Thứ tư 06/05/2026 21:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy

Đây là một trong những nội dung được trao đổi, thảo luận tại phiên họp Hội đồng thẩm định hồ sơ dự án Luật Phòng, chống ma túy (sửa đổi) do Bộ Tư pháp tổ chức ngày 01/7/2025. Vụ trưởng Vụ Pháp luật hình sự - hành chính Nguyễn Thị Hạnh chủ trì phiên họp Hội đồng thẩm định.
Tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy
Toàn cảnh phiên họp.

Tham dự phiên họp có các thành viên của Hội đồng thẩm định là đại diện của các cơ quan: Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; Bộ Công Thương; Bộ Y tế; Bộ Quốc phòng; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch… và đại diện một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.

Tại phiên họp Hội đồng thẩm định, đại diện Bộ Công an cho biết, dự án Luật được xây dựng trên cơ sở bám sát các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về hoàn thiện sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, bảo đảm đồng bộ với việc tiếp tục tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy; cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; đồng thời, kế thừa các quy định còn phù hợp, khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021, đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy.

Tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy
Đại diện Bộ Công an trao đổi tại phiên họp.

Về bố cục dự thảo Luật, đồng chí nhấn mạnh, dự thảo Luật gồm 08 chương, 52 điều, trong đó, giữ nguyên 18 điều; sửa đổi, bổ sung 28 điều; bổ sung 06 điều; bỏ 09 điều của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; đồng thời, sửa đổi, bổ sung 18 điều, bỏ 04 điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính với một số nội dung sửa đổi, bổ sung như: Sửa đổi, bổ sung quy định về giải thích từ ngữ tại Điều 2 để phù hợp với thực tiễn như sau: “Tiền chất là hóa chất cần thiết trong quá trình điều chế, sản xuất chất ma túy được quy định trong danh mục tiền chất do Chính phủ ban hành”, vì các hóa chất có thể sử dụng để sản xuất ma túy rất đa dạng, có thể thay thế nhau, do vậy, cần chỉnh sửa để bảo đảm tính chính xác...; bổ sung “quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy” vào trách nhiệm của cá nhân, gia đình tại khoản 3 Điều 6 và của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và tổ chức khác tại khoản 3 Điều 10 để bảo đảm thống nhất với quy định tại Điều 25 về trách nhiệm của gia đình, cơ quan, tổ chức, cộng đồng trong quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy; chỉnh lý kỹ thuật khoản 2 Điều 7 bảo đảm phù hợp với chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; bổ sung khoản 4 Điều 26 quy định “Công an cấp xã ra quyết định tạm đình chỉ quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp người đó chấp hành biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Thời gian tạm giữ, tạm giam được tính vào thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy” do trên thực tế, các cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam có trách nhiệm quản lý đối với người sử dụng trái phép chất ma túy phải chấp hành biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam; bổ sung quy định cơ sở cai nghiện ma túy tại Điều 27 bao gồm: (i) Cơ sở cai nghiện ma túy công lập: Thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện, bắt buộc cho người từ đủ 18 tuổi trở lên; (ii) Trường giáo dưỡng: Thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện, bắt buộc cho người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi; (iii) Cơ sở cai nghiện ma túy tư nhân: Thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện cho người từ đủ 12 tuổi trở lên....

Trao đổi về nội dung dự thảo Luật, các đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu một số nội dung:

Thứ nhất, về nội dung khoản 6 Điều 2 dự thảo Luật giải thích thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản có chứa tiền chất, đại biểu cho biết, hiện nay, một số sản phẩm, hàng hóa có chứa tiền chất được phép xuất, nhập khẩu. Tuy nhiên, dự thảo Luật chỉ đề cập đến thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản có chứa tiền chất. Trên cơ sở đó, đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu bổ sung các sản phẩm, hàng hóa khác có chứa tiền chất ngoài thức ăn chăn nuôi và thức ăn thủy sản.

Thứ hai, đối với mô hình cơ sở cai nghiện ma túy tư nhân thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện cho người từ đủ 12 tuổi trở lên tại điểm c khoản 1 Điều 27 dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu quy định cụ thể loại hình cơ sở cai nghiện ma túy tư nhân tại dự thảo Luật để bảo đảm quyền được học văn hóa cho những người trong độ tuổi này.

Thứ ba, cơ quan chủ trì soạn thảo cần rà soát, sử dụng thống nhất một trong các cụm từ sau: Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cơ quan có thẩm quyền.

Tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy
Đại biểu trao đổi tại phiên họp.

Thứ tư, dự thảo Luật đã bỏ cụm từ “các chất dạng thuốc phiện” trong “điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế” tại khoản 3 Điều 6. Về nội dung này, đại biểu cho biết, trên thế giới cũng như tại Việt Nam, chỉ có thuốc thay thế điều trị nghiện áp dụng cho các chất dạng thuốc phiện và chưa có thuốc thay thế cho các loại ma túy tổng hợp hoặc ma túy mới. Do đó, đại biểu đề nghị giữ lại cụm từ “các chất dạng thuốc phiện” như trong Luật hiện hành để bảo đảm tính chính xác về mặt chuyên môn và phù hợp với thực tiễn điều trị.

Thứ năm, cơ quan chủ trì soạn thảo cần làm rõ căn cứ khoa học, dữ liệu thực tiễn về thời hạn cai nghiện ma túy là 24 tháng đối với người cai nghiện ma túy lần đầu và 36 tháng đối với người cai nghiện ma túy từ lần hai trở lên tại khoản 1 Điều 28 dự thảo Luật trong trường hợp cai nghiện tự nguyện và bắt buộc, đồng thời cần chỉ rõ thời gian tối thiểu trong mỗi giai đoạn của quy trình cai nghiện để bảo đảm hiệu quả điều trị và hạn chế nguy cơ tái nghiện.

Tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy
Đồng chí Nguyễn Thị Hạnh, Vụ trưởng Vụ Pháp luật hình sự - hành chính phát biểu kết luận phiên họp.

Phát biểu kết luận phiên họp, đồng chí Nguyễn Thị Hạnh, Vụ trưởng Vụ Pháp luật hình sự - hành chính đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo lưu ý một số nội dung sau: (i) Dự thảo Luật cần được đặt trong bối cảnh tổng thể các luật và các đề án, chương trình của Bộ Công an; (ii) Cần quy định cụ thể, tường minh các nội dung liên quan đến tái hòa nhập cộng đồng; (iii) Bổ sung kinh nghiệm của các nước trên thế giới về phòng, chống ma túy; (iv) Về nội dung phân cấp, phân quyền tại dự thảo Luật, cơ quan chủ trì soạn thảo cần phân định lại nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân cấp xã bảo đảm hợp lý hơn...

Thùy Dung

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cắt giảm nhiều ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện

Cắt giảm nhiều ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện

Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về cắt giảm ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đã quy định sửa đổi 14 ngành, nghề đầu tư kinh doanh; bãi bỏ 60 ngành, nghề thuộc 12 nhóm ngành, nghề do bộ, cơ quan ngang bộ quản lý và 01 nhóm ngành, nghề chưa xác định điều kiện kinh doanh hoặc chưa xác định cơ quan quản lý.
Xây dựng môi trường kinh doanh bất động sản thông thoáng, minh bạch, an toàn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân

Xây dựng môi trường kinh doanh bất động sản thông thoáng, minh bạch, an toàn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân

Chính sách xây dựng Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) tập trung hoàn thiện các quy định hiện hành liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản; làm rõ quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia thị trường; đồng thời tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý

Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý

Chiều ngày 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý. Kết quả biểu quyết có 494/494 đại biểu Quốc hội có mặt tham gia biểu quyết tán thành với việc thông qua Luật này, chiếm tỷ lệ 100% số đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết và chiếm 98,80% tổng số đại biểu Quốc hội.
Quốc hội thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) với tỷ lệ 98,40%

Quốc hội thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) với tỷ lệ 98,40%

Tiếp tục Kỳ họp thứ Nhất, chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội khóa XVI biểu quyết thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả biểu quyết cho thấy, có 492/493 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành thông qua luật này (chiếm tỷ lệ 98,04% số ĐBQH).
Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng

Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI, chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, các đại biểu tiến hành biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Quốc hội thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60%

Quốc hội thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60%

Chiều ngày 23/4, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, với sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, các đại biểu Quốc hội đã tiến hành biểu quyết thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60% tán thành.
Bảo đảm chính sách ưu tiên đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Bảo đảm chính sách ưu tiên đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Các chính sách của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) được xây dựng nhằm giải quyết các hạn chế, khó khăn, vướng mắc do quy định của Luật năm 2012; đồng thời đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đa dạng phương thức, truyền thông chính sách ngay từ khi soạn thảo.
Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với 492/492 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (đạt tỷ lệ 100%).
Thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất để quản lý viên chức theo vị trí việc làm

Thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất để quản lý viên chức theo vị trí việc làm

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, chiều ngày 22/4/2026, Bộ Tư pháp tổ chức cuộc họp Hội đồng thẩm định đối với dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định về vị trí việc làm (dự thảo Nghị định). Đồng chí Nguyễn Thị Hạnh, Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp chủ trì cuộc họp. Tham dự cuộc họp có đồng chí Trương Hải Long, Thứ trưởng Bộ Nội vụ và các thành viên Hội đồng thẩm định gồm đại diện các bộ Công an, Quốc phòng, Tài chính, Ngoại giao, Khoa học và Công nghệ, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Y tế, Giáo dục và Đào tạo; Sở Nội vụ thành phố Hà Nội và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định quan trọng, góp phần bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Bài viết phân tích các rào cản pháp lý và thực tiễn trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam, thông qua phân tích, so sánh giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù khuôn khổ pháp lý đã bước đầu được thiết lập, nhưng tồn tại một số hạn chế liên quan đến phạm vi thông tin, chủ thể cung cấp, cơ chế phân loại thông tin, phương thức cung cấp và giám sát thực thi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.
Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam đang định hình ranh giới giữa minh bạch thông tin và quyền riêng tư với việc ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, cùng dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (dự thảo Luật). Điều này dẫn đến nguy cơ xung đột giữa quyền được biết của công chúng với quyền riêng tư của cá nhân. Bài viết làm rõ về bản chất pháp lý giữa khái niệm “thông tin” và “dữ liệu cá nhân”, đồng thời, đánh giá quy định tại dự thảo Luật, đặc biệt là cơ chế “tiếp cận có điều kiện” đối với thông tin liên quan đến đời tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân và so sánh với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam thông qua giới hạn ngoại lệ, xây dựng quy trình đánh giá lợi ích công và biện pháp hài hòa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 trong kỷ nguyên số.
Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Chế định cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp là cơ chế pháp lý quan trọng để bảo đảm thực thi quyền tiếp cận thông tin. Nghiên cứu phân tích nội dung chế định này theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, chỉ ra một số hạn chế trong quá trình triển khai thi hành, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Thụy Điển và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định trong dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) ở Việt Nam.
Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin, đặc biệt là thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ trở thành chuẩn mực quan trọng của quản trị dân chủ và Nhà nước pháp quyền trên thế giới. Nội dung và cũng là yêu cầu cốt lõi trong bảo đảm quyền này là cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp, bên cạnh nghĩa vụ chủ động công bố thông tin của các cơ quan công quyền. Nghiên cứu phân tích quy định về cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới và theo Luật mẫu của ARTICLE 19, làm rõ những ưu điểm về bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cơ chế cung cấp thông tin hiệu quả theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp không chỉ gồm quy định về chủ thể có quyền và trách nhiệm, mà còn gắn với các yếu tố như cơ chế giám sát độc lập, chuẩn hóa quy trình xử lý yêu cầu và ứng dụng công nghệ số trong quản lý, cung cấp thông tin. Trên cơ sở đó, nghiên cứu, đề xuất Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc một số kinh nghiệm có giá trị trong việc hoàn thiện khung pháp luật về cung cấp thông tin theo yêu cầu, đặc biệt, trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, thúc đẩy quản trị minh bạch và phát triển Chính phủ số.

Theo dõi chúng tôi trên: