Thứ năm 25/06/2026 16:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất trong kinh tế tuần hoàn của Liên minh châu Âu - Một số gợi mở cho pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Nhà sản xuất đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế tuần hoàn, nên pháp luật nhiều nước đã quy định trách nhiệm cụ thể của nhà sản xuất để bảo đảm phát triển bền vững. Bài viết làm rõ điểm tương đồng và sự khác biệt giữa pháp luật của Liên minh châu Âu và pháp luật Việt Nam về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, đồng thời, chỉ ra những hạn chế trong khung pháp lý và thực tiễn thực thi tại Việt Nam, từ đó, đề xuất một số định hướng và giải pháp pháp lý nâng cao hiệu quả thực thi trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, góp phần thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế tuần hoàn và môi trường xanh tại Việt Nam.

Từ khóa: Liên minh châu Âu; kinh tế tuyến tính; kinh tế tuần hoàn; trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất.

Abstract: Producers play a crucial role in the circular economy, so the laws of many countries have stipulated specific responsibilities for producers to ensure sustainable development. This article clarifies the similarities and differences between European Union law and Vietnamese law regarding extended producer responsibility, while also pointing out limitations in the legal framework and implementation practices in Vietnam. Based on this, it proposes some legal directions and solutions to improve the effectiveness of implementing extended producer responsibility, contributing to the development of the circular economy and a green environment in Vietnam.

Keywords: European Union; linear economy; circular economy; extended producer responsibility.

Đặt vấn đề

Dưới tác động của mô hình kinh tế tuyến tính, môi trường suy thoái và phát triển thiếu bền vững, đặt ra yêu cầu chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn. Mô hình này vận hành theo chu trình khép kín, giảm thiểu tác động môi trường, song đòi hỏi trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (Extended Producer Responsibility - EPR). Trong kinh tế tuần hoàn, EPR xác lập nghĩa vụ pháp lý của nhà sản xuất trong việc thu hồi, tái chế hoặc xử lý sản phẩm sau tiêu dùng. Tại Liên minh châu Âu (EU), EPR là công cụ pháp lý quan trọng.

Tại Việt Nam, mỗi năm phát sinh khoảng 1,8 triệu tấn rác thải nhựa, trong đó 0,28 - 0,73 triệu tấn thải ra biển, nhưng chỉ 27% trong số này được tái chế[1]. Theo kết quả nghiên cứu của Viện Khoa học Công nghệ và Môi trường, Việt Nam đang đối mặt với một bài toán lớn về rác thải điện tử. Hiện nay, mỗi năm cả nước phát sinh khoảng 100.000 tấn rác thải điện tử chỉ tính riêng rác thải từ tivi và linh kiện điện tử. Hiện, đây là loại chất thải có tốc độ gia tăng nhanh nhất, gây áp lực lớn đối với công tác quản lý và xử lý môi trường[2]. Tuy nhiên, có đến trên 70% được xử lý bằng phương thức chôn lấp, trong đó, chỉ 15% rác thải chôn lấp hợp vệ sinh[3]. Trước cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 tại COP26[4], Việt Nam từng bước hoàn thiện khung pháp lý về EPR từ việc tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của EU.

1. Pháp luật về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất tại Liên minh châu Âu và những thành tựu của Liên minh châu Âu

1.1. Pháp luật về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất trong Liên minh châu Âu

Ở EU, EPR giống như cơ chế đòn bẩy được sử dụng nhằm thực thi các mục tiêu toàn diện về môi trường và phát triển bền vững.

- EPR đối với bao bì được thể hiện trong Quy định 2025/40 của Quốc hội và Hội đồng châu Âu ngày 19/12/2024, có hiệu lực từ ngày 11/02/2025. Nhà sản xuất có nghĩa vụ đăng ký vào sổ đăng ký tại mỗi quốc gia thành viên. Các nhà sản xuất phải đánh giá được khả năng tái chế của bao bì bằng các cấp hiệu suất tái chế A, B và C (A ≥ 95%, B ≥ 80% hoặc C ≥ 70%) tại Bảng 3, Phụ lục II của Quy định 2025/40, theo đó, bao bì dễ tái chế khi mức hiệu suất tái chế đạt từ 70% trở lên và các bao bì không đáp ứng sẽ bị loại khỏi thị trường EU từ năm 2038. Các khoản đóng góp tài chính mà nhà sản xuất phải trả để tuân thủ EPR dựa trên tỷ lệ tái chế sử dụng trong bao bì, có tính đến các tiêu chí bền vững của công nghệ tái chế và chi phí môi trường[5]. Các đoạn 28, 32, 35 trong Quy định (EU) 2025/40 còn ghi nhận tiêu chí điều chỉnh phí EPR. Ủy ban châu Âu được trao quyền ban hành khung tiêu chí điều chỉnh phí phù hợp với khả năng tái chế cho từng loại bao bì.

- EPR đối với chất thải được quy định trong Chỉ thị 2018/851 của Quốc hội và Hội đồng châu Âu ngày 30/5/2018 sửa đổi Chỉ thị 2008/98/EC. Các nhà sản xuất tự chịu trách nhiệm về mặt tài chính và tổ chức quản lý đối với chất thải từ thu gom, tái chế, xử lý chất thải phát sinh, thu hồi sản phẩm sau sử dụng hay công khai thông tin. Yêu cầu chung đối với các chương trình EPR là: (i) xác định rõ vai trò và trách nhiệm của tất cả các bên liên quan; (ii) phù hợp với hệ thống phân cấp chất thải, đưa ra mục tiêu quản lý chất thải; (iii) bảo đảm có hệ thống báo cáo để thu thập dữ liệu về các sản phẩm được đưa ra thị trường và dữ liệu thu gom, xử lý chất thải phát sinh từ sản phẩm đó; (iv) bảo đảm sự đối xử bình đẳng đối với những nhà sản xuất. Các quốc gia thành viên sẽ thiết lập khuôn khổ giám sát và thực thi đầy đủ nhằm bảo đảm các nhà sản xuất thực hiện trách nhiệm của mình theo đúng yêu cầu[6]. Điều 8a (4b) của Chỉ thị này cũng quy định việc điều chỉnh mức đóng phí EPR phải dựa trên các yếu tố phù hợp với các yêu cầu của EU đặt ra.

- EPR đối với thiết bị điện, điện tử được ghi nhận trong Chỉ thị 2012/19/EU của Quốc hội và Hội đồng châu Âu ngày 04/7/2012. Thiết bị điện và điện tử thải loại theo Điều 3 (1) của Chỉ thị gồm tất cả các thành phần, các cụm lắp ráp và vật tư tiêu hao là một phần của sản phẩm tại thời điểm loại bỏ. Từ năm 2019, tỷ lệ thu gom tối thiểu phải đạt hàng năm là 65% trọng lượng trung bình được đưa ra thị trường trong ba năm trước đó tại quốc gia thành viên hoặc 85% thiết bị điện và điện tử thải loại được tạo ra trên lãnh thổ của quốc gia thành viên đó[7]. Mỗi quốc gia thành viên phải thực hiện việc thu gom riêng thông qua việc áp dụng các biện pháp thích hợp và phải báo cáo Ủy ban châu Âu. Ngoài ra, nhà sản xuất còn phải chỉ định đại diện được ủy quyền tại quốc gia thành viên thực hiện các nghĩa vụ của nhà sản xuất trên lãnh thổ của mình. Liên quan đến phí EPR, Chỉ thị 2012/19/EU không đưa ra quy định cụ thể cho vấn đề này nhưng yêu cầu các quốc gia thành viên phải điều chỉnh mức phí trên cơ sở các tiêu chí môi trường mà EU quy định tại Điều 8a và Điều 12.

- EPR đối với xe ôtô hết niên hạn được ghi nhận tại Quy định của Quốc hội và Hội đồng châu Âu ngày 13/7/2023. Nhà sản xuất đã đăng ký trong sổ đăng ký của quốc gia được đưa xe ra thị trường, có nghĩa vụ thực hiện báo cáo định kỳ trong việc thực hiện EPR. Nhà sản xuất có thể tự mình thực hiện EPR hoặc ủy quyền cho tổ chức thực hiện EPR (Producer Responsibility Organizations - PRO). Bên cạnh đó, nhà sản xuất phải thực hiện nghĩa vụ tài trợ các chi phí liên quan cho sản phẩm của mình khi đưa ra thị trường. Trường hợp xe được sử dụng ở quốc gia khác, nhà sản xuất vẫn phải chịu chi phí ròng theo cơ chế phân bổ chi phí chung của EU. Nhà sản xuất phải thiết lập hoặc tham gia mạng lưới thu gom trên toàn lãnh thổ, xe được giao cho các cơ sở xử lý phải có giấy chứng nhận tiêu hủy để được xóa đăng ký lưu hành[8]. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 21 của Chỉ thị, phí EPR được điều chỉnh dựa trên cơ sở các yếu tố khác nhau nhưng phải phù hợp với quy định tại Điều 6 và Điều 10.

Ngoài việc xây dựng khung pháp lý EPR rõ ràng cho từng ngành, EU còn thừa nhận PRO do các nhà sản xuất thành lập hoặc ủy quyền để thực hiện nghĩa vụ EPR tập thể. Các PRO phải đăng ký với cơ quan có thẩm quyền quốc gia và chịu sự kiểm soát của Nhà nước. Bên cạnh đó, các PRO phải báo cáo định kỳ đến các cơ quan quản lý về hiệu suất thu gom, tái chế, chi phí... để chứng minh hoạt động và đáp ứng mục tiêu kinh tế tuần hoàn. Thông qua các PRO, chi phí của nhà sản xuất giảm thiểu và được chia sẻ. Dữ liệu từ PRO giúp EU thiết kế chính sách kinh tế tuần hoàn dựa trên những bằng chứng cụ thể và EU khuyến khích nhà sản xuất cải tiến thiết kế sản phẩm bởi PRO áp dụng cơ chế phí đóng góp dựa trên tính thân thiện môi trường của sản phẩm.

1.2. Thành tựu Liên minh châu Âu đạt được liên quan đến trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất

Trong quá trình triển khai thực hiện, EU đã đạt được một số thành tựu quan trọng liên quan đến EPR, cụ thể:

Thứ nhất, EPR được mở rộng sang nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau với khung pháp lý toàn diện. Điều này không chỉ buộc các doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm và thay đổi hành vi sản xuất, mà còn cho phép sự tham gia đồng bộ của nhà sản xuất, đơn vị tái chế, người tiêu dùng và Chính phủ.

Thứ hai, EU đã đạt được những thành công trong lĩnh vực bao bì, tỷ lệ tái chế khá cao với 65,4% vào năm 2022, vượt mục tiêu 65% đặt ra cho năm 2025, tăng so với 64% của năm 2021. Rác thải bao bì được thu hồi bằng nhiều phương thức khác nhau, nhưng hình thức thu hồi chính vẫn là tái chế. Năm 2025, mục tiêu tái chế được xác định là 65%, trong đó có 13 quốc gia đạt mục tiêu này trong năm 2022.

Thứ ba, đối với thiết bị điện và điện tử thải loại, trong giai đoạn 2012 - 2022 lượng sản phẩm này được đưa vào thị trường tăng 89,3%, trong khi lượng sản phẩm được thu hồi chỉ đạt 72,1% và được tái chế là 66,6%[9]. Ở EU, tỷ lệ thu gom trung bình đối với thiết bị điện và điện tử thải loại đạt 40,6%[10] nhưng vẫn thấp so với mục tiêu 65% mà Chỉ thị 2012/19 đặt ra.

Thứ tư, về chất thải, năm 2022, lượng rác thải phát sinh trong lĩnh vực xây dựng chiếm 38,4%, khai thác mỏ và đá là 22/7%, dịch vụ xử lý chất thải và nước chiếm 10,5%, sản xuất là 10,4%, hộ gia đình 8,9% và 9,2% còn lại là chất thải phát sinh từ các hoạt động kinh tế khác. Đối với chất thải nguy hại, EU đã thu hồi 30% bằng cách tái chế hoặc chôn lấp; thu hồi năng lượng là 6,4%; đốt mà không thu hồi năng lượng là 4,1%; chôn lấp là 41% và xử lý bằng cách khác là 18,5%[11]. Năm 2023, lượng rác thải đô thị bình quân đầu người ở EU là 511kg và có 48% rác thải đô thị được tái chế bằng các phương thức như chôn lấp, đốt, tái chế và ủ phân[12].

Thứ năm, EPR đối với xe ôtô hết niên hạn đạt thành tựu vượt trội, khẳng định EPR trong ngành ôtô vận hành hiệu quả. Năm 2022, ở EU có 15 quốc gia báo cáo tỷ lệ tái sử dụng và thu hồi đạt tỷ lệ trên 95%; 07 quốc gia báo cáo tỷ lệ từ 90% đến 94,9% và 03 quốc gia báo cáo tỷ lệ dưới 90% nhưng vẫn giữ trong khoản 84,1% đến 88,5%[13]. Đến nay, việc tái sử dụng và tái chế ở một số quốc gia vẫn đạt tỷ lệ cao, chẳng hạn như Ireland đạt 89,5% tái chế và 97,2% phục hồi[14].

Thứ sáu, thành quả khác mà EU đạt được là việc triển khai mô hình PRO. Tây Ban Nha, tỷ lệ tái chế 33%, tỷ lệ tái chế bao bì nhựa đạt 50% thông qua tổ chức PRO, được gọi là Ecoembes. Ở Séc, hệ thống PRO với tên gọi EKO -KOM được thành lập bởi các ngành công nghiệp bao bì, gia dụng và công nghiệp đã tái chế hơn 80% lượng rác thải. Đức tái chế được 62% lượng rác thải, tất cả các chi phí liên quan đến tái chế, xử lý chất thải đều do công ty chi trả. Các tổ chức PRO quản lý các chi phí này và ký hợp đồng với các công ty quản lý chất thải và chính quyền địa phương[15].

Tuy nhiên, những thành tựu mà EU đạt được trong lĩnh vực này khi áp dụng tại Việt Nam sẽ gặp phải một số bất cập, hạn chế, bởi hạ tầng thu gom và công nghệ xử lý ở nước ta còn chưa phát triển để xử lý thiết bị điện, điện tử thải loại và các dòng chất thải nguy hại. Chi phí tuân thủ EPR tạo ra những áp lực cho doanh nghiệp, đặc biệt, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời, làm phát sinh nguy cơ dịch chuyển chi phí sang người tiêu dùng. Mô hình tổ chức thực hiện EPR (PRO), mặc dù đem lại hiệu quả cao nhưng cũng đặt ra các yêu cầu liên quan đến cơ chế giám sát, minh bạch tài chính... để tránh sự độc quyền hoặc vận hành kém hiệu quả. Mặc dù có nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm từ EU về vấn đề này, nhưng EPR ở Việt Nam trong thời gian tới cần được thiết kế cho phù hợp trình độ phát triển kinh tế - xã hội, năng lực quản lý.

2. Thực trạng pháp luật về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất tại Việt Nam

Tại Việt Nam, EPR được ghi nhận trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020; Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường (Nghị định số 08/2022/NĐ-CP); Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT ngày 10/01/2022 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường (Thông tư số 02/2022/TT BTNMT); Nghị định số 05/2025/NĐ CP ngày 06/01/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022. Dự thảo nghị định quy định về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu ngày 28/5/2025 đang được Bộ Nông nghiệp và Môi trường lấy ý kiến. Mặc dù dự thảo văn bản này chưa, nhưng việc phân tích nội dung của dự thảo văn bản góp phần tổng quát hóa khung pháp lý liên quan đến EPR tại Việt Nam. Quy định pháp luật về EPR tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu (gọi chung là các nhà sản xuất) có trách nhiệm tái chế những sản phẩm, bao bì có giá trị tái chế và phải đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để hỗ trợ tái chế sản phẩm (Điều 54 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020). Đối với chất thải, nhà sản xuất có trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải và cũng phải đóng góp tài chính để hỗ trợ các hoạt động xử lý chất thải (Điều 55 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020).

Thứ hai, đối tượng thực hiện tái chế gồm các sản phẩm được quy định tại Phụ lục XXII Nghị định số 08/2022/NĐ-CP với lộ trình phải tái chế là bao bì và các sản phẩm ắc quy, pin, dầu nhớt, săm lốp từ 01/01/2024; sản phẩm điện, điện tử từ ngày 01/01/2025; các phương tiện giao thông từ 01/01/2027. Tỷ lệ tái chế và quy cách tái chế bắt buộc được thực hiện theo quy định tại Điều 78 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP. Đối tượng thực hiện thu gom, xử lý chất thải được ghi nhận tại Phụ lục XXIII (kèm theo Nghị định số 08/2022/NĐ-CP), mức đóng góp tài chính mà nhà sản xuất phải thực hiện tùy thuộc đối với từng sản phẩm, bao bì.

Thứ ba, về cách thức thực hiện, các nhà sản xuất tự thực hiện việc tái chế hoặc thuê đơn vị tái chế hoặc ủy quyền cho tổ chức trung gian hoặc kết hợp cả 03 cách thức này để thực hiện tái chế. Đối với hoạt động xử lý chất thải, các nhà sản xuất, nhập khẩu phải đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để hỗ trợ các hoạt động xử lý chất thải theo quy định tại Điều 83 và Điều 84 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP. Việc nộp và tiếp nhận đăng ký kế hoạch tái chế, báo cáo kết quả tái chế, bản kê khai đóng góp tài chính, tài khoản tiếp nhận đóng góp tài chính hỗ trợ hoạt động tái chế, xử lý chất thải tuân theo quy định tại Điều 79 Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT.

Thứ tư, về mức đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam phải tuân thủ Điều 81 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP, khoản 37 Điều 1 Nghị định số 05/2025/NĐ-CP. Theo các quy định này, cách tính phí được thực hiện theo công thức F = R x V x Fs (trong đó, F là mức đóng góp; R là tỷ lệ tái chế bắt buộc (%); V là khối lượng sản phẩm, bao bì đưa ra thị trường (kg); Fs là định mức tái chế hợp lý và do Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành, điều chỉnh chu kỳ 03 năm).

Nhìn chung, khung pháp lý liên quan đến EPR của Việt Nam khá tương đồng với thông lệ quốc tế (trong đó có EU) về tỷ lệ tái chế tối thiểu, danh mục sản phẩn tái chế, xử lý chất thải, có lộ trình rõ ràng, cụ thể. Mặc dù chưa có tổ chức trung gian hoàn chỉnh, nhưng pháp luật Việt Nam vẫn luôn khuyến khích hình thành các tổ chức thực hiện EPR. Bên cạnh đó, hình thức thực hiện EPR cũng được ghi nhận cụ thể, phù hợp với năng lực của mỗi doanh nghiệp và lộ trình áp dụng phù hợp, bảo đảm doanh nghiệp có thời gian chuẩn bị, thích nghi với quy định của Nhà nước.

Bên cạnh những ưu điểm, khung pháp lý liên quan đến EPR tại Việt Nam còn tồn tại một số hạn chế như:

- Phạm vi ngành, lĩnh vực áp dụng EPR chỉ tập trung vào một số sản phẩm. Vì vậy, dòng chất thải phát sinh ở một số lĩnh vực khác như dệt may, xây dựng, nhựa... chưa được kiểm soát. Nguyên nhân là do khung pháp lý về EPR ở Việt Nam mới được hình thành kể từ thời điểm Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực pháp luật, cùng với một số văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan, trong khi ở EU, vấn đề này được ghi nhận từ những năm 1990. Ở Việt Nam, EPR tập trung vào nhóm sản phẩm có tác động lớn bởi đây là nguồn chất thải khó xử lý, dễ phát sinh chất thải nguy hại, có nguy cơ gây ô nhiễm trực tiếp... Hơn nữa, việc áp dụng EPR đòi hỏi hạ tầng phân loại, thu gom, tái chế và hệ thống giám sát minh bạch. Nếu mở rộng EPR sang lĩnh vực khác không có lộ trình, có thể tạo ra gánh nặng tài chính cho Nhà nước và doanh nghiệp, bởi Việt Nam có nền kinh tế đang phát triển, cần có thời gian thích ứng và xây dựng thị trường tái chế. Một số lĩnh vực như dệt may, xây dựng... mặc dù đã tiến hành nghiên cứu, đánh giá mức độ thải loại ra môi trường, đến nay vẫn chưa có quy định pháp lý liên quan đến EPR do thiếu cơ sở kỹ thuật để triển khai. Đây không phải khoảng trống pháp lý mà là cách tiếp cận thận trọng, từng bước của nhà làm luật trong việc lựa chọn một số sản phẩm cốt lõi, có tính cấp bách và khả thi cao, sau đó mở rộng sang các ngành, lĩnh vực khác.

- Pháp luật Việt Nam chưa quy định điều chỉnh phí EPR theo tính thân thiện môi trường của sản phẩm (eco - modulation), mức đóng góp tài chính được tính theo chi phí xử lý trung bình. Ở EU, cơ chế “eco - modulation” được ghi nhận theo Chỉ thị 2018/851, doanh nghiệp sử dụng vật liệu dễ tái chế, có thiết kế xanh... sẽ được giảm phí EPR, ngược lại, sản phẩm khó tái chế sẽ bị tăng phí. Ở Việt Nam, nếu thiếu quy định này sẽ không tạo ra được động lực đổi mới thiết kế xanh và sự công bằng giữa các chủ thể.

- Pháp luật hiện hành chưa có quy định về tổ chức thực hiện EPR (PRO) và đang dừng ở quy định cho phép doanh nghiệp ủy quyền tổ chức thực hiện thay. Vì thế, chưa có đầu mối chuyên nghiệp hỗ trợ hiệu quả cho các doanh nghiệp thực hiện EPR. Mặc dù đã có Hội đồng EPR quốc gia, nhưng tính chất vẫn là cơ quan quản lý, tư vấn, hỗ trợ cho Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Trong khi ở EU, nhà sản xuất có thể ủy quyền cho tổ chức PRO thực hiện EPR và các PRO này hoạt động minh bạch, chịu sự giám sát của cơ quan nhà nước và công khai thông tin thực hiện EPR. Bản chất của các PRO là trực tiếp thực thi, vận hành EPR, là tổ chức mang tính dịch vụ thị trường.

Việc thực thi quy định pháp luật về EPR tại Việt Nam trong thời gian qua cũng gặp một số khó khăn, việc thanh kiểm tra chưa được thực hiện thường xuyên; năng lực thực hiện EPR còn yếu. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ không đủ kinh phí để đầu tư hệ thống thu gom, xử lý, tái chế hoặc đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường. Nhà nước cũng chưa có hệ thống tư vấn chuyên biệt hoặc trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp triển khai EPR. Tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện EPR còn thấp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Điều này, dẫn tới chiến lược phát triển nền kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam khó có thể triển khai trên diện rộng bởi doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng 96% tổng số doanh nghiệp, sử dụng 47% lao động và đóng góp 36% giá trị gia tăng nền kinh tế quốc dân[16].

3. Hướng hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất tại Việt Nam dựa trên kết quả nghiên cứu và tham chiếu từ khung pháp lý của Liên minh châu Âu

3.1. Hoàn thiện một số quy định pháp luật về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất

Thứ nhất, bổ sung quy định liên quan đến việc điều chỉnh phí EPR theo tính thân thiện môi trường của sản phẩm tại Điều 81 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP, khoản 37 Điều 1 Nghị định số 05/2025/NĐ-CP. Mức phí này được xác định dựa trên: khả năng tái chế, tỷ lệ vật liệu tái chế, dễ phân loại, mức độ độc hại... Cơ chế điều chỉnh phí EPR của EU có thể áp dụng tại Việt Nam, bởi pháp luật hiện hành đã có quy định đến chỉ số R (R là tỷ lệ tái chế bắt buộc (%) trong công thức tính phí đóng góp vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam). Tuy nhiên, cần thực hiện từng bước theo lộ trình, cụ thể là thí điểm đối với một số sản phẩm có tiềm năng về tái chế; xây dựng bộ tiêu chí đánh giá sản phẩm thân thiện môi trường. Bên cạnh đó, bổ sung thêm quy định cấp chứng nhận “doanh nghiệp xanh” cho doanh nghiệp thực hiện tốt EPR trong đấu thầu, vay vốn, miễn giảm thuế môi trường, tạo động lực cho các doanh nghiệp trong thiết kế các sản phẩm xanh, sản phẩm tuần hoàn từ đầu chuỗi giá trị.

Thứ hai, Điều 54 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cần sửa đổi theo hướng mở rộng phạm vi EPR cho nhiều ngành, lĩnh vực khác ngoài những ngành đang áp dụng EPR như hiện nay, như dệt may, nhựa, vật liệu xây dựng... bảo đảm cho việc kiểm soát tốt hơn đối với nhiều dòng chất thải được phát sinh ra môi trường, từ đó, xác định trách nhiệm EPR của các nhà sản xuất phù hợp với quy định của pháp luật.

Thứ ba, quy định cho phép mở rộng thành lập tổ chức thực hiện EPR (PRO) hoặc công nhận về mặt pháp lý đối với tổ chức PRO. Đây là hình thức thực hiện tái chế, vì vậy, giải pháp này có thể được ghi nhận bổ sung trong Điều 6 liên quan đến hình thức thực hiện trách nhiệm tái chế của Dự thảo Nghị định quy định trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu mà Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang lấy ý kiến. Tuy nhiên, việc ghi nhận trong Dự thảo là giải pháp ngắn hạn, để có giải pháp dài hạn cần sửa đổi Điều 54 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, công nhận PRO là hình thức thực hiện EPR chính thức nếu hoạt động của các PRO đạt hiệu quả. Sau khi được thành lập, các PRO sẽ phải đăng ký, công nhận trong hệ thống quản lý EPR của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Năm 2023, Tổ chức Tái chế bao bì Việt Nam (PRO Việt Nam) là tổ chức đầu tiên được cấp phép hoạt động. Trong giai đoạn thử nghiệm từ năm 2022 đến năm 2023, PRO Việt Nam đã tổ chức thu gom và tái chế thành công 17.000 tấn vật liệu bao bì. Tổ chức này cũng công bố cam kết thu gom và tái chế khoản 64.000 tấn vật liệu đóng gói khác nhau vào năm 2024 để thực hiện EPR[17]. Qua đó, có thể thấy được thành quả đầu tiên từ mô hình PRO Việt Nam. Các PRO tại Việt Nam cần phải có lộ trình đi từ thí điểm với một số ngành có tính khả thi cao (hiện đang thí điểm với bao bì), sau đó, mở rộng sang các ngành, lĩnh vực khác. Việc thành lập và tổ chức hoạt động của các PRO cần được quy định rõ ràng từ đăng ký, điều kiện hoạt động, giới hạn cạnh tranh, minh bạch tài chính, mức độ thu gom, tái chế, công khai báo cáo hàng năm và được kiểm toán độc lập.

3.2. Nâng cao hiệu quả thực thi quy định pháp luật về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR)

Thứ nhất, tiếp tục vận hành Cổng thông tin điện tử quốc gia về EPR, đơn giản hóa thủ tục hành chính giúp doanh nghiệp thực hiện báo cáo, các chủ thể có thẩm quyền kiểm tra; tiếp tục chuẩn hóa các biểu mẫu điện tử, tích hợp dữ liệu sẵn có từ một số cơ quan thuế, hải quan, tránh việc doanh nghiệp phải kê khai nhiều lần, thay thế giấy tờ bằng dữ liệu số...

Thứ hai, trang bị kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng sử dụng công nghệ số cho cán bộ quản lý, kiểm tra việc thực hiện EPR của các nhà sản xuất, mở các khóa đào tạo giúp doanh nghiệp hiểu rõ về EPR, hỗ trợ kỹ thuật, tài chính cho các doanh nghiệp.

Thứ ba, khuyến khích người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm của doanh nghiệp thực hiện EPR và nâng cao vai trò giám sát của báo chí, hiệp hội ngành hàng để công khai các doanh nghiệp thực hiện EPR hoặc những doanh nghiệp không thực hiện EPR.

Kết luận

Trên cơ sở nghiên cứu khung pháp lý và thực tiễn thực thi EPR tại EU, nghiên cứu đã làm rõ các đặc trưng pháp lý cơ bản của EPR gắn liền với mô hình kinh tế tuần hoàn, đồng thời, đối chiếu với pháp luật Việt Nam để chỉ ra những điểm tương đồng, khác biệt và các vấn đề đặt ra trong quá trình áp dụng. Từ đó, xác định những khía cạnh có thể vận dụng vào bối cảnh ở Việt Nam, góp phần hoàn thiện quy định pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi EPR và hỗ trợ triển khai chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn trong giai đoạn hiện nay./.

TS. Nguyễn Thị Kim Thanh

Khoa Luật, Trường Đại học Thương mại

Ảnh: Internet

[1]. Nhĩ Anh, Mỗi năm Việt Nam thải ra môi trường 1,8 triệu tấn rác thải nhựa, https://vneconomy.vn/moi-nam-viet-nam-thai-ra-moi-truong-1-8-trieu-tan-rac-thai-nhua.htm?utm_source=chatgpt.com, truy cập ngày 20/12/2025.

[2]. Anh Tuấn, Phùng Định, Ngọc Thi & Nguyễn Phương (2024), Mỗi năm Việt Nam phát sinh khoảng 100.000 tấn rác thải điện tử, https://vtv.vn/xa-hoi/moi-nam-viet-nam-phat-sinh-khoang-100000-tan-rac-thai-dien-tu-20241118143630819.htm?utm_source=chatgpt.com, truy cập ngày 20/12/2025.

[3]. Thu Trang, Chi phí cho xử lý rác thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam còn thấp, https://baotintuc.vn/kinh-te/chi-phi-cho-xu-ly-rac-thai-ran-sinh-hoat-tai-viet-nam-con-thap-20230429152540668.htm, truy cập ngày 20/12/2025.

[4]. Chu Thanh Hương (2025), Nhìn lại 2 năm Việt Nam thực hiện cam kết cam kết COP 26, https://nongnghiepmoitruong.vn/nhin-lai-2-nam-viet-nam-hien-thuc-cam-ket-cop-26-d721718.html, truy cập ngày 20/12/2025.

[5]. Điều 6 và Bản 3 của Phục lục II, Quy định 2025/40 của Quốc hội và Hội đồng châu Âu ngày 19/12/2024 về bao bì và chất thải bao bì, http://data.europa.eu/eli/reg/2025/40/oj, truy cập ngày 20/12/2025.

[6]. Điều 1 Chỉ thị 2018/851 của Quốc hội và Hội đồng châu Âu ngày 30/5/2018 sửa đổi Chỉ thị 2008/98/EC về chất thải.

[7]. Europa (2024), Thống kê xe hết vòng đời, https://ec.europa.eu/eurostat/statistics-explained/index.php?title=End-of-life_vehicle_statistics#Number_of_end-of-life_vehicles, truy cập ngày 20/12/2025.

[8]. Các điều 16, 17, 21, 22, 23, 26 Quy định của Quốc hội và Hội đồng châu Âu về các yêu cầu tuần hoàn trong thiết kế xe và quản lý xe hết niên hạn ngày 13/7/2023.

[9]. Europa (2025), Tỷ lệ thu gom thiết bị điện và điện tử thải loại, https://www.eea.europa.eu/en/european-zero-pollution-dashboards/indicators/waste-electrical-and-electronic-equipment-weee collection-rate-indicator, truy cập ngày 20/12/2025.

[10]. Europa (2024), Tái chế chất thải ở châu Âu, https://www.eea.europa.eu/en/analysis/indicators/waste-recycling-in-europe, truy cập ngày 20/12/2025.

[11]. Europa (2024), Thống kê chất thải, https://ec.europa.eu/eurostat/statistics-explained/index.php?title=Waste_statistics, truy cập ngày 20/12/2025.

[12]. Europa (2025), Thống kê rác thải đô thị, https://ec.europa.eu/eurostat/statistics-explained/ index.php?title=Municipal_waste_statistics, truy cập ngày 20/12/2025.

[13]. Europa (2024), Thống kê xe hết vòng đời, https://ec.europa.eu/eurostat/statistics-explained/index.php?title=End-of-life_vehicle_statistics#Number_of_end-of-life_vehicles, truy cập ngày 20/12/2025.

[14]. Epa (2025), Thống kê xe hết vòng đời ở Ireland, https://www.epa.ie/our-services/monitoring--assessment/waste/national-waste-statistics/end-of-life-vehicles/?utm_source=chatgpt.com, truy cập ngày 20/12/2025.

[15]. Oleksandra Panasytska (2022), Less waste and more resources: how extended producer responsibility works within the context of a circular econnomy, https://voxukraine.org/en/less-waste-and-more-resources-how-extended-producer-responsibility-works-within-the-context-of-a-circular-economy, truy cập ngày 20/12/2025.

[16]. Nguyễn Minh (2023), Các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia hạn chế vào nền kinh tế tuần hoàn, https://en.vietnamplus.vn/smes-show-limited-engagement-in-circular-economy-post248186.vnp, truy cập ngày 20/12/2025.

[17]. Ngọc Lan, Giảm thiểu rác thải nhựa từ các giải pháp cho tính tuần hoàn của bao bì, https://vneconomy.vn/giam-thieu-rac-thai-nhua-tu-cac-giai-phap-cho-tinh-tuan-hoan-cua-bao-bi.htm, truy cập ngày 20/12/2025.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Chu Thanh Hương (2025), Nhìn lại 02 năm Việt Nam thực hiện cam kết cam kết COP 26, https://nongnghiepmoitruong.vn/nhin-lai-2-nam-viet-nam-hien-thuc-cam ket-cop-26-d721718.html, truy cập ngày 20/12/2025.

2. Epa (2025), Thống kê xe hết vòng đời ở Ireland, https://www.epa.ie/our-services/monitoring--assessment/waste/national-waste-statistics/end-of-life-vehicles/?utm_ source=chatgpt.com, truy cập ngày 20/12/2025.

3. Europa (2024), Tái chế chất thải ở châu Âu, https://www.eea.europa.eu/en/analysis/indicators/waste-recycling-in-europe, truy cập ngày 20/12/2025.

4. Europa (2024), Thống kê chất thải bao bì, https://ec.europa.eu/eurostat/statistics-explained/index.php?title=Packaging_ waste_statistics#Generation_and_recycling_per_inhabitant, truy cập ngày 20/12/2025.

5. Europa (2024), Thống kê chất thải, https://ec.europa.eu/eurostat/statistics-explained/index.php?title=Waste_ statistics, truy cập ngày 20/12/2025.

6. Europa (2024), Thống kê xe hết vòng đời, https://ec.europa.eu/eurostat/ statistics-explained/index.php?title=End-of-life_vehicle_statistics#Number_of_end-of-life_vehicles, truy cập ngày 20/12/2025.

7. Europa (2025), Thống kê rác thải đô thị, https://ec.europa.eu/eurostat/statistics-explained/index.php?title=Municipal_ waste_statistics, truy cập ngày 20/12/2025.

8. Europa (2025), Tỷ lệ thu gom thiết bị điện và điện tử thải loại, https://www.eea.europa.eu/en/european-zero-pollution-dashboards/indicators/waste-electrical-and-electronic-equipment-weee-collection-rate-indicator, truy cập ngày 20/12/2025.

9. Nguyễn Minh (2023), Các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia hạn chế vào nền kinh tế tuần hoàn, https://en.vietnamplus.vn/smes-show-limited-engagement-in-circular-economy-post248186.vnp, truy cập ngày 20/12/2025.

10. Nguyễn Phương, Phùng Định, Ngọc Thi, Anh Tuấn (2024), Mỗi năm Việt Nam phát sinh khoảng 100.000 tấn rác thải điện tử, https://vtv.vn/xa-hoi/moi-nam-viet-nam-phat-sinh-khoang-100000-tan-rac-thai-dien-tu-20241118143630819.htm?utm_source=chatgpt.com, truy cập ngày 20/12/2025.

11. Nguyễn Sỹ Linh (2024), Thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất và thỏa thuận toàn cầu về nhựa: Tầm quan trọng của lực lượng phi chính thức ở Việt Nam, Tạp chí Môi trường, số 03.

12. Nguyễn Thi (2024), Hoàn thiện quy định về tổ chức bộ máy quản lý thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), Tạp chí Quản lý nhà nước, số 341.

13. Nguyen Thi Nhu Quynh, Vu Van Ngoc (2024), Extended producer responsibility - building the legal framework in Vietnamese law on environmental protection from international experience, Vietnamese Journal of Legal Sciences, Vol.12, No. 03.

14. Nguyễn Thị Thư, Nguyễn Thị Tâm (2020), Nghiên cứu mô hình chính sách trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) và khả năng áp dụng tại Việt Nam, Tạp chí Khoa học công nghệ hàng hải, số 64.

15. Nguyễn Trường Ngọc (2022), Trách nhiệm sản phẩm của nhà sản xuất ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sỹ Luật học, Học viện Khoa học xã hội.

16. Oleksandra Panasytska (2022), Less waste and more resources: how extended producer responsibility works within the context of a circular econnomy, https://voxukraine.org/en/less-waste-and-more-resources-how-extended-producer-responsibility-works-within-the-context-of-a-circular-economy, truy cập ngày 20/12/2025.

17. Thu Trang (2023), Chi phí cho xử lý rác thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam còn thấp, https://baotintuc.vn/kinh-te/chi-phi-cho-xu-ly-rac-thai-ran-sinh-hoat-tai-viet-nam-con-thap-20230429152540668.htm, truy cập ngày 20/12/2025.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số quy định của Hiệp định Thương mại Hoa Kỳ - Mexico - Canada và đề xuất đối với Việt Nam

Một số quy định của Hiệp định Thương mại Hoa Kỳ - Mexico - Canada và đề xuất đối với Việt Nam

Tóm tắt: Hiệp định Thương mại Hoa Kỳ - Mexico - Canada (USMCA) có hiệu lực từ năm 2020, chính thức thay thế Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ. Nghiên cứu phân tích một số quy định nổi bật và quan trọng của USMCA liên quan đến: Điều khoản hoàng hôn, sở hữu trí tuệ (IP), nông nghiệp, quy tắc xuất xứ (ROO) và chứng nhận xuất xứ; thương mại kỹ thuật số; lao động và môi trường. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đánh giá kinh nghiệm và đề xuất Việt Nam tiếp thu có chọn lọc tiến hành đàm phán các Hiệp định thương mại tự do (FTA) với các nước Bắc Mỹ, đặc biệt là Hoa Kỳ trong tương lai.
Quyền môi trường và công lý khí hậu trong ý kiến tư vấn của Tòa án Công lý quốc tế, Tòa án Nhân quyền Liên Mỹ - Khuyến nghị đối với Việt Nam

Quyền môi trường và công lý khí hậu trong ý kiến tư vấn của Tòa án Công lý quốc tế, Tòa án Nhân quyền Liên Mỹ - Khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh khủng hoảng khí hậu toàn cầu ngày càng gia tăng, quyền được sống trong môi trường trong lành ngày càng được nhìn nhận như một quyền con người cơ bản, đòi hỏi các quốc gia phải thiết lập và thực thi các nghĩa vụ pháp lý cụ thể. Nghiên cứu phân tích hai Ý kiến tư vấn năm 2025 của Tòa án Công lý Quốc tế và Tòa án Nhân quyền Liên Mỹ, qua đó, cho thấy quyền môi trường là một quyền con người độc lập, gắn với các nghĩa vụ pháp lý cụ thể của quốc gia. Từ đó, nghiên cứu đánh giá mức độ tương thích của pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế và đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật để phù hợp với các cam kết quốc tế về quyền môi trường phù hợp với nguyên tắc công lý khí hậu và công bằng liên thế hệ tại Việt Nam.
Pháp luật về quản lý hạn ngạch và chống khai thác IUU - Kinh nghiệm từ Indonesia và khuyến nghị đối với Việt Nam

Pháp luật về quản lý hạn ngạch và chống khai thác IUU - Kinh nghiệm từ Indonesia và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh gia tăng hoạt động khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định, việc hoàn thiện cơ chế quản lý hạn ngạch khai thác và tăng cường thực thi các nghĩa vụ quốc tế theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 trở thành yêu cầu quan trọng đối với các quốc gia ven biển. Nghiên cứu phân tích, tổng hợp và so sánh pháp luật thông qua kinh nghiệm lập pháp và thực tiễn thực thi tại Indonesia để đánh giá thực trạng pháp luật và cơ chế thực thi tại Việt Nam, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả phòng, chống khai thác IUU tại Việt Nam.
Giao dịch tín chỉ carbon theo pháp luật liên minh châu Âu và Trung Quốc - một số gợi mở đối với Việt Nam

Giao dịch tín chỉ carbon theo pháp luật liên minh châu Âu và Trung Quốc - một số gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Quản lý tín chỉ carbon là một trong những giải pháp quan trọng để kiểm soát ô nhiễm môi trường. Vì thế, nhiều quốc gia trên thế giới đã hình thành thị trường giao dịch tín chỉ carbon. Nghiên cứu phân tích khái niệm, bản chất pháp lý của giao dịch tín chỉ carbon dưới góc độ quyền tài sản và giao dịch dân sự - thương mại, đồng thời, nghiên cứu kinh nghiệm pháp lý của Liên minh châu Âu và Trung Quốc trong tổ chức thị trường carbon, từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam theo hướng minh bạch, có khả năng giao dịch, bảo đảm tương thích với thông lệ quốc tế và góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững.
Vai trò của Tòa án trong thỏa thuận nhận tội ở Hoa Kỳ và Pháp - Gợi mở đối với Việt Nam

Vai trò của Tòa án trong thỏa thuận nhận tội ở Hoa Kỳ và Pháp - Gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trước yêu cầu nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án hình sự cả về số lượng và chất lượng, thỏa thuận nhận tội dần trở thành xu hướng được nhiều quốc gia nghiên cứu, áp dụng, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, việc thực thi cơ chế này cũng đặt ra những thách thức lớn trong việc bảo đảm cân bằng giữa hiệu quả tố tụng với quyền và lợi ích của người bị buộc tội, đòi hỏi vai trò giám sát chặt chẽ của cơ quan tư pháp, mà trọng tâm là Tòa án. Nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò, thẩm quyền, quy trình phê chuẩn thỏa thuận nhận tội của Tòa án theo quy định pháp luật của Hoa Kỳ, Pháp và so sánh với pháp luật Việt Nam, từ đó, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong quy định của pháp luật Việt Nam. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc trong xây dựng, hoàn thiện cơ chế thỏa thuận nhận tội phù hợp với Việt Nam.
Pháp luật Liên minh châu Âu trong xác định tình trạng việc làm của người làm việc thông qua nền tảng - Kinh nghiệm từ Tây Ban Nha, Pháp và gợi mở đối với Việt Nam

Pháp luật Liên minh châu Âu trong xác định tình trạng việc làm của người làm việc thông qua nền tảng - Kinh nghiệm từ Tây Ban Nha, Pháp và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế số đặt ra thách thức lớn trong xác định tình trạng việc làm của người làm việc thông qua nền tảng kỹ thuật số. Chỉ thị (EU) 2024/2831 đã thiết lập giả định pháp lý về quan hệ lao động nếu người làm việc bị kiểm soát thông qua hệ thống thuật toán, đồng thời, cho phép các quốc gia thành viên linh hoạt thiết kế cơ chế xác định tình trạng việc làm phù hợp với đặc thù pháp luật quốc gia. Nghiên cứu phân tích hai mô hình tiêu biểu tại Tây Ban Nha và Pháp thuộc Liên minh châu Âu (EU), đại diện cho hai cách tiếp cận khác nhau: luật hóa cứng (Tây Ban Nha), án lệ linh hoạt (Pháp), chỉ ra ưu điểm, hạn chế của từng mô hình, qua đó, đề xuất một số kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc trong xây dựng khung pháp luật phù hợp với thực tế nhằm bảo vệ người lao động thông qua nền tảng mà vẫn bảo đảm sự linh hoạt của thị trường.
Xây dựng tài liệu tập huấn thiết thực trong công tác tổ chức thi hành pháp luật

Xây dựng tài liệu tập huấn thiết thực trong công tác tổ chức thi hành pháp luật

Trong khuôn khổ Dự án tăng cường pháp luật và tư pháp tại Việt Nam giai đoạn II - Hợp phần hỗ trợ các cơ quan nhà nước (Dự án EU JULE II), chiều ngày 12/5, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam tổ chức cuộc họp kỹ thuật góp ý đối với dự thảo tài liệu tập huấn thử về công tác tổ chức thi hành pháp luật. Bà Nguyễn Thị Minh Phương, Phó Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp và bà Nguyễn Thị Thanh Hải, Cố vấn trưởng Dự án EU JULE đồng chủ trì cuộc họp.
Hoàn thiện quy định về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động - từ kinh nghiệm của Indonesia

Hoàn thiện quy định về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động - từ kinh nghiệm của Indonesia

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân có xu hướng gia tăng, đòi hỏi cơ chế hòa giải phải thực sự hiệu quả để bảo đảm quan hệ lao động hài hòa, ổn định. Tuy nhiên, quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân thông qua hòa giải viên lao động còn bộc lộ một số hạn chế, đặc biệt liên quan đến thời hiệu yêu cầu hòa giải, tiêu chuẩn và quyền hạn của hòa giải viên, cũng như thời hạn thực hiện hòa giải. Trên cơ sở phương pháp so sánh, phân tích những nội dung cơ bản của pháp luật Indonesia và Việt Nam, làm rõ những điểm tương đồng, hạn chế của pháp luật Việt Nam, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả cơ chế hòa giải và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ lao động.
Pháp luật về hoàn trả và bảo hành hàng hóa trong thương mại điện tử - so sánh giữa pháp luật Việt Nam và Trung quốc

Pháp luật về hoàn trả và bảo hành hàng hóa trong thương mại điện tử - so sánh giữa pháp luật Việt Nam và Trung quốc

Tóm tắt: Trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển mạnh, các chính sách hậu mãi như hoàn trả và bảo hành trở thành công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ người tiêu dùng. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật Việt Nam và Trung Quốc về hai chính sách này, nghiên cứu làm rõ các nguyên tắc “niềm tin chính đáng”, “trách nhiệm chia sẻ” và cơ chế “ba bảo đảm” tại Trung Quốc, nhận diện những hạn chế trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích giữa người tiêu dùng, doanh nghiệp và sàn thương mại điện tử, nâng cao tính minh bạch và độ tin cậy trong môi trường thương mại điện tử.
Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Chế định cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp là cơ chế pháp lý quan trọng để bảo đảm thực thi quyền tiếp cận thông tin. Nghiên cứu phân tích nội dung chế định này theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, chỉ ra một số hạn chế trong quá trình triển khai thi hành, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Thụy Điển và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định trong dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) ở Việt Nam.
Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin, đặc biệt là thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ trở thành chuẩn mực quan trọng của quản trị dân chủ và Nhà nước pháp quyền trên thế giới. Nội dung và cũng là yêu cầu cốt lõi trong bảo đảm quyền này là cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp, bên cạnh nghĩa vụ chủ động công bố thông tin của các cơ quan công quyền. Nghiên cứu phân tích quy định về cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới và theo Luật mẫu của ARTICLE 19, làm rõ những ưu điểm về bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cơ chế cung cấp thông tin hiệu quả theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp không chỉ gồm quy định về chủ thể có quyền và trách nhiệm, mà còn gắn với các yếu tố như cơ chế giám sát độc lập, chuẩn hóa quy trình xử lý yêu cầu và ứng dụng công nghệ số trong quản lý, cung cấp thông tin. Trên cơ sở đó, nghiên cứu, đề xuất Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc một số kinh nghiệm có giá trị trong việc hoàn thiện khung pháp luật về cung cấp thông tin theo yêu cầu, đặc biệt, trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, thúc đẩy quản trị minh bạch và phát triển Chính phủ số.
Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Tín ngưỡng và tôn giáo là yếu tố cấu thành cơ bản trong đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi cá nhân, gồm các lễ nghi truyền thống và tập tục. Từ góc độ pháp lý, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận là quyền cơ bản của con người được quy định trong Hiến pháp và pháp luật của các quốc gia. Bài viết nghiên cứu, phân tích, so sánh khung pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một số quốc gia trong hệ thống dân luật và cách thức quản trị sự đa dạng tôn giáo của các quốc gia này. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và quản lý hoạt động của các tôn giáo tại Việt Nam nhằm hài hòa và thúc đẩy công bằng xã hội.
Pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Trung Quốc và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Trung Quốc và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế nhất định, đặt ra yêu cầu phải sửa đổi nhằm đáp ứng thực tiễn quản trị hiện đại. Nghiên cứu tập trung đánh giá các khoảng trống pháp lý trên không gian mạng, sự phức tạp trong thủ tục hành chính hiện hành; đồng thời, đi sâu phân tích kinh nghiệm của Trung Quốc đối với mô hình quản lý tôn giáo trực tuyến và cơ chế hậu kiểm, từ đó, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Bằng việc sử dụng phương pháp so sánh luật học và phân tích chính sách, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các hướng hoàn thiện cụ thể: luật hóa trách nhiệm định danh trên môi trường số, thiết lập cơ chế quản trị nhiều bên và đẩy mạnh phân cấp quản lý gắn liền với việc khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Những giải pháp đó nhằm kiến tạo hành lang pháp lý vững chắc, góp phần bảo đảm quyền tự do tôn giáo hài hòa với lợi ích an ninh quốc gia.
Kiểm soát sở hữu chéo cổ phần bằng quyền tiếp cận thông tin - Nghiên cứu, so sánh pháp luật Nhật Bản, Úc và khuyến nghị đối với Việt Nam

Kiểm soát sở hữu chéo cổ phần bằng quyền tiếp cận thông tin - Nghiên cứu, so sánh pháp luật Nhật Bản, Úc và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Tăng cường kiểm soát sở hữu chéo cổ phần đóng vai trò quan trọng nhằm hạn chế rủi ro phát sinh từ các cấu trúc sở hữu phức tạp và thiếu minh bạch. Nghiên cứu phân tích, đánh giá, so sánh các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về minh bạch thông tin liên quan đến sở hữu chéo cổ phần của Nhật Bản, Úc và Việt Nam để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin như một công cụ pháp lý hỗ trợ nhận diện quan hệ lợi ích, phòng ngừa rủi ro trong quản trị doanh nghiệp, cạnh tranh và ổn định tài chính. Nghiên cứu cho thấy, Nhật Bản và Úc đều coi minh bạch thông tin là nền tảng của cơ chế giám sát sở hữu chéo, trong khi pháp luật Việt Nam còn những hạn chế trong bảo đảm khả năng tiếp cận thông tin về cấu trúc sở hữu, từ đó, đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường minh bạch, liên thông dữ liệu và nâng cao hiệu quả giám sát của thị trường và xã hội.
Pháp luật Đức về trợ giúp người chưa thành niên trong tố tụng hình sự - Một số kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam

Pháp luật Đức về trợ giúp người chưa thành niên trong tố tụng hình sự - Một số kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam

Trên thực tế, hệ thống tư pháp người chưa thành niên ở Liên minh châu Âu nói chung và ở Đức nói riêng đã phát triển mạng lưới dịch vụ xã hội chuyên trách, với sự tham gia của các nhà tâm lý học, bác sĩ tâm thần, trung gian hòa giải, nhân viên xã hội hoặc cán bộ quản chế. Tại Cộng hòa Liên bang Đức, nhiệm vụ này gọi là trợ giúp thanh thiếu niên trong tố tụng hình sự, do các chuyên gia thực hiện bằng cách cung cấp thông tin cho thẩm phán Tòa án thanh thiếu niên và hỗ trợ người chưa thành niên và gia đình họ trước, trong và sau quá trình tố tụng hình sự.

Theo dõi chúng tôi trên: