Thứ ba 10/03/2026 06:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xử lý tài sản thế chấp trong mối quan hệ với Pháp luật về phá sản

Xử lý tài sản thế chấp vốn dĩ là công việc có tính phức tạp bởi nó có thể liên quan đến lợi ích của nhiều chủ thể cần phải được bảo vệ tại thời điểm mà bên có nghĩa vụ đã vi phạm nghĩa vụ. Đặc biệt khi nhu cầu xử lý tài sản thế chấp lại có sự xung đột với nhu cầu cần tổ chức lại hoạt động của bên có nghĩa vụ phải trả nợ là một chủ thể có nguy cơ phá sản hoặc có sự xung đột về thứ tự ưu tiên thanh toán giữa bên nhận thế chấp với các chủ thể khác cùng có quyền lợi đối với bên thế chấp khi giải quyết thủ tục phá sản.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ đi vào phân tích đặc trưng và mối quan hệ giữa các quy định về xử lý tài sản thế chấp với pháp luật về phá sản trong trường hợp con nợ không thể trả được nợ. Trên cơ sở đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật để bảo vệ tốt nhất lợi ích của các chủ thể có liên quan, qua đó thúc đẩy các giao dịch dân sự thương mại phát triển một cách an toàn và lành mạnh.

1. Mối quan hệ giữa pháp luật về xử lý tài sản thế chấp và pháp luật về phá sản

Pháp luật về xử lý tài sản thế chấp và pháp luật về phá sản sẽ được áp dụng đồng thời nếu bên vay có thế chấp lâm vào tình trạng không có khả năng trả nợ. Tuy nhiên, mục tiêu của hai chế định pháp luật này lại không tương đồng ở những điểm sau đây:

Mỗi chế định đều có những đòi hỏi, yêu cầu khác nhau đối với khoản nợ: Luật Phá sản đặt ra để giải quyết những khoản nợ không thể trả khi đến hạn, còn pháp luật về xử lý tài sản thế chấp khẳng định rằng, khoản nợ sẽ được trả dựa trên những tài sản thế chấp ngay cả khi hoạt động kinh doanh của con nợ không thể tiếp tục;

Mỗi chế định đều nỗ lực bảo vệ các quyền khác nhau: Luật Phá sản giải quyết nợ trên cơ sở xử lý đồng thời lợi ích của tất cả các chủ nợ với quyền bình đẳng như nhau; trong khi đó quy định về thế chấp tài sản lại theo hướng giải quyết khoản nợ của từng cá nhân được bảo đảm trên từng tài sản thế chấp cụ thể;

Mỗi chế định đều có căn cứ để giải quyết khác nhau đối với khoản nợ: Pháp luật phá sản dựa trên giá trị tối đa của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp để bảo đảm lợi ích của tất cả các chủ nợ còn pháp luật xử lý tài sản thế chấp lại dựa trên giá trị của từng tài sản thế chấp để đảm bảo lợi ích của từng chủ nợ cụ thể.

Với những đặc điểm và mục tiêu khác nhau cơ bản trên, thì sự mâu thuẫn giữa pháp luật phá sản và quy định về xử lý tài sản thế chấp là không tránh khỏi. Tuy nhiên, giữa chúng lại có mối quan hệ qua lại, ảnh hưởng đến nhau. Điều này được thể hiện dưới các khía cạnh:

Thứ nhất, việc xử lý tài sản thế chấp hiệu quả là một nhân tố quan trọng dẫn đến sự thành công khi giải quyết các thủ tục về phá sản. Kết luận này được xây dựng dựa trên hai lý do cơ bản sau: (i) Các thông tin rõ ràng về việc thế chấp là cơ sở để giải quyết nhanh chóng việc phá sản. Khi giải quyết việc phá sản, tổ quản lý, thanh lý tài sản sẽ phải lập danh sách các chủ nợ có bảo đảm và không bảo đảm. Đối với các khoản vay có thế chấp đã được đăng ký hay thông báo công khai là những thông tin chắc chắn và đáng tin cậy để tổ quản lý, thanh lý tài sản xác định những chủ nợ được ưu tiên thanh toán từ những tài sản thế chấp cũng như xác định phạm vi những chủ nợ không bảo đảm. Không những thế, hệ thống đăng ký thế chấp là căn cứ để tổ quản lý tài sản giải quyết khi có nhiều chủ nợ cùng có quyền trên một tài sản thế chấp. Thứ tự đăng ký giao dịch bảo đảm là nguồn thông tin chắc chắn đáng tin cậy để xác định thứ tự ưu tiên giữa các chủ thể cùng nhận thế chấp trên một tài sản. Từ đó, tổ quản lý tài sản cũng đánh giá được vị trí và ảnh hưởng của chủ nợ có bảo đảm được quyền ưu tiên thanh toán trước trong trường hợp tái cấu trúc hay tổ chức lại doanh nghiệp; (ii) Hiệu quả của xử lý tài sản thế chấp sẽ tạo áp lực để giải quyết phá sản nhanh chóng. Một hệ thống thực thi thế chấp hiệu quả sẽ ảnh hưởng quan trọng đến hệ thống luật phá sản, bởi nó sẽ thuyết phục con nợ trong việc chấm dứt các hành vi làm vô hiệu hoá tài sản thế chấp và tự nguyện tái cấu trúc lại doanh nghiệp một cách nhanh chóng.

Thứ hai, việc xử lý tài sản thế chấp không hiệu quả cũng sẽ khiến cho việc giải quyết phá sản khó khăn. Việc xử lý tài sản thế chấp có thể quá lâu, quá tốn kém và không đảm bảo hiệu quả thương mại. Phần lớn việc xử lý tài sản thế chấp được tiến hành thông qua Toà án. Các thủ tục tư pháp tại Toà án cùng với sự phản đối của con nợ khiến cho việc xử lý kéo dài hoặc bị trì hoãn. Ngay cả khi có lệnh của Toà án được quyền thu giữ tài sản thế chấp, nhưng bên nhận thế chấp không được quyền tự bán để thu hồi nợ mà phải bán thông qua một cơ quan của nhà nước. Hệ thống pháp luật về xử lý tài sản thế chấp không hiệu quả có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý như: Con nợ sẽ lợi dụng những quy định không hiệu quả của pháp luật để trì hoãn và cản trở quá trình xử lý tài sản thế chấp; con nợ sẽ không được khuyến khích hay cảm thấy bị bắt buộc để tiến hành các bước tái cấu trúc lại hoạt động của doanh nghiệp; do việc xử lý tài sản thế chấp không hiệu quả, nên bên nhận thế chấp đành trông chờ vào thủ tục phá sản là cơ sở cuối cùng để bảo vệ quyền lợi của mình. Như vậy, giữa thủ tục xử lý tài sản thế chấp và thủ tục giải quyết phá sản có quan hệ tác động ảnh hưởng lẫn nhau ở cả hai phương diện tích cực cũng như tiêu cực.

2. Quá trình giải quyết phá sản có liên quan đến tài sản thế chấp

Lợi ích của bên nhận thế chấp được tạo ra và ghi nhận theo pháp luật của giao dịch bảo đảm, nhưng vẫn bộc lộ những mâu thuẫn với nguyên tắc cơ bản của pháp luật về phá sản. Theo pháp luật phá sản, khi có đơn yêu cầu tuyên bố doanh nghiệp phá sản thì mọi giao dịch của con nợ đều bị đình chỉ hoặc không có giá trị. Quy định này nhằm bảo vệ chủ nợ từ những giao dịch gian lận giữa con nợ với chủ thể khác, đặc biệt là giao dịch giữa con nợ với những người thân của mình nhằm tẩu tán tài sản. Một vấn đề đặt ra là, những quy định này có nên áp dụng đối với các giao dịch được bảo đảm bởi thế chấp? Có 2 quan điểm về vấn đề này:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, không thể vô hiệu hoá giá trị của giao dịch thế chấp, vì mục đích thương mại của những giao dịch này đã được xác định và mọi sự can thiệp đến quyền của các chủ nợ có bảo đảm đều sai. Nếu Luật Phá sản đặt ra những mối đe doạ đối với những người cho vay thì họ có thể sẽ quyết định không cho vay.

Quan điểm thứ hai cho rằng, không có lý do gì để phân biệt giữa giao dịch có thế chấp với các giao dịch có mục đích thương mại khác. Nếu nguyên tắc loại bỏ những giao dịch thương mại khi giải quyết phá sản được tuyên bố rõ ràng, thì chúng nên được áp dụng đối với mọi giao dịch, trong đó có giao dịch thế chấp.

Nếu Luật Phá sản ủng hộ tiến trình giải quyết nợ theo một trật tự và mang tính tập thể cùng chia sẻ giữa các chủ nợ thì sẽ dẫn đến việc can thiệp như hạn chế hay cấm việc giải quyết nợ theo từng cá nhân. Luật sẽ chuyển quyền theo hợp đồng cụ thể thành quyền của tập thể chủ nợ và cùng chia sẻ quyền lợi giữa các chủ nợ. Nguyên tắc này được thừa nhận và áp dụng giữa các chủ nợ không có bảo đảm bởi mục đích nó giúp cho việc xác định toàn bộ tài sản của doanh nghiệp nợ sẽ được bán. Đối với các giao dịch bảo đảm (có biện pháp thế chấp), thì không thể bị can thiệp hay bị hạn chế bởi lợi ích của tập thể chủ nợ, vì không có quy định nào về việc chuyển lợi ích cá nhân trong các giao dịch có bảo đảm sang lợi ích tập thể chủ nợ. Tuy nhiên, sự phát triển của khái niệm “giải cứu” hoặc “tổ chức lại” doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản đã dẫn đến sự phát triển của nguyên tắc trên và nó cũng được áp dụng đối với các giao dịch bảo đảm. Theo đó, các giao dịch bảo đảm cũng sẽ bị ngừng ngay lập tức trong giai đoạn “giải cứu” doanh nghiệp. Bởi lẽ, nếu tài sản thế chấp bị bán đi để thanh toán nợ, thì doanh nghiệp không thể phục hồi được hoạt động kinh doanh của mình. Lợi ích lớn nhất mà chủ nợ có bảo đảm có thể nhận được từ việc áp dụng nguyên tắc chuyển quyền cá nhân thành quyền tập thể là được giữ một vị trí trong thành phần những chủ thể có thẩm quyền tổ chức lại hoạt động của doanh nghiệp. Cơ hội này sẽ không thể có nếu tài sản bảo đảm bị bán đi hoặc xử lý bởi các chủ nợ có bảo đảm theo những hợp đồng bảo đảm đã ký kết. Việc tạm đình chỉ xử lý tài sản bảo đảm (thế chấp) chỉ nên được áp dụng nếu thoả mãn được 2 điều kiện là việc tổ chức lại hoạt động của doanh nghiệp nợ có tính khả thi và chủ nợ có bảo đảm đã đạt được một cam kết trong kế hoạch để tổ chức lại doanh nghiệp. Việc tái tổ chức lại doanh nghiệp có thể giúp doanh nghiệp được điều hành bởi những người quản lý có kỹ năng và kinh nghiệm. Chủ nợ có bảo đảm cần phải được ghi nhận là một thành phần trong việc tái cấu trúc lại doanh nghiệp trong thời gian tạm đình chỉ xử lý tài sản bảo đảm.

3. Những bất cập của pháp luật hiện hành về phá sản liên quan đến xử lý tài sản thế chấp và một vài kiến nghị

Pháp luật về phá sản của Việt Nam đã bộc lộ những bất cập liên quan đến xử lý tài sản thế chấp. Cụ thể:

Thứ nhất, Điều 27 Luật Phá sản năm 2004 quy định về việc tạm đình chỉ xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp được áp dụng kể từ khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Thông thường, việc đình chỉ này sẽ luôn được áp dụng cho dù thẩm phán quyết định bất cứ thủ tục phá sản nào được quy định tại Điều 5 của Luật Phá sản.

“Điều 5:

1. Thủ tục phá sản được áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản bao gồm: (a) Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản; (b) Phục hồi hoạt động kinh doanh; (c) Thanh lý tài sản, các khoản nợ; (d) Tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản.

2. Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, căn cứ vào quy định cụ thể của Luật này, thẩm phán quyết định áp dụng một trong hai thủ tục quy định tại điểm b và điểm c của khoản 1 Điều này hoặc quyết định chuyển từ phục hồi hoạt động kinh doanh sang áp dụng thủ tục thanh lý tài sản, các khoản nợ hoặc tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản”.

Quy định trên của Luật Phá sản thể hiện sự linh hoạt của pháp luật trong việc đưa ra các giải pháp phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Thẩm phán sẽ quyết định hoặc cho doanh nghiệp được phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc dùng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp để thanh toán nợ. Theo chúng tôi, việc đình chỉ xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp chỉ nên áp dụng đối với thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, mà không phù hợp với thủ tục thanh lý tài sản, các khoản nợ. Với mục tiêu giải cứu doanh nghiệp không có khả năng trả nợ, thì tất cả các tài sản của doanh nghiệp, trong đó có tài sản thế chấp cần phải được giữ lại để doanh nghiệp có thể tiếp tục hoạt động kinh doanh. Còn đối với thủ tục thanh lý tài sản, các khoản nợ thì quy định tạm đình chỉ xử lý tài sản bảo đảm là không cần thiết và không phù hợp bởi việc xử lý tài sản bảo đảm phải được tiến hành đồng thời với việc thanh lý tài sản và trả nợ.

Thứ hai, pháp luật về phá sản còn thiếu những quy định về bảo vệ quyền cho bên nhận thế chấp trong thời gian tạm đình chỉ xử lý tài sản thế chấp: Việc đình chỉ xử lý tài sản thế chấp sẽ tạo ra tình trạng căng thẳng giữa lợi ích của bên nhận thế chấp và lợi ích của doanh nghiệp. Quá trình này chỉ nên áp dụng nếu pháp luật có những quy định đảm bảo được quyền của bên nhận thế chấp. Những giải pháp cụ thể còn thiếu trong quy định của pháp luật hiện hành về phá sản là:

(i) Những quy định về vị trí, vai trò của bên nhận thế chấp trong quá trình phục hồi hoạt động của doanh nghiệp. Bên nhận thế chấp phải là một bộ phận cấu thành trong hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp như tham gia vào kế hoạch tái cấu trúc doanh nghiệp hoặc uỷ quyền cho người khác tham gia. Bên nhận thế chấp phải được biết quyền lợi của mình sẽ được bảo đảm như thế nào khi áp dụng kế hoạch tổ chức lại doanh nghiệp. Thời gian tạm đình chỉ xử lý tài sản thế chấp phải phù hợp với kế hoạch đó và giá trị của biện pháp thế chấp sau khi tái cấu trúc hoạt động của doanh nghiệp phải được duy trì và đảm bảo. Luật Phá sản năm 2004 không có những quy định về những vấn đề này, mà ngược lại còn quy định làm giảm vị trí của bên nhận thế chấp trong quá trình giải quyết phá sản như quy định thành viên của tổ quản lý, thanh lý nợ không bao gồm chủ nợ có thế chấp (chỉ gồm một người đại diện có số nợ lớn nhất).

(ii) Quy định của pháp luật phá sản hiện hành không có sự phân biệt về vị trí và ảnh hưởng của chủ nợ có bảo đảm và không có bảo đảm trong danh sách hội nghị chủ nợ, thậm chí quyền lợi của chủ nợ có bảo đảm còn không được bảo vệ như chủ nợ không bảo đảm. Trong bài viết “Luật Phá sản năm 2004 - những tiến bộ và hạn chế”, Tạp chí Khoa học pháp lý, TS. Nguyễn Thái Phúc có nhận xét về thời điểm cấm thanh toán nợ đối với chủ nợ có bảo đảm là khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản (theo Điều 27 Luật Phá sản), trong khi đó thời điểm cấm thanh toán nợ đối với chủ nợ không bảo đảm là khi có quyết định tuyên bố mở thủ tục phá sản (theo Điều 31 Luật Phá sản). Điều này có nghĩa là, trong giai đoạn từ khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản, đến khi có quyết định mở thủ tục phá sản thì các chủ nợ không có đảm bảo vẫn được thanh toán hoặc được bù trừ nghĩa vụ theo quy định tại Điều 48; trong khi đó thì chủ nợ có bảo đảm sẽ bị cấm những quyền này.

(iii) Thời gian tạm đình chỉ xử lý tài sản thế chấp cần phải được hạn chế và xác định trong một khoản thời gian cụ thể và chắc chắn. Luật Phá sản năm 2004 còn thiếu những quy định hướng dẫn cụ thể về thời gian này. Căn cứ để xác định khoảng thời gian này phụ thuộc vào kế hoạch phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có sự đồng ý của chủ nợ có bảo đảm; hoặc luật phải quy định về khoảng thời gian tối thiểu.

(iv) Những trường hợp được phép xử lý tài sản thế chấp trong quãng thời gian tạm đình chỉ: Theo Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ngày 28/4/2005 hướng dẫn quy định chi tiết Luật Phá sản năm 2004:

“2.3. Trong trường hợp có chủ nợ bảo đảm có yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã, thì thẩm phán phải thông báo cho họ biết nguyên tắc chung việc xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp và hợp tác xã đang phải tạm đình chỉ. Chỉ trong trường hợp có đầy đủ các điều kiện sau đây, thì thẩm phán có thể cho phép xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã đối với chủ nợ có bảo đảm:

a. Tài sản có yêu cầu xử lý là tài sản bảo đảm cho khoản nợ đã đến hạn;

b. Việc xử lý tài sản bảo đảm đó không làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã;

c. Người yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm có đơn yêu cầu, trong đó trình bày các lý do của việc xin xử lý tài sản bảo đảm và xét thấy các lý do đó là chính đáng , việc xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp đối với họ là cần thiết”.

Quy định trên chưa xuất phát từ cơ sở bảo vệ lợi ích cho chủ nợ có bảo đảm và hầu như sẽ không thực hiện được trên thực tế, bởi những căn cứ áp dụng mang tính chất chung chung như “không ảnh hưởng lớn” đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm “là cần thiết” là những điều kiện rất khó chứng minh. Khi đó, quyền quyết định có cho phép xử lý tài sản thế chấp hay không lại hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của thẩm phán. Theo chúng tôi, Luật Phá sản cần xác định rõ ràng trường hợp duy nhất được đình chỉ xử lý tài sản thế chấp là khi thẩm phán ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động của doanh nghiệp. Trong thời gian phục hồi đó, thì bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu được bán tài sản thế chấp. Còn đối với trường hợp áp dụng thủ tục thanh lý tài sản và thanh toán nợ, thì việc bán tài sản thế chấp là đương nhiên mà chủ nợ có thế chấp không cần phải làm đơn yêu cầu. Trong trường hợp trên, nếu có yêu cầu được xử lý tài sản thế chấp thì Luật Phá sản cần bổ sung căn cứ cụ thể như: Việc tạm đình chỉ xử lý tài sản bảo đảm là không phù hợp với điều kiện tài chính của doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản (trong trường hợp doanh nghiệp không có kế hoạch phục hồi hoạt động hoặc kế hoạch phục hồi không có tính khả thi; nếu kế hoạch phục hồi có tính khả thi thì tài sản bảo đảm không tham gia vào quá trình này) và/hoặc việc tạm đình chỉ xử lý tài sản thế chấp là nguyên nhân gây ra những thiệt hại không thể khắc phục được, không thể sửa chữa được đối với bên nhận thế chấp. Nếu bên nhận thế chấp không thể xử lý để thu hồi nợ đúng hạn, thì họ cũng sẽ lâm vào tình trạng phá sản hoặc tài sản thế chấp phải được xử lý ngay nếu không sẽ bị hư hỏng và tiêu huỷ… là những chứng cứ để bên nhận thế chấp yêu cầu Toà án cho phép xử lý tài sản thế chấp ngay cả khi Toà án đã thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản.

Luật Phá sản cũng cần có những quy định bổ sung về quyền được yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của bên nhận thế chấp trong trường hợp tài sản thế chấp bị hư hỏng, giảm sút giá trị trong quãng thời gian tạm đình chỉ cho đến khi có quyết định thanh lý tài sản, các khoản nợ.

Thứ ba, quy định về thanh lý tài sản và các khoản nợ: Như trên đã phân tích, khi thẩm phán quyết định áp dụng thủ tục thanh lý tài sản và các khoản nợ thì các tài sản thế chấp cũng phải được xử lý ngay. Tuy nhiên, Luật Phá sản năm 2004 chưa có quy định cụ thể về việc xử lý tài sản thế chấp được thực hiện tách rời, độc lập hay thực hiện chung với các thủ tục thanh lý nợ. Việc xử lý này chỉ tiến hành đồng thời theo thủ tục phá sản nếu có thoả thuận giữa tổ quản lý, thanh lý tài sản với bên nhận thế chấp. Nội dung của sự thoả thuận bao gồm chủ thể được quyền bán tài sản, phương thức bán và trách nhiệm thanh toán tiền ngay cho bên nhận thế chấp khi tài sản đã được bán xong.

Nếu không có sự thoả thuận, thì việc xử lý tài sản thế chấp sẽ được giải quyết riêng. Điều 35 Luật Phá sản năm 2004 cũng có quy định về việc giải quyết số tiền bán được tài sản thế chấp nếu có sự chênh lệch giữa số tiền thu được với khoản nợ phải thanh toán cho bên nhận thế chấp như sau: “Xử lý các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố: Trường hợp thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được ưu tiên thanh toán bằng tài sản đó; nếu giá trị của tài sản thế chấp hoặc cầm cố không đủ thanh toán số nợ thì phần nợ còn lại sẽ được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; nếu giá trị của tài sản thế chấp hoặc cầm cố lớn hơn số nợ thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã”. Việc bán tài sản thế chấp được giải quyết tách rời với các thủ tục thanh lý tài sản và thanh toán nợ của doanh nghiệp có nghĩa là bên nhận thế chấp được quyền bán và quyết định phương thức bán theo như đã thoả thuận hoặc bán đấu giá. Việc giám sát của Toà án có thể đặt ra nếu bên thế chấp chứng minh có sự lạm quyền của bên nhận thế chấp trong quá trình xử lý tài sản thế chấp.

Thứ tư, quy định về việc ưu tiên thanh toán với tiền công lao động hay nợ thuế của Nhà nước. Số tiền thu được từ việc bán tài sản thế chấp có được dành quyền ưu tiên thanh toán cho tiền công của những người lao động hay tiền nợ thuế của nhà nước khi doanh nghiệp nợ bị lâm vào tình trạng phá sản? Theo chúng tôi, không có căn cứ nào để đặt quyền lợi của người lao động hay của Nhà nước lên trên quyền lợi của bên nhận thế chấp. Bởi đó là những quyền lợi mà bên nhận thế chấp không thể đoán trước được và không có căn cứ để xác định từ trước khi quyết định cho vay tài sản dựa trên tài sản của doanh nghiệp. Tiền nợ thuế của Nhà nước hay tiền lương còn thiếu là trách nhiệm của các tổ chức xã hội hay các cơ quan bảo hiểm khác mà hoàn toàn không thể là gánh nặng gây áp lực cho bên nhận thế chấp. Nếu những quyền lợi trên đã được thông báo hay đăng ký công khai khiến cho bên cho vay có thể đánh giá trước được mức độ rủi ro và sự ảnh hưởng của chúng đến quyền lợi của mình, thì Nhà nước và những người lao động mới có được quyền ưu tiên thanh toán trước từ số tiền thu được do bán tài sản thế chấp.

Trên đây là một số ý kiến trao đổi dưới góc nhìn về mối tương quan giữa pháp luật phá sản với những quy định về xử lý tài sản thế chấp. Đây là hai chế định pháp luật cùng được áp dụng cho một hoạt động thương mại và cũng tiềm ẩn nhiều mâu thuẫn, bởi những lợi ích khác nhau mà mỗi chế định nhằm đạt tới. Hài hoà và thống nhất được những lợi ích này trong hai chế định để bảo đảm được lợi ích hợp pháp của tất cả các chủ thể có liên quan là nhiệm vụ quan trọng của những bước sửa đổi tiếp theo.

ThS. Vũ Thị Hồng Yến

Đại học Luật Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: