, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Thứ tư, công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư còn có nhiều trường hợp kéo dài gây khó khăn cho chủ đầu tư thực hiện dự án do người bị thu hồi đất không chấp nhận giá đền bù đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc Nhà nước cho doanh nghiệp thuê đất để thực hiện dự án đầu tư.

Thứ năm, thu tài chính từ đất đai là một nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nướcc, chiếm khoảng 8 - 12% tỷ lệ thu ngân sách của các tỉnh, thành, gồm các loại thuế, phí đất đai như tiền sử dụng đất; tiền thuê đất; thuế sử dụng đất; thuế thu nhập khi chuyển quyền sử dụng đất; phí và lệ phí về đất đai; khoản thu khác… Tuy nhiên, thời gian qua cho thấy, công tác kiểm soát việc thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai nói chung và kiểm soát việc thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, tiềm ẩn rủi ro lãng phí, thất thoát, tạo kẽ hở cho các đối tượng lợi dụng trốn tránh, giảm thiểu nghĩa vụ tài chính phải nộp. Đó là việc chỉ định nhà đầu tư dự án có sử dụng đất không đúng đối tượng mà không thông qua phương thức đấu thầu rộng rãi; bán chỉ định đất công cho nhà đầu tư với giá thấp so với giá thị trường; lỏng lẻo trong quá trình thực hiện chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, nhất là doanh nghiệp có nhiều quỹ đất có giá trị cao; lỏng lẻo trong quá trình thực hiện chủ trương thoái vốn Nhà nước tại các công ty cổ phần có quỹ đất lớn; thực hiện đầu tư theo phương thức hợp tác công - tư theo hình thức chỉ định nhà thầu dẫn đến việc nhà thầu kiêm nhà đầu tư dự án bất động sản có thể vừa được nhận thầu công trình với giá tốt, lại vừa được nhận quỹ đất phát triển dự án bất động sản với lợi nhuận rất cao.

Đặc biệt, một số cơ quan, đơn vị đang sử dụng mặt bằng đất công đã thực hiện hợp tác đầu tư với doanh nghiệp tư nhân để phát triển dự án kinh doanh, dịch vụ, nhưng giá trị mặt bằng chưa được cơ quan có thẩm quyền thẩm định lại giá trị sau khi đã cho chuyển đổi mục đích sử dụng; tình trạng cho thuê đất công với giá thấp so với giá thị trường; chuyển nhượng quỹ đất dự án của doanh nghiệp nhà nước cho tư nhân với giá thấp hơn giá thị trường; thỏa thuận ngầm giữa cán bộ nhà nước và doanh nghiệp để giảm thiểu khoản tiền sử dụng đất mà chủ dự án bất động sản phải nộp…

2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về cho thuê đất đối với doanh nghiệp

Trên cơ sở đánh giá thực trạng pháp luật về cho thuê đất đối với doanh nghiệp, pháp luật về cho thuê đất đối với doanh nghiệp cần được hoàn thiện dựa trên các giải pháp chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, bên cạnh những căn cứ, điều kiện cho thuê đất chung, căn cứ và điều kiện cho thuê đất đối với doanh nghiệp cần được quy định chi tiết cho từng trường hợp.

Luật Đất đai năm 2013 đã quy định khá chi tiết các căn cứ và điều kiện cho thuê đất đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng pháp luật về cho thuê đất đối với doanh nghiệp vào thực tiễn phát sinh những bất cập về các căn cứ và điều kiện cho thuê đất. Do đó, Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi cần quy định rõ các căn cứ như: Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin thuê đất là các căn cứ chung để cân nhắc, xem xét việc cho doanh nghiệp thuê đất; bên cạnh đó, Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi cần bổ sung căn cứ, điều kiện riêng cho từng trường hợp cụ thể. Mục đích hướng đến trong cả hai trường hợp trên là bảo đảm sự công bằng, thuận lợi trong việc tiếp cận đất của các chủ thể và bảo đảm đất được trao cho đúng chủ thể, được khai thác, sử dụng đúng mục đích.

Đối với trường hợp cho thuê đất thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất thì căn cứ vào văn bản phê duyệt kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Thứ hai, làm rõ hơn nữa cơ chế cho thuê đất đối với đất đang có người sử dụng để doanh nghiệp thuê đất.

Việc Nhà nước quyết định cho thuê đất đối với đất đang có người sử dụng để cho doanh nghiệp thuê đất chỉ được thực hiện sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất và phải thực hiện xong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay, Luật Đất đai năm 2013 vẫn duy trì cơ chế hành chính về thu hồi đất của người dân để giao đất cho doanh nghiệp thực hiện một số dự án đầu tư vì mục đích kinh doanh (dự án đầu tư khu đô thị mới, xây dựng nhà ở thương mại…). Các dự án này rõ ràng vì mục đích kinh doanh, lợi nhuận của doanh nghiệp nhưng Nhà nước lại thực hiện cơ chế hành chính thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người dân để giao đất, cho thuê đất đối với doanh nghiệp. Do đó, người dân thường phản đối, khiếu nại, gây khó khăn cho quá trình triển khai dự án và chính nhà đầu tư. Do đó, trong thời gian tới, Dự thảo Luật Đất sửa đổi đai cần sửa đổi theo hướng áp dụng cơ chế thỏa thuận giữa người dân và doanh nghiệp khi thu hồi đất của người dân để cho doanh nghiệp thuê đất trong những trường hợp trên.

Thứ ba, tiếp tục bảo đảm quyền, lợi ích của doanh nghiệp thuê đất.

Luật Đất đai năm 2013 nên được sửa đổi theo hướng tạo cơ chế thích đáng cho những doanh nghiệp sử dụng đất trong vùng ô nhiễm mà nguồn gốc đất của họ là thuê đất trả tiền một lần cho toàn bộ thời gian sử dụng và doanh nghiệp thuê đất trả tiền hàng năm.

Để bảo đảm tính công bằng và bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp đang sử dụng đất nằm ở khu vực ô nhiễm môi trường do các yếu tố khách quan, dẫn đến doanh nghiệp cần di chuyển đi nơi khác thì pháp luật cần phải có ưu tiên cho những doanh nghiệp này bằng việc cho thuê đất (thuê đất trả tiền thuê hàng năm và thuê đất trả tiền thuê một lần) bằng cơ chế hành chính, mà không phải thực hiện theo cơ chế thị trường.

Trong trường hợp cho thuê đất thông qua cơ chế hành chính, cần quy định rõ hơn, cụ thể hơn, dễ định lượng hơn về các căn cứ như: Nhu cầu sử dụng đất của doanh nghiệp, điều kiện để doanh nghiệp được Nhà nước cho thuê đất theo cơ chế hành chính (năng lực tài chính, quản lý, vận hành dự án, kinh nghiệm trên thương trường, uy tín trên thương trường…); sự phù hợp của mục đích dự án với kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Thứ tư, xây dựng giá đất bảo đảm sát thực hơn và phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường.

Hiện nay, với sự ra đời của Luật Đất đai năm 2013, pháp luật cũng đã phần nào khắc phục được những hạn chế trong quy định về giá đất cho thuê đất bằng cách quy định hai loại giá đất, đó là giá đất theo “bảng giá đất” và “giá đất cụ thể”. Bảng giá đất được xây dựng định kỳ 05 năm một lần và công bố công khai vào ngày 01/01 của năm đầu kỳ. Do tính chất ổn định của bảng giá đất nên nó được sử dụng làm căn cứ để tính các nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất. Còn “giá đất cụ thể” được xác định ở một thời điểm nhất định, phải dựa trên cơ sở điều tra, thu thập thông tin về thửa đất, giá đất thị trường và thông tin về giá đất trong cơ sở dữ liệu đất đai. Quy định này giúp cho giá đất khi tính tiền thuê đất được sát thực hơn và phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường, nhằm đảm bảo quyền lợi cho doanh nghiệp thuê đất. Tuy nhiên, giá đất cụ thể là gì, xác định giá đất cụ thể như thế nào, từ thời điểm xác định giá đất đến khi người dân được nhận tiền bồi thường trong khoảng thời gian bao lâu để bảo đảm giá đất bồi thường được chính xác, công bằng. Điều này liên quan đến quy trình xác định giá đất, đòi hỏi pháp luật phải có những hướng dẫn rõ ràng hơn trong văn bản hướng dẫn thi hành.

Thứ năm, hoàn thiện các quy định về thông tin, cơ sở dữ liệu đất đai góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai.

Hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai là công cụ giúp Chính phủ kiểm soát tốt nhất tài nguyên đất, cung cấp dịch vụ công tốt nhất cho người dân, mở rộng khả năng tiếp cận đất đai cho người dân và doanh nghiệp. Hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia được quản lý thống nhất, tập trung bảo đảm đồng bộ, chính xác, tin cậy, bảo mật thông tin để có thể chia sẻ sử dụng cho nhiều đối tượng khác nhau, bao gồm các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và người nước ngoài.

Bên cạnh đó, việc định giá đất, xây dựng bản đồ giá đất cần gắn với hệ thống xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính, quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất. Các nhà quản lý cần tính toán kỹ càng và xác định rõ ràng mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch xây dựng đô thị nhằm tránh hiện tượng mâu thuẫn, chồng chéo giữa các loại quy hoạch; tránh lãng phí nguồn tài nguyên đất đai, đặc biệt là đất trồng lúa khi lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Hạn chế tối đa và tiến tới chấm dứt việc điều chỉnh hoặc quyết định xem xét lại dự án. Nếu cần thiết phải điều chỉnh quy hoạch cần thực hiện đầy đủ quy trình pháp luật quy định, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cũng như trách nhiệm của các cơ quan trong việc thực thi công việc này. Đồng thời, việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất sẽ được hoàn thiện và mang tính thực tiễn hơn khi có sự tham gia đóng góp ý kiến của các chuyên gia trong các lĩnh vực đất đai, môi trường, kinh tế, tài chính và của người dân nơi thực hiện dự án.

Đối với sự phát triển của nền kinh tế, vấn đề cho thuê đất nói chung và cho thuê đất đối với doanh nghiệp nói riêng được coi là một lĩnh vực đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp với hoạt động của tất cả các ngành kinh tế. Suy cho cùng, các doanh nghiệp trong và ngoài nước muốn đầu tư hiệu quả trước hết cần có mặt bằng là đất đai để đầu tư. Với tốc độ phát triển kinh tế ngày càng cao hiện nay và phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn pháp luật về cho thuê đất đối với doanh nghiệp, từ đó đưa ra những định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật là hết sức cần thiết.

ThS. Hoàng Thị Thu Phương & Dương Thị Thắm

Trường Cao đẳng Luật miền Trung


[1] Vụ “bỏ cọc” 24.000 tỷ sau khi đấu giá quyền sử dụng đất thành công Khu chức năng số 3 tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm của công ty TNHH Đầu tư bất động sản Ngôi sao Việt (thuộc tập đoàn Tân Hoàng Minh) đã gây nên biến động lớn đến thị trường bất động sản tại Thủ Thiêm nói riêng và của Thành phố Hồ Chí Minh nói chung.

[2] TS. Phạm Hoàng Linh (2022), Pháp luật về giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư: Một số bất cập và hướng hoàn thiện, http://lapphap.vn/Pages/TinTuc/211006/Phap-luat-ve-giao-dat--cho-thue-dat-de-thuc-hien-du-an-dau-tu--mot-so-bat-cap-va-huong-hoan-thien.html, Khoa Luật, Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học Thành phố Hồ Chí Minh, truy cập ngày 14/3/2023.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.

Theo dõi chúng tôi trên: