Từ khóa: Liên minh châu Âu; kinh tế tuyến tính; kinh tế tuần hoàn; trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất.
Abstract: Producers play a crucial role in the circular economy, so the laws of many countries have stipulated specific responsibilities for producers to ensure sustainable development. This article clarifies the similarities and differences between European Union law and Vietnamese law regarding extended producer responsibility, while also pointing out limitations in the legal framework and implementation practices in Vietnam. Based on this, it proposes some legal directions and solutions to improve the effectiveness of implementing extended producer responsibility, contributing to the development of the circular economy and a green environment in Vietnam.
Keywords: European Union; linear economy; circular economy; extended producer responsibility.
Đặt vấn đề
Dưới tác động của mô hình kinh tế tuyến tính, môi trường suy thoái và phát triển thiếu bền vững, đặt ra yêu cầu chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn. Mô hình này vận hành theo chu trình khép kín, giảm thiểu tác động môi trường, song đòi hỏi trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (Extended Producer Responsibility - EPR). Trong kinh tế tuần hoàn, EPR xác lập nghĩa vụ pháp lý của nhà sản xuất trong việc thu hồi, tái chế hoặc xử lý sản phẩm sau tiêu dùng. Tại Liên minh châu Âu (EU), EPR là công cụ pháp lý quan trọng.
Tại Việt Nam, mỗi năm phát sinh khoảng 1,8 triệu tấn rác thải nhựa, trong đó 0,28 - 0,73 triệu tấn thải ra biển, nhưng chỉ 27% trong số này được tái chế[1]. Theo kết quả nghiên cứu của Viện Khoa học Công nghệ và Môi trường, Việt Nam đang đối mặt với một bài toán lớn về rác thải điện tử. Hiện nay, mỗi năm cả nước phát sinh khoảng 100.000 tấn rác thải điện tử chỉ tính riêng rác thải từ tivi và linh kiện điện tử. Hiện, đây là loại chất thải có tốc độ gia tăng nhanh nhất, gây áp lực lớn đối với công tác quản lý và xử lý môi trường[2]. Tuy nhiên, có đến trên 70% được xử lý bằng phương thức chôn lấp, trong đó, chỉ 15% rác thải chôn lấp hợp vệ sinh[3]. Trước cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 tại COP26[4], Việt Nam từng bước hoàn thiện khung pháp lý về EPR từ việc tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của EU.
1. Pháp luật về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất tại Liên minh châu Âu và những thành tựu của Liên minh châu Âu
1.1. Pháp luật về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất trong Liên minh châu Âu
Ở EU, EPR giống như cơ chế đòn bẩy được sử dụng nhằm thực thi các mục tiêu toàn diện về môi trường và phát triển bền vững.
- EPR đối với bao bì được thể hiện trong Quy định 2025/40 của Quốc hội và Hội đồng châu Âu ngày 19/12/2024, có hiệu lực từ ngày 11/02/2025. Nhà sản xuất có nghĩa vụ đăng ký vào sổ đăng ký tại mỗi quốc gia thành viên. Các nhà sản xuất phải đánh giá được khả năng tái chế của bao bì bằng các cấp hiệu suất tái chế A, B và C (A ≥ 95%, B ≥ 80% hoặc C ≥ 70%) tại Bảng 3, Phụ lục II của Quy định 2025/40, theo đó, bao bì dễ tái chế khi mức hiệu suất tái chế đạt từ 70% trở lên và các bao bì không đáp ứng sẽ bị loại khỏi thị trường EU từ năm 2038. Các khoản đóng góp tài chính mà nhà sản xuất phải trả để tuân thủ EPR dựa trên tỷ lệ tái chế sử dụng trong bao bì, có tính đến các tiêu chí bền vững của công nghệ tái chế và chi phí môi trường[5]. Các đoạn 28, 32, 35 trong Quy định (EU) 2025/40 còn ghi nhận tiêu chí điều chỉnh phí EPR. Ủy ban châu Âu được trao quyền ban hành khung tiêu chí điều chỉnh phí phù hợp với khả năng tái chế cho từng loại bao bì.
- EPR đối với chất thải được quy định trong Chỉ thị 2018/851 của Quốc hội và Hội đồng châu Âu ngày 30/5/2018 sửa đổi Chỉ thị 2008/98/EC. Các nhà sản xuất tự chịu trách nhiệm về mặt tài chính và tổ chức quản lý đối với chất thải từ thu gom, tái chế, xử lý chất thải phát sinh, thu hồi sản phẩm sau sử dụng hay công khai thông tin. Yêu cầu chung đối với các chương trình EPR là: (i) xác định rõ vai trò và trách nhiệm của tất cả các bên liên quan; (ii) phù hợp với hệ thống phân cấp chất thải, đưa ra mục tiêu quản lý chất thải; (iii) bảo đảm có hệ thống báo cáo để thu thập dữ liệu về các sản phẩm được đưa ra thị trường và dữ liệu thu gom, xử lý chất thải phát sinh từ sản phẩm đó; (iv) bảo đảm sự đối xử bình đẳng đối với những nhà sản xuất. Các quốc gia thành viên sẽ thiết lập khuôn khổ giám sát và thực thi đầy đủ nhằm bảo đảm các nhà sản xuất thực hiện trách nhiệm của mình theo đúng yêu cầu[6]. Điều 8a (4b) của Chỉ thị này cũng quy định việc điều chỉnh mức đóng phí EPR phải dựa trên các yếu tố phù hợp với các yêu cầu của EU đặt ra.
- EPR đối với thiết bị điện, điện tử được ghi nhận trong Chỉ thị 2012/19/EU của Quốc hội và Hội đồng châu Âu ngày 04/7/2012. Thiết bị điện và điện tử thải loại theo Điều 3 (1) của Chỉ thị gồm tất cả các thành phần, các cụm lắp ráp và vật tư tiêu hao là một phần của sản phẩm tại thời điểm loại bỏ. Từ năm 2019, tỷ lệ thu gom tối thiểu phải đạt hàng năm là 65% trọng lượng trung bình được đưa ra thị trường trong ba năm trước đó tại quốc gia thành viên hoặc 85% thiết bị điện và điện tử thải loại được tạo ra trên lãnh thổ của quốc gia thành viên đó[7]. Mỗi quốc gia thành viên phải thực hiện việc thu gom riêng thông qua việc áp dụng các biện pháp thích hợp và phải báo cáo Ủy ban châu Âu. Ngoài ra, nhà sản xuất còn phải chỉ định đại diện được ủy quyền tại quốc gia thành viên thực hiện các nghĩa vụ của nhà sản xuất trên lãnh thổ của mình. Liên quan đến phí EPR, Chỉ thị 2012/19/EU không đưa ra quy định cụ thể cho vấn đề này nhưng yêu cầu các quốc gia thành viên phải điều chỉnh mức phí trên cơ sở các tiêu chí môi trường mà EU quy định tại Điều 8a và Điều 12.
- EPR đối với xe ôtô hết niên hạn được ghi nhận tại Quy định của Quốc hội và Hội đồng châu Âu ngày 13/7/2023. Nhà sản xuất đã đăng ký trong sổ đăng ký của quốc gia được đưa xe ra thị trường, có nghĩa vụ thực hiện báo cáo định kỳ trong việc thực hiện EPR. Nhà sản xuất có thể tự mình thực hiện EPR hoặc ủy quyền cho tổ chức thực hiện EPR (Producer Responsibility Organizations - PRO). Bên cạnh đó, nhà sản xuất phải thực hiện nghĩa vụ tài trợ các chi phí liên quan cho sản phẩm của mình khi đưa ra thị trường. Trường hợp xe được sử dụng ở quốc gia khác, nhà sản xuất vẫn phải chịu chi phí ròng theo cơ chế phân bổ chi phí chung của EU. Nhà sản xuất phải thiết lập hoặc tham gia mạng lưới thu gom trên toàn lãnh thổ, xe được giao cho các cơ sở xử lý phải có giấy chứng nhận tiêu hủy để được xóa đăng ký lưu hành[8]. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 21 của Chỉ thị, phí EPR được điều chỉnh dựa trên cơ sở các yếu tố khác nhau nhưng phải phù hợp với quy định tại Điều 6 và Điều 10.
Ngoài việc xây dựng khung pháp lý EPR rõ ràng cho từng ngành, EU còn thừa nhận PRO do các nhà sản xuất thành lập hoặc ủy quyền để thực hiện nghĩa vụ EPR tập thể. Các PRO phải đăng ký với cơ quan có thẩm quyền quốc gia và chịu sự kiểm soát của Nhà nước. Bên cạnh đó, các PRO phải báo cáo định kỳ đến các cơ quan quản lý về hiệu suất thu gom, tái chế, chi phí... để chứng minh hoạt động và đáp ứng mục tiêu kinh tế tuần hoàn. Thông qua các PRO, chi phí của nhà sản xuất giảm thiểu và được chia sẻ. Dữ liệu từ PRO giúp EU thiết kế chính sách kinh tế tuần hoàn dựa trên những bằng chứng cụ thể và EU khuyến khích nhà sản xuất cải tiến thiết kế sản phẩm bởi PRO áp dụng cơ chế phí đóng góp dựa trên tính thân thiện môi trường của sản phẩm.
1.2. Thành tựu Liên minh châu Âu đạt được liên quan đến trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất
Trong quá trình triển khai thực hiện, EU đã đạt được một số thành tựu quan trọng liên quan đến EPR, cụ thể:
Thứ nhất, EPR được mở rộng sang nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau với khung pháp lý toàn diện. Điều này không chỉ buộc các doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm và thay đổi hành vi sản xuất, mà còn cho phép sự tham gia đồng bộ của nhà sản xuất, đơn vị tái chế, người tiêu dùng và Chính phủ.
Thứ hai, EU đã đạt được những thành công trong lĩnh vực bao bì, tỷ lệ tái chế khá cao với 65,4% vào năm 2022, vượt mục tiêu 65% đặt ra cho năm 2025, tăng so với 64% của năm 2021. Rác thải bao bì được thu hồi bằng nhiều phương thức khác nhau, nhưng hình thức thu hồi chính vẫn là tái chế. Năm 2025, mục tiêu tái chế được xác định là 65%, trong đó có 13 quốc gia đạt mục tiêu này trong năm 2022.
Thứ ba, đối với thiết bị điện và điện tử thải loại, trong giai đoạn 2012 - 2022 lượng sản phẩm này được đưa vào thị trường tăng 89,3%, trong khi lượng sản phẩm được thu hồi chỉ đạt 72,1% và được tái chế là 66,6%[9]. Ở EU, tỷ lệ thu gom trung bình đối với thiết bị điện và điện tử thải loại đạt 40,6%[10] nhưng vẫn thấp so với mục tiêu 65% mà Chỉ thị 2012/19 đặt ra.
Thứ tư, về chất thải, năm 2022, lượng rác thải phát sinh trong lĩnh vực xây dựng chiếm 38,4%, khai thác mỏ và đá là 22/7%, dịch vụ xử lý chất thải và nước chiếm 10,5%, sản xuất là 10,4%, hộ gia đình 8,9% và 9,2% còn lại là chất thải phát sinh từ các hoạt động kinh tế khác. Đối với chất thải nguy hại, EU đã thu hồi 30% bằng cách tái chế hoặc chôn lấp; thu hồi năng lượng là 6,4%; đốt mà không thu hồi năng lượng là 4,1%; chôn lấp là 41% và xử lý bằng cách khác là 18,5%[11]. Năm 2023, lượng rác thải đô thị bình quân đầu người ở EU là 511kg và có 48% rác thải đô thị được tái chế bằng các phương thức như chôn lấp, đốt, tái chế và ủ phân[12].
Thứ năm, EPR đối với xe ôtô hết niên hạn đạt thành tựu vượt trội, khẳng định EPR trong ngành ôtô vận hành hiệu quả. Năm 2022, ở EU có 15 quốc gia báo cáo tỷ lệ tái sử dụng và thu hồi đạt tỷ lệ trên 95%; 07 quốc gia báo cáo tỷ lệ từ 90% đến 94,9% và 03 quốc gia báo cáo tỷ lệ dưới 90% nhưng vẫn giữ trong khoản 84,1% đến 88,5%[13]. Đến nay, việc tái sử dụng và tái chế ở một số quốc gia vẫn đạt tỷ lệ cao, chẳng hạn như Ireland đạt 89,5% tái chế và 97,2% phục hồi[14].
Thứ sáu, thành quả khác mà EU đạt được là việc triển khai mô hình PRO. Tây Ban Nha, tỷ lệ tái chế 33%, tỷ lệ tái chế bao bì nhựa đạt 50% thông qua tổ chức PRO, được gọi là Ecoembes. Ở Séc, hệ thống PRO với tên gọi EKO -KOM được thành lập bởi các ngành công nghiệp bao bì, gia dụng và công nghiệp đã tái chế hơn 80% lượng rác thải. Đức tái chế được 62% lượng rác thải, tất cả các chi phí liên quan đến tái chế, xử lý chất thải đều do công ty chi trả. Các tổ chức PRO quản lý các chi phí này và ký hợp đồng với các công ty quản lý chất thải và chính quyền địa phương[15].
Tuy nhiên, những thành tựu mà EU đạt được trong lĩnh vực này khi áp dụng tại Việt Nam sẽ gặp phải một số bất cập, hạn chế, bởi hạ tầng thu gom và công nghệ xử lý ở nước ta còn chưa phát triển để xử lý thiết bị điện, điện tử thải loại và các dòng chất thải nguy hại. Chi phí tuân thủ EPR tạo ra những áp lực cho doanh nghiệp, đặc biệt, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời, làm phát sinh nguy cơ dịch chuyển chi phí sang người tiêu dùng. Mô hình tổ chức thực hiện EPR (PRO), mặc dù đem lại hiệu quả cao nhưng cũng đặt ra các yêu cầu liên quan đến cơ chế giám sát, minh bạch tài chính... để tránh sự độc quyền hoặc vận hành kém hiệu quả. Mặc dù có nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm từ EU về vấn đề này, nhưng EPR ở Việt Nam trong thời gian tới cần được thiết kế cho phù hợp trình độ phát triển kinh tế - xã hội, năng lực quản lý.
2. Thực trạng pháp luật về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất tại Việt Nam
Tại Việt Nam, EPR được ghi nhận trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020; Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường (Nghị định số 08/2022/NĐ-CP); Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT ngày 10/01/2022 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường (Thông tư số 02/2022/TT BTNMT); Nghị định số 05/2025/NĐ CP ngày 06/01/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022. Dự thảo nghị định quy định về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu ngày 28/5/2025 đang được Bộ Nông nghiệp và Môi trường lấy ý kiến. Mặc dù dự thảo văn bản này chưa, nhưng việc phân tích nội dung của dự thảo văn bản góp phần tổng quát hóa khung pháp lý liên quan đến EPR tại Việt Nam. Quy định pháp luật về EPR tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu (gọi chung là các nhà sản xuất) có trách nhiệm tái chế những sản phẩm, bao bì có giá trị tái chế và phải đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để hỗ trợ tái chế sản phẩm (Điều 54 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020). Đối với chất thải, nhà sản xuất có trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải và cũng phải đóng góp tài chính để hỗ trợ các hoạt động xử lý chất thải (Điều 55 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020).
Thứ hai, đối tượng thực hiện tái chế gồm các sản phẩm được quy định tại Phụ lục XXII Nghị định số 08/2022/NĐ-CP với lộ trình phải tái chế là bao bì và các sản phẩm ắc quy, pin, dầu nhớt, săm lốp từ 01/01/2024; sản phẩm điện, điện tử từ ngày 01/01/2025; các phương tiện giao thông từ 01/01/2027. Tỷ lệ tái chế và quy cách tái chế bắt buộc được thực hiện theo quy định tại Điều 78 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP. Đối tượng thực hiện thu gom, xử lý chất thải được ghi nhận tại Phụ lục XXIII (kèm theo Nghị định số 08/2022/NĐ-CP), mức đóng góp tài chính mà nhà sản xuất phải thực hiện tùy thuộc đối với từng sản phẩm, bao bì.
Thứ ba, về cách thức thực hiện, các nhà sản xuất tự thực hiện việc tái chế hoặc thuê đơn vị tái chế hoặc ủy quyền cho tổ chức trung gian hoặc kết hợp cả 03 cách thức này để thực hiện tái chế. Đối với hoạt động xử lý chất thải, các nhà sản xuất, nhập khẩu phải đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để hỗ trợ các hoạt động xử lý chất thải theo quy định tại Điều 83 và Điều 84 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP. Việc nộp và tiếp nhận đăng ký kế hoạch tái chế, báo cáo kết quả tái chế, bản kê khai đóng góp tài chính, tài khoản tiếp nhận đóng góp tài chính hỗ trợ hoạt động tái chế, xử lý chất thải tuân theo quy định tại Điều 79 Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT.
Thứ tư, về mức đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam phải tuân thủ Điều 81 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP, khoản 37 Điều 1 Nghị định số 05/2025/NĐ-CP. Theo các quy định này, cách tính phí được thực hiện theo công thức F = R x V x Fs (trong đó, F là mức đóng góp; R là tỷ lệ tái chế bắt buộc (%); V là khối lượng sản phẩm, bao bì đưa ra thị trường (kg); Fs là định mức tái chế hợp lý và do Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành, điều chỉnh chu kỳ 03 năm).
Nhìn chung, khung pháp lý liên quan đến EPR của Việt Nam khá tương đồng với thông lệ quốc tế (trong đó có EU) về tỷ lệ tái chế tối thiểu, danh mục sản phẩn tái chế, xử lý chất thải, có lộ trình rõ ràng, cụ thể. Mặc dù chưa có tổ chức trung gian hoàn chỉnh, nhưng pháp luật Việt Nam vẫn luôn khuyến khích hình thành các tổ chức thực hiện EPR. Bên cạnh đó, hình thức thực hiện EPR cũng được ghi nhận cụ thể, phù hợp với năng lực của mỗi doanh nghiệp và lộ trình áp dụng phù hợp, bảo đảm doanh nghiệp có thời gian chuẩn bị, thích nghi với quy định của Nhà nước.
Bên cạnh những ưu điểm, khung pháp lý liên quan đến EPR tại Việt Nam còn tồn tại một số hạn chế như:
- Phạm vi ngành, lĩnh vực áp dụng EPR chỉ tập trung vào một số sản phẩm. Vì vậy, dòng chất thải phát sinh ở một số lĩnh vực khác như dệt may, xây dựng, nhựa... chưa được kiểm soát. Nguyên nhân là do khung pháp lý về EPR ở Việt Nam mới được hình thành kể từ thời điểm Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực pháp luật, cùng với một số văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan, trong khi ở EU, vấn đề này được ghi nhận từ những năm 1990. Ở Việt Nam, EPR tập trung vào nhóm sản phẩm có tác động lớn bởi đây là nguồn chất thải khó xử lý, dễ phát sinh chất thải nguy hại, có nguy cơ gây ô nhiễm trực tiếp... Hơn nữa, việc áp dụng EPR đòi hỏi hạ tầng phân loại, thu gom, tái chế và hệ thống giám sát minh bạch. Nếu mở rộng EPR sang lĩnh vực khác không có lộ trình, có thể tạo ra gánh nặng tài chính cho Nhà nước và doanh nghiệp, bởi Việt Nam có nền kinh tế đang phát triển, cần có thời gian thích ứng và xây dựng thị trường tái chế. Một số lĩnh vực như dệt may, xây dựng... mặc dù đã tiến hành nghiên cứu, đánh giá mức độ thải loại ra môi trường, đến nay vẫn chưa có quy định pháp lý liên quan đến EPR do thiếu cơ sở kỹ thuật để triển khai. Đây không phải khoảng trống pháp lý mà là cách tiếp cận thận trọng, từng bước của nhà làm luật trong việc lựa chọn một số sản phẩm cốt lõi, có tính cấp bách và khả thi cao, sau đó mở rộng sang các ngành, lĩnh vực khác.
- Pháp luật Việt Nam chưa quy định điều chỉnh phí EPR theo tính thân thiện môi trường của sản phẩm (eco - modulation), mức đóng góp tài chính được tính theo chi phí xử lý trung bình. Ở EU, cơ chế “eco - modulation” được ghi nhận theo Chỉ thị 2018/851, doanh nghiệp sử dụng vật liệu dễ tái chế, có thiết kế xanh... sẽ được giảm phí EPR, ngược lại, sản phẩm khó tái chế sẽ bị tăng phí. Ở Việt Nam, nếu thiếu quy định này sẽ không tạo ra được động lực đổi mới thiết kế xanh và sự công bằng giữa các chủ thể.
- Pháp luật hiện hành chưa có quy định về tổ chức thực hiện EPR (PRO) và đang dừng ở quy định cho phép doanh nghiệp ủy quyền tổ chức thực hiện thay. Vì thế, chưa có đầu mối chuyên nghiệp hỗ trợ hiệu quả cho các doanh nghiệp thực hiện EPR. Mặc dù đã có Hội đồng EPR quốc gia, nhưng tính chất vẫn là cơ quan quản lý, tư vấn, hỗ trợ cho Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Trong khi ở EU, nhà sản xuất có thể ủy quyền cho tổ chức PRO thực hiện EPR và các PRO này hoạt động minh bạch, chịu sự giám sát của cơ quan nhà nước và công khai thông tin thực hiện EPR. Bản chất của các PRO là trực tiếp thực thi, vận hành EPR, là tổ chức mang tính dịch vụ thị trường.
Việc thực thi quy định pháp luật về EPR tại Việt Nam trong thời gian qua cũng gặp một số khó khăn, việc thanh kiểm tra chưa được thực hiện thường xuyên; năng lực thực hiện EPR còn yếu. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ không đủ kinh phí để đầu tư hệ thống thu gom, xử lý, tái chế hoặc đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường. Nhà nước cũng chưa có hệ thống tư vấn chuyên biệt hoặc trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp triển khai EPR. Tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện EPR còn thấp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Điều này, dẫn tới chiến lược phát triển nền kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam khó có thể triển khai trên diện rộng bởi doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng 96% tổng số doanh nghiệp, sử dụng 47% lao động và đóng góp 36% giá trị gia tăng nền kinh tế quốc dân[16].
3. Hướng hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất tại Việt Nam dựa trên kết quả nghiên cứu và tham chiếu từ khung pháp lý của Liên minh châu Âu
3.1. Hoàn thiện một số quy định pháp luật về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất
Thứ nhất, bổ sung quy định liên quan đến việc điều chỉnh phí EPR theo tính thân thiện môi trường của sản phẩm tại Điều 81 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP, khoản 37 Điều 1 Nghị định số 05/2025/NĐ-CP. Mức phí này được xác định dựa trên: khả năng tái chế, tỷ lệ vật liệu tái chế, dễ phân loại, mức độ độc hại... Cơ chế điều chỉnh phí EPR của EU có thể áp dụng tại Việt Nam, bởi pháp luật hiện hành đã có quy định đến chỉ số R (R là tỷ lệ tái chế bắt buộc (%) trong công thức tính phí đóng góp vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam). Tuy nhiên, cần thực hiện từng bước theo lộ trình, cụ thể là thí điểm đối với một số sản phẩm có tiềm năng về tái chế; xây dựng bộ tiêu chí đánh giá sản phẩm thân thiện môi trường. Bên cạnh đó, bổ sung thêm quy định cấp chứng nhận “doanh nghiệp xanh” cho doanh nghiệp thực hiện tốt EPR trong đấu thầu, vay vốn, miễn giảm thuế môi trường, tạo động lực cho các doanh nghiệp trong thiết kế các sản phẩm xanh, sản phẩm tuần hoàn từ đầu chuỗi giá trị.
Thứ hai, Điều 54 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cần sửa đổi theo hướng mở rộng phạm vi EPR cho nhiều ngành, lĩnh vực khác ngoài những ngành đang áp dụng EPR như hiện nay, như dệt may, nhựa, vật liệu xây dựng... bảo đảm cho việc kiểm soát tốt hơn đối với nhiều dòng chất thải được phát sinh ra môi trường, từ đó, xác định trách nhiệm EPR của các nhà sản xuất phù hợp với quy định của pháp luật.
Thứ ba, quy định cho phép mở rộng thành lập tổ chức thực hiện EPR (PRO) hoặc công nhận về mặt pháp lý đối với tổ chức PRO. Đây là hình thức thực hiện tái chế, vì vậy, giải pháp này có thể được ghi nhận bổ sung trong Điều 6 liên quan đến hình thức thực hiện trách nhiệm tái chế của Dự thảo Nghị định quy định trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu mà Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang lấy ý kiến. Tuy nhiên, việc ghi nhận trong Dự thảo là giải pháp ngắn hạn, để có giải pháp dài hạn cần sửa đổi Điều 54 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, công nhận PRO là hình thức thực hiện EPR chính thức nếu hoạt động của các PRO đạt hiệu quả. Sau khi được thành lập, các PRO sẽ phải đăng ký, công nhận trong hệ thống quản lý EPR của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Năm 2023, Tổ chức Tái chế bao bì Việt Nam (PRO Việt Nam) là tổ chức đầu tiên được cấp phép hoạt động. Trong giai đoạn thử nghiệm từ năm 2022 đến năm 2023, PRO Việt Nam đã tổ chức thu gom và tái chế thành công 17.000 tấn vật liệu bao bì. Tổ chức này cũng công bố cam kết thu gom và tái chế khoản 64.000 tấn vật liệu đóng gói khác nhau vào năm 2024 để thực hiện EPR[17]. Qua đó, có thể thấy được thành quả đầu tiên từ mô hình PRO Việt Nam. Các PRO tại Việt Nam cần phải có lộ trình đi từ thí điểm với một số ngành có tính khả thi cao (hiện đang thí điểm với bao bì), sau đó, mở rộng sang các ngành, lĩnh vực khác. Việc thành lập và tổ chức hoạt động của các PRO cần được quy định rõ ràng từ đăng ký, điều kiện hoạt động, giới hạn cạnh tranh, minh bạch tài chính, mức độ thu gom, tái chế, công khai báo cáo hàng năm và được kiểm toán độc lập.
3.2. Nâng cao hiệu quả thực thi quy định pháp luật về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR)
Thứ nhất, tiếp tục vận hành Cổng thông tin điện tử quốc gia về EPR, đơn giản hóa thủ tục hành chính giúp doanh nghiệp thực hiện báo cáo, các chủ thể có thẩm quyền kiểm tra; tiếp tục chuẩn hóa các biểu mẫu điện tử, tích hợp dữ liệu sẵn có từ một số cơ quan thuế, hải quan, tránh việc doanh nghiệp phải kê khai nhiều lần, thay thế giấy tờ bằng dữ liệu số...
Thứ hai, trang bị kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng sử dụng công nghệ số cho cán bộ quản lý, kiểm tra việc thực hiện EPR của các nhà sản xuất, mở các khóa đào tạo giúp doanh nghiệp hiểu rõ về EPR, hỗ trợ kỹ thuật, tài chính cho các doanh nghiệp.
Thứ ba, khuyến khích người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm của doanh nghiệp thực hiện EPR và nâng cao vai trò giám sát của báo chí, hiệp hội ngành hàng để công khai các doanh nghiệp thực hiện EPR hoặc những doanh nghiệp không thực hiện EPR.
Kết luận
Trên cơ sở nghiên cứu khung pháp lý và thực tiễn thực thi EPR tại EU, nghiên cứu đã làm rõ các đặc trưng pháp lý cơ bản của EPR gắn liền với mô hình kinh tế tuần hoàn, đồng thời, đối chiếu với pháp luật Việt Nam để chỉ ra những điểm tương đồng, khác biệt và các vấn đề đặt ra trong quá trình áp dụng. Từ đó, xác định những khía cạnh có thể vận dụng vào bối cảnh ở Việt Nam, góp phần hoàn thiện quy định pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi EPR và hỗ trợ triển khai chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn trong giai đoạn hiện nay./.
TS. Nguyễn Thị Kim Thanh
Khoa Luật, Trường Đại học Thương mại
Ảnh: Internet
[1]. Nhĩ Anh, Mỗi năm Việt Nam thải ra môi trường 1,8 triệu tấn rác thải nhựa, https://vneconomy.vn/moi-nam-viet-nam-thai-ra-moi-truong-1-8-trieu-tan-rac-thai-nhua.htm?utm_source=chatgpt.com, truy cập ngày 20/12/2025.
[2]. Anh Tuấn, Phùng Định, Ngọc Thi & Nguyễn Phương (2024), Mỗi năm Việt Nam phát sinh khoảng 100.000 tấn rác thải điện tử, https://vtv.vn/xa-hoi/moi-nam-viet-nam-phat-sinh-khoang-100000-tan-rac-thai-dien-tu-20241118143630819.htm?utm_source=chatgpt.com, truy cập ngày 20/12/2025.
[3]. Thu Trang, Chi phí cho xử lý rác thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam còn thấp, https://baotintuc.vn/kinh-te/chi-phi-cho-xu-ly-rac-thai-ran-sinh-hoat-tai-viet-nam-con-thap-20230429152540668.htm, truy cập ngày 20/12/2025.
[4]. Chu Thanh Hương (2025), Nhìn lại 2 năm Việt Nam thực hiện cam kết cam kết COP 26, https://nongnghiepmoitruong.vn/nhin-lai-2-nam-viet-nam-hien-thuc-cam-ket-cop-26-d721718.html, truy cập ngày 20/12/2025.
[5]. Điều 6 và Bản 3 của Phục lục II, Quy định 2025/40 của Quốc hội và Hội đồng châu Âu ngày 19/12/2024 về bao bì và chất thải bao bì, http://data.europa.eu/eli/reg/2025/40/oj, truy cập ngày 20/12/2025.
[6]. Điều 1 Chỉ thị 2018/851 của Quốc hội và Hội đồng châu Âu ngày 30/5/2018 sửa đổi Chỉ thị 2008/98/EC về chất thải.
[7]. Europa (2024), Thống kê xe hết vòng đời, https://ec.europa.eu/eurostat/statistics-explained/index.php?title=End-of-life_vehicle_statistics#Number_of_end-of-life_vehicles, truy cập ngày 20/12/2025.
[8]. Các điều 16, 17, 21, 22, 23, 26 Quy định của Quốc hội và Hội đồng châu Âu về các yêu cầu tuần hoàn trong thiết kế xe và quản lý xe hết niên hạn ngày 13/7/2023.
[9]. Europa (2025), Tỷ lệ thu gom thiết bị điện và điện tử thải loại, https://www.eea.europa.eu/en/european-zero-pollution-dashboards/indicators/waste-electrical-and-electronic-equipment-weee collection-rate-indicator, truy cập ngày 20/12/2025.
[10]. Europa (2024), Tái chế chất thải ở châu Âu, https://www.eea.europa.eu/en/analysis/indicators/waste-recycling-in-europe, truy cập ngày 20/12/2025.
[11]. Europa (2024), Thống kê chất thải, https://ec.europa.eu/eurostat/statistics-explained/index.php?title=Waste_statistics, truy cập ngày 20/12/2025.
[12]. Europa (2025), Thống kê rác thải đô thị, https://ec.europa.eu/eurostat/statistics-explained/ index.php?title=Municipal_waste_statistics, truy cập ngày 20/12/2025.
[13]. Europa (2024), Thống kê xe hết vòng đời, https://ec.europa.eu/eurostat/statistics-explained/index.php?title=End-of-life_vehicle_statistics#Number_of_end-of-life_vehicles, truy cập ngày 20/12/2025.
[14]. Epa (2025), Thống kê xe hết vòng đời ở Ireland, https://www.epa.ie/our-services/monitoring--assessment/waste/national-waste-statistics/end-of-life-vehicles/?utm_source=chatgpt.com, truy cập ngày 20/12/2025.
[15]. Oleksandra Panasytska (2022), Less waste and more resources: how extended producer responsibility works within the context of a circular econnomy, https://voxukraine.org/en/less-waste-and-more-resources-how-extended-producer-responsibility-works-within-the-context-of-a-circular-economy, truy cập ngày 20/12/2025.
[16]. Nguyễn Minh (2023), Các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia hạn chế vào nền kinh tế tuần hoàn, https://en.vietnamplus.vn/smes-show-limited-engagement-in-circular-economy-post248186.vnp, truy cập ngày 20/12/2025.
[17]. Ngọc Lan, Giảm thiểu rác thải nhựa từ các giải pháp cho tính tuần hoàn của bao bì, https://vneconomy.vn/giam-thieu-rac-thai-nhua-tu-cac-giai-phap-cho-tinh-tuan-hoan-cua-bao-bi.htm, truy cập ngày 20/12/2025.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chu Thanh Hương (2025), Nhìn lại 02 năm Việt Nam thực hiện cam kết cam kết COP 26, https://nongnghiepmoitruong.vn/nhin-lai-2-nam-viet-nam-hien-thuc-cam ket-cop-26-d721718.html, truy cập ngày 20/12/2025.
2. Epa (2025), Thống kê xe hết vòng đời ở Ireland, https://www.epa.ie/our-services/monitoring--assessment/waste/national-waste-statistics/end-of-life-vehicles/?utm_ source=chatgpt.com, truy cập ngày 20/12/2025.
3. Europa (2024), Tái chế chất thải ở châu Âu, https://www.eea.europa.eu/en/analysis/indicators/waste-recycling-in-europe, truy cập ngày 20/12/2025.
4. Europa (2024), Thống kê chất thải bao bì, https://ec.europa.eu/eurostat/statistics-explained/index.php?title=Packaging_ waste_statistics#Generation_and_recycling_per_inhabitant, truy cập ngày 20/12/2025.
5. Europa (2024), Thống kê chất thải, https://ec.europa.eu/eurostat/statistics-explained/index.php?title=Waste_ statistics, truy cập ngày 20/12/2025.
6. Europa (2024), Thống kê xe hết vòng đời, https://ec.europa.eu/eurostat/ statistics-explained/index.php?title=End-of-life_vehicle_statistics#Number_of_end-of-life_vehicles, truy cập ngày 20/12/2025.
7. Europa (2025), Thống kê rác thải đô thị, https://ec.europa.eu/eurostat/statistics-explained/index.php?title=Municipal_ waste_statistics, truy cập ngày 20/12/2025.
8. Europa (2025), Tỷ lệ thu gom thiết bị điện và điện tử thải loại, https://www.eea.europa.eu/en/european-zero-pollution-dashboards/indicators/waste-electrical-and-electronic-equipment-weee-collection-rate-indicator, truy cập ngày 20/12/2025.
9. Nguyễn Minh (2023), Các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia hạn chế vào nền kinh tế tuần hoàn, https://en.vietnamplus.vn/smes-show-limited-engagement-in-circular-economy-post248186.vnp, truy cập ngày 20/12/2025.
10. Nguyễn Phương, Phùng Định, Ngọc Thi, Anh Tuấn (2024), Mỗi năm Việt Nam phát sinh khoảng 100.000 tấn rác thải điện tử, https://vtv.vn/xa-hoi/moi-nam-viet-nam-phat-sinh-khoang-100000-tan-rac-thai-dien-tu-20241118143630819.htm?utm_source=chatgpt.com, truy cập ngày 20/12/2025.
11. Nguyễn Sỹ Linh (2024), Thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất và thỏa thuận toàn cầu về nhựa: Tầm quan trọng của lực lượng phi chính thức ở Việt Nam, Tạp chí Môi trường, số 03.
12. Nguyễn Thi (2024), Hoàn thiện quy định về tổ chức bộ máy quản lý thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), Tạp chí Quản lý nhà nước, số 341.
13. Nguyen Thi Nhu Quynh, Vu Van Ngoc (2024), Extended producer responsibility - building the legal framework in Vietnamese law on environmental protection from international experience, Vietnamese Journal of Legal Sciences, Vol.12, No. 03.
14. Nguyễn Thị Thư, Nguyễn Thị Tâm (2020), Nghiên cứu mô hình chính sách trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) và khả năng áp dụng tại Việt Nam, Tạp chí Khoa học công nghệ hàng hải, số 64.
15. Nguyễn Trường Ngọc (2022), Trách nhiệm sản phẩm của nhà sản xuất ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sỹ Luật học, Học viện Khoa học xã hội.
16. Oleksandra Panasytska (2022), Less waste and more resources: how extended producer responsibility works within the context of a circular econnomy, https://voxukraine.org/en/less-waste-and-more-resources-how-extended-producer-responsibility-works-within-the-context-of-a-circular-economy, truy cập ngày 20/12/2025.
17. Thu Trang (2023), Chi phí cho xử lý rác thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam còn thấp, https://baotintuc.vn/kinh-te/chi-phi-cho-xu-ly-rac-thai-ran-sinh-hoat-tai-viet-nam-con-thap-20230429152540668.htm, truy cập ngày 20/12/2025.