Thứ tư 23/09/2026 06:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tháo gỡ vướng mắc về thể chế trong lĩnh vực tài chính, ngân sách

Sáng 29/10, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải, Quốc hội nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán; Luật Kế toán; Luật Kiểm toán độc lập; Luật Ngân sách nhà nước; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công; Luật Quản lý thuế; Luật Dự trữ quốc gia.

Tại Kỳ họp, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc trình bày Tờ trình về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Quản lý thuế và Luật Dự trữ quốc gia (1 luật sửa 7 luật). Theo đó, ngày 18/10/2024, Chính phủ đã ký Tờ trình số 678/TTr-CP gửi Quốc hội về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 7 luật trên theo trình tự, thủ tục rút gọn.

Quốc hội nghe Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc trình bày Tờ trình về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 7 luật

Đối với Luật Chứng khoán: Chính phủ đề xuất Hoàn thiện các quy định để tăng cường công tác giám sát và xử lý nghiêm các hành vi gian lận, lừa đảo trong hoạt động phát hành, chào bán chứng khoán, quy định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan, bảo đảm hiệu quả phòng ngừa, xử lý vi phạm trên thị trường chứng khoán, đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định về: (i) Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân liên quan đến hồ sơ, tài liệu báo cáo; (ii) Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán; (iii) Hủy bỏ đợt chào bán.

Đối với Luật Kế toán: Nội dung sửa đổi, bổ sung hướng tới 2 nhóm mục tiêu chính: Một là áp dụng chuẩn mực quốc tế về kế toán; tháo gỡ khó khăn cho các đơn vị kế toán; đơn giản hóa nội dung công tác kế toán, chứng từ kế toán nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu quản lý; hỗ trợ hoạt động chuyển đổi số; nâng cao tính minh bạch và tuân thủ báo cáo tài chính của đơn vị kế toán. Hai là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, nâng cao năng lực quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kế toán; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp người làm kế toán.

Đối với Luật Kiểm toán độc lập: Nội dung sửa đổi, bổ sung hướng tới 3 nhóm mục tiêu chính: (1) Một là tăng cường hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý Nhà nước đối với Kiểm toán độc lập, góp phần ổn định và phát triển kinh tế; (2) Hai là nâng cao chất lượng Kiểm toán độc lập, tăng cường độ tin cậy các thông tin phục vụ quản lý, điều hành các hoạt động kinh tế; (3) Ba là mở rộng các đối tượng cần được kiểm toán bắt buộc, đảm bảo đầy đủ thông tin tin cậy phục vụ quản lý nhà nước và ra quyết định.

Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc

Về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân sách nhà nước: Chính phủ đề xuất sửa đổi, bổ sung cơ chế cho phép các địa phương sử dụng ngân sách địa phương để thực hiện đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng của ngân sách cấp trên trực tiếp trên địa bàn, hỗ trợ các địa phương khác và chi viện trợ.

Chính phủ cũng đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về chi ngân sách Nhà nước thực hiện một số nhiệm vụ từ cả nguồn chi đầu tư và thường xuyên như chuẩn bị, phê duyệt dự án đầu tư công sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài; lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư; lập, thẩm định, quyết định đầu tư dự án; chi phí lập, thẩm định nhiệm vụ lập quy hoạch, tổ chức lập quy hoạch, thẩm định, công bố, rà soát, đánh giá và điều chỉnh quy hoạch; mua sắm, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp tài sản, trang thiết bị; chi thuê hàng hóa, dịch vụ; sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới hạng mục công trình trong các dự án đã đầu tư xây dựng.

Về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công: Chính phủ đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định về việc áp dụng pháp luật giữa Luật Quản lý, sử dụng tài sản công với các văn bản quy phạm pháp luật khác, bao gồm (i) Bổ sung quy định cụ thể việc quản lý, sử dụng, khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai, tài nguyên được thực hiện theo quy định của pháp Luật về đất đai, tài nguyên và pháp luật có liên quan; (ii) Bổ sung quy định việc sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế; việc quản lý, sử dụng tài sản công tại doanh nghiệp được thực hiện theo các quy định có liên quan, không phải thực hiện sắp xếp lại theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công.

Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Trần Quang Phương và các ĐBQH tham dự Kỳ họp

Đối với Luật Quản lý thuế: Tháo gỡ vướng mắc về cơ chế chính sách, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý thuế, tăng cường trách nhiệm công vụ để đảm bảo công bằng, bình đẳng, minh bạch, thống nhất trong hệ thống văn bản pháp luật, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định về: (i) Mức tiền phải trả lãi; (ii) Thẩm quyền quyết định hoàn thuế; (iii) Nguyên tắc quản lý thuế; (iv) Hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trong trường hợp xuất cảnh; (v) Biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế; (vi) Quy tắc xác định thời gian tính tiền chậm nộp.

Đối với Luật Dự trữ quốc gia: Tạo cơ sở pháp lý rõ ràng trong các trường hợp Lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã sử dụng nguồn gạo dự trữ quốc gia để làm quà tặng (viện trợ nước ngoài) và chuyển thẩm quyền quyết định ngân sách trung ương mua bù hàng dự trữ quốc gia đã xuất cấp từ Ủy ban thường vụ Quốc hội sang Thủ tướng Chính phủ, đề xuất sửa đổi, bổ sung 02 nội dung tại Luật Dự trự quốc gia, cụ thể: Bổ sung cơ chế cho phép Thủ tướng Chính phủ quyết định xuất hàng dự trữ quốc gia phục vụ đối ngoại của Đảng và Nhà nước; Sửa đổi, bổ sung các quy định về phân cấp thẩm quyền cho Thủ tướng chính phủ quyết định ngân sách trung ương mua bù hàng dự trữ quốc gia.

Rà soát, bổ sung quy định các hành vi thao túng thị trường chứng khoán

Thay mặt cơ quan thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách Lê Quang Mạnh nhấn mạnh: Ủy ban Tài chính - Ngân sách, Ủy ban Kinh tế và các cơ quan của Quốc hội nhất trí sự cần thiết sửa đổi, bổ sung dự án Luật với các lý do như đã nêu tại Tờ trình số 678/TTr-CP của Chính phủ để thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội và tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về thể chế trong lĩnh vực tài chính, ngân sách nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút tối đa các nguồn lực nhà nước, ngoài nhà nước để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách Lê Quang Mạnh

Về hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán (TTCK): Cơ quan thẩm tra cơ bản nhất trí bổ sung thao túng TTCK là hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động về chứng khoán và TTCK quy định tại Điều 12 của Luật hiện hành. Quy định này thống nhất với quy định tại khoản 1 Điều 211 của Bộ Luật Hình sự. Tuy nhiên, đa số ý kiến đề nghị cần rà soát, bổ sung quy định các hành vi được coi là thao túng TTCK khi được xác định bởi cơ quan có thẩm quyền, tránh trường hợp quy định tại luật các dấu hiệu về hành vi bị nghiêm cấm có tính chất tương đồng với các hoạt động nghiệp vụ thông thường của các công ty chứng khoán, các thành viên thị trường, nhà đầu tư khi tham gia thị trường.

Về sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 71 Luật Kế toán: Đa số ý kiến Ủy ban Tài chính - Ngân sách và Thường trực Ủy ban Pháp luật cho rằng, nội dung sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 71 Luật Kế toán mới chỉ liệt kê các nhiệm vụ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thực hiện công tác kế toán cho các đơn vị kế toán tại địa phương là không cần thiết và không phù hợp với mục tiêu, nội dung chính sách đề ra là tăng cường phân cấp, phân quyền cho các bộ, ngành, địa phương.

Về những người không được đăng ký, hành nghề kiểm toán: Ủy ban Tài chính-Ngân sách đề nghị rà soát quy định về những người phải ngừng hành nghề kiểm toán” tại khoản 2 Điều này, làm rõ việc ngừng hành nghề kiểm toán hoàn toàn hay ngừng có thời hạn. Quy định bổ sung khoản 2 Điều 16 như đề xuất vẫn chưa bao quát đầy đủ các trường hợp.

Các ĐBQH tham dự Kỳ họp

Về quy định liên quan thay đổi kiểm toán viên hành nghề ký báo cáo kiểm toán: Cơ quan thẩm tra cho rằng, để tạo sự linh hoạt và quy định phù hợp với thực tiễn, đặc thù của các ngành, lĩnh vực khác nhau, đề nghị cân nhắc bổ sung theo hướng kiểm toán viên hành nghề phải có thời gian tạm dừng theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính sau 05 năm liên tục ký báo cáo kiểm toán của một đơn vị kiểm toán.

Về sửa đổi, bổ sung khoản 10 Điều 8 Luật Ngân sách Nhà nước (NSNN) về việc bổ sung quy định các chương trình, dự án ngoài kế hoạch đầu tư công trung hạn được thực hiện theo pháp luật về ngân sách nhà nước và quy định của pháp luật có liên quan: Đa số ý kiến Ủy ban Tài chính - Ngân sách đề nghị thực hiện theo quy định hiện hành. Tuy nhiên, trường hợp Chính phủ nhận thấy cần rút ngắn quy trình trình Quốc hội thì cần đề xuất phương án giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội thẩm quyền xem xét, bổ sung danh mục trong thời gian giữa 2 Kỳ họp đồng thời với việc phân bổ vốn NSNN cho các dự án mới và báo cáo Quốc hội tại Kỳ họp gần nhất.

Về bổ sung điểm d khoản 9 Điều 9 Luật NSNN về chính sách sử dụng NSĐP hỗ trợ cơ quan cấp trên đóng trên địa bàn hoặc địa phương khác: Đa số ý kiến Ủy ban Tài chính - Ngân sách nhất trí việc cho phép sử dụng vốn đầu tư của ngân sách địa phương cho các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng của ngân sách cấp trên trên địa bàn; hỗ trợ địa phương khác cho các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng có tính chất vùng, liên vùng và công trình hạ tầng quan trọng khác, song đề nghị cần bổ sung thêm điều kiện là các địa phương khi hỗ trợ phải bảo đảm khả năng cân đối của ngân sách địa phương; không làm ảnh hưởng đến việc triển khai các nhiệm vụ trên địa bàn thuộc trách nhiệm của địa phương.

Về sửa đổi, bổ sung Điều 39 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công về bảo dưỡng, sửa chữa tài sản công tại cơ quan nhà nước: Đa số ý kiến nhất trí với dự thảo Luật vì theo báo cáo của Cơ quan chủ trì soạn thảo, tài sản công tại cơ quan, tổ chức, đơn vị rất đa dạng, phong phú về chủng loại, giá trị; tần suất sử dụng tài sản ở mỗi cơ quan, đơn vị cũng như điều kiện thời tiết, môi trường ở mỗi vùng là khác nhau, ảnh hưởng tới khả năng duy trì công năng, thời gian sử dụng của tài sản. Một số ý kiến đề nghị giữ như quy định hiện hành về thẩm quyền quy định chế độ, tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật bảo dưỡng, sửa chữa đối với tài sản công.

Về thẩm quyền phê duyệt việc sử dụng tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết: Đa số ý kiến Ủy ban Tài chính - Ngân sách tán thành và cho rằng, việc sửa đổi này sẽ tạo cơ sở pháp lý để giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn. Một số ý kiến đề nghị không thay đổi thẩm quyền phê duyệt Đề án vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết các tài sản do nhà nước giao và do NSNN đầu tư như nội dung dự thảo nêu.

Về sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 42 Luật Quản lý thuế về quản lý thuế đối với thương mại điện tử: Tại khoản 4 Điều 42 theo hướng bỏ cụm từ “không có cơ sở thường trú tại Việt Nam” của các nhà cung cấp nước ngoài có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử hoặc trên cơ sở nền tảng số và thay vào đó sử dụng cụm từ “ở nước ngoài”: Uỷ ban Tài chính - Ngân sách không nhất trí với đề xuất sửa đổi này, vì “Cơ sở thường trú” là một khái niệm quan trọng đã được thống nhất sử dụng trong các Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần để xác định quyền tài phán về thuế giữa các quốc gia. Khái niệm này là cơ sở để xác định một đối tượng nộp thuế trong nước, phải thực hiện các quy định đăng ký kinh doanh và nộp các loại thuế trong nước.

Về sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 66 Luật Quản lý thuế về hoàn thành nghĩa vụ thuế trong trường hợp xuất cảnh: Uỷ ban Tài chính - Ngân sách đề nghị cần đánh giá kỹ hơn về tác động của việc áp dụng biện pháp cưỡng chế này trên thực tế để cân nhắc phương án quy định phù hợp, bảo đảm hiệu quả cưỡng chế và tránh các phản ứng trái chiều không cần thiết hoặc chưa nên sửa đổi nội dung này vào thời điểm hiện nay. Trong trường hợp nhất thiết cần sửa nội dung này, đề nghị Chính phủ trên cơ sở đánh giá việc thực hiện thời gian qua, cân nhắc bổ sung quy định về mức ngưỡng nợ thuế để giới hạn phạm vi áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh một cách phù hợp.

Về đề nghị bổ sung quy định cho phép xuất hàng dự trữ quốc gia để phục vụ hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước: Ủy ban Tài chính - Ngân sách nhất trí bổ sung quy định về việc cho phép xuất hàng dự trữ quốc gia để phục vụ hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước vào Luật Dự trữ quốc gia. Việc bổ sung nội dung này ở các Điều 3, khoản 1, khoản 2 Điều 35 Luật Dự trữ quốc gia là phù hợp, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong thực hiện./.

Bích Lan - Phạm Thắng

Nguồn: Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện cơ chế quản lý thuốc, thiết bị y tế theo hướng chặt chẽ, khả thi

Hoàn thiện cơ chế quản lý thuốc, thiết bị y tế theo hướng chặt chẽ, khả thi

Chiều 21/9, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trẻ em, Luật Người khuyết tật, Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Dược, Luật Người cao tuổi và Luật Bảo hiểm y tế. Tham dự cuộc họp có Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên cùng đại diện các đơn vị có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp. Tại cuộc họp, Hội đồng tập trung trao đổi, góp ý đối với các nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Khám bệnh, chữa bệnh và Luật Dược.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Đổi mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong kỷ nguyên số

Đổi mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong kỷ nguyên số

Ngày 18/9, ông Nguyễn Duy Thắng, Phó Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 52/2015/NĐ-CP về cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Tham dự cuộc họp có đại diện các đơn vị có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp xã, phường, đặc khu

Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp xã, phường, đặc khu

Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ theo vị trí việc làm cho công chức thực hiện nhiệm vụ tư pháp xã, phường, đặc khu (Chương trình) tập trung vào tập huấn kỹ năng, đặc biệt các kỹ năng liên quan đến chuyển đổi số, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu và xử lý tình huống gắn với những khó khăn, vướng mắc trong thực tế triển khai thực hiện công việc.
Triển khai kịp thời, hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Triển khai kịp thời, hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Ngày 15/9/2026, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1788/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Đề xuất phương án xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở

Đề xuất phương án xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở

Sáng ngày 16/9, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở (dự thảo Nghị định). Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc, Tổ trưởng Tổ soạn thảo chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì Hội thảo có Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Ngô Quỳnh Hoa.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Xây dựng Trang Hiến kế xây dựng, thi hành pháp luật

Xây dựng Trang Hiến kế xây dựng, thi hành pháp luật

Chiều ngày 15/9, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc làm việc với các đơn vị có liên quan về việc triển khai Trang Thông tin điện tử Hiến kế xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới trên Cổng Pháp luật quốc gia (Trang Hiến kế).

Theo dõi chúng tôi trên: