Thứ tư 26/08/2026 21:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xử lý tài sản thế chấp trong mối quan hệ với Pháp luật về phá sản

Xử lý tài sản thế chấp vốn dĩ là công việc có tính phức tạp bởi nó có thể liên quan đến lợi ích của nhiều chủ thể cần phải được bảo vệ tại thời điểm mà bên có nghĩa vụ đã vi phạm nghĩa vụ. Đặc biệt khi nhu cầu xử lý tài sản thế chấp lại có sự xung đột với nhu cầu cần tổ chức lại hoạt động của bên có nghĩa vụ phải trả nợ là một chủ thể có nguy cơ phá sản hoặc có sự xung đột về thứ tự ưu tiên thanh toán giữa bên nhận thế chấp với các chủ thể khác cùng có quyền lợi đối với bên thế chấp khi giải quyết thủ tục phá sản.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ đi vào phân tích đặc trưng và mối quan hệ giữa các quy định về xử lý tài sản thế chấp với pháp luật về phá sản trong trường hợp con nợ không thể trả được nợ. Trên cơ sở đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật để bảo vệ tốt nhất lợi ích của các chủ thể có liên quan, qua đó thúc đẩy các giao dịch dân sự thương mại phát triển một cách an toàn và lành mạnh.

1. Mối quan hệ giữa pháp luật về xử lý tài sản thế chấp và pháp luật về phá sản

Pháp luật về xử lý tài sản thế chấp và pháp luật về phá sản sẽ được áp dụng đồng thời nếu bên vay có thế chấp lâm vào tình trạng không có khả năng trả nợ. Tuy nhiên, mục tiêu của hai chế định pháp luật này lại không tương đồng ở những điểm sau đây:

Mỗi chế định đều có những đòi hỏi, yêu cầu khác nhau đối với khoản nợ: Luật Phá sản đặt ra để giải quyết những khoản nợ không thể trả khi đến hạn, còn pháp luật về xử lý tài sản thế chấp khẳng định rằng, khoản nợ sẽ được trả dựa trên những tài sản thế chấp ngay cả khi hoạt động kinh doanh của con nợ không thể tiếp tục;

Mỗi chế định đều nỗ lực bảo vệ các quyền khác nhau: Luật Phá sản giải quyết nợ trên cơ sở xử lý đồng thời lợi ích của tất cả các chủ nợ với quyền bình đẳng như nhau; trong khi đó quy định về thế chấp tài sản lại theo hướng giải quyết khoản nợ của từng cá nhân được bảo đảm trên từng tài sản thế chấp cụ thể;

Mỗi chế định đều có căn cứ để giải quyết khác nhau đối với khoản nợ: Pháp luật phá sản dựa trên giá trị tối đa của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp để bảo đảm lợi ích của tất cả các chủ nợ còn pháp luật xử lý tài sản thế chấp lại dựa trên giá trị của từng tài sản thế chấp để đảm bảo lợi ích của từng chủ nợ cụ thể.

Với những đặc điểm và mục tiêu khác nhau cơ bản trên, thì sự mâu thuẫn giữa pháp luật phá sản và quy định về xử lý tài sản thế chấp là không tránh khỏi. Tuy nhiên, giữa chúng lại có mối quan hệ qua lại, ảnh hưởng đến nhau. Điều này được thể hiện dưới các khía cạnh:

Thứ nhất, việc xử lý tài sản thế chấp hiệu quả là một nhân tố quan trọng dẫn đến sự thành công khi giải quyết các thủ tục về phá sản. Kết luận này được xây dựng dựa trên hai lý do cơ bản sau: (i) Các thông tin rõ ràng về việc thế chấp là cơ sở để giải quyết nhanh chóng việc phá sản. Khi giải quyết việc phá sản, tổ quản lý, thanh lý tài sản sẽ phải lập danh sách các chủ nợ có bảo đảm và không bảo đảm. Đối với các khoản vay có thế chấp đã được đăng ký hay thông báo công khai là những thông tin chắc chắn và đáng tin cậy để tổ quản lý, thanh lý tài sản xác định những chủ nợ được ưu tiên thanh toán từ những tài sản thế chấp cũng như xác định phạm vi những chủ nợ không bảo đảm. Không những thế, hệ thống đăng ký thế chấp là căn cứ để tổ quản lý tài sản giải quyết khi có nhiều chủ nợ cùng có quyền trên một tài sản thế chấp. Thứ tự đăng ký giao dịch bảo đảm là nguồn thông tin chắc chắn đáng tin cậy để xác định thứ tự ưu tiên giữa các chủ thể cùng nhận thế chấp trên một tài sản. Từ đó, tổ quản lý tài sản cũng đánh giá được vị trí và ảnh hưởng của chủ nợ có bảo đảm được quyền ưu tiên thanh toán trước trong trường hợp tái cấu trúc hay tổ chức lại doanh nghiệp; (ii) Hiệu quả của xử lý tài sản thế chấp sẽ tạo áp lực để giải quyết phá sản nhanh chóng. Một hệ thống thực thi thế chấp hiệu quả sẽ ảnh hưởng quan trọng đến hệ thống luật phá sản, bởi nó sẽ thuyết phục con nợ trong việc chấm dứt các hành vi làm vô hiệu hoá tài sản thế chấp và tự nguyện tái cấu trúc lại doanh nghiệp một cách nhanh chóng.

Thứ hai, việc xử lý tài sản thế chấp không hiệu quả cũng sẽ khiến cho việc giải quyết phá sản khó khăn. Việc xử lý tài sản thế chấp có thể quá lâu, quá tốn kém và không đảm bảo hiệu quả thương mại. Phần lớn việc xử lý tài sản thế chấp được tiến hành thông qua Toà án. Các thủ tục tư pháp tại Toà án cùng với sự phản đối của con nợ khiến cho việc xử lý kéo dài hoặc bị trì hoãn. Ngay cả khi có lệnh của Toà án được quyền thu giữ tài sản thế chấp, nhưng bên nhận thế chấp không được quyền tự bán để thu hồi nợ mà phải bán thông qua một cơ quan của nhà nước. Hệ thống pháp luật về xử lý tài sản thế chấp không hiệu quả có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý như: Con nợ sẽ lợi dụng những quy định không hiệu quả của pháp luật để trì hoãn và cản trở quá trình xử lý tài sản thế chấp; con nợ sẽ không được khuyến khích hay cảm thấy bị bắt buộc để tiến hành các bước tái cấu trúc lại hoạt động của doanh nghiệp; do việc xử lý tài sản thế chấp không hiệu quả, nên bên nhận thế chấp đành trông chờ vào thủ tục phá sản là cơ sở cuối cùng để bảo vệ quyền lợi của mình. Như vậy, giữa thủ tục xử lý tài sản thế chấp và thủ tục giải quyết phá sản có quan hệ tác động ảnh hưởng lẫn nhau ở cả hai phương diện tích cực cũng như tiêu cực.

2. Quá trình giải quyết phá sản có liên quan đến tài sản thế chấp

Lợi ích của bên nhận thế chấp được tạo ra và ghi nhận theo pháp luật của giao dịch bảo đảm, nhưng vẫn bộc lộ những mâu thuẫn với nguyên tắc cơ bản của pháp luật về phá sản. Theo pháp luật phá sản, khi có đơn yêu cầu tuyên bố doanh nghiệp phá sản thì mọi giao dịch của con nợ đều bị đình chỉ hoặc không có giá trị. Quy định này nhằm bảo vệ chủ nợ từ những giao dịch gian lận giữa con nợ với chủ thể khác, đặc biệt là giao dịch giữa con nợ với những người thân của mình nhằm tẩu tán tài sản. Một vấn đề đặt ra là, những quy định này có nên áp dụng đối với các giao dịch được bảo đảm bởi thế chấp? Có 2 quan điểm về vấn đề này:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, không thể vô hiệu hoá giá trị của giao dịch thế chấp, vì mục đích thương mại của những giao dịch này đã được xác định và mọi sự can thiệp đến quyền của các chủ nợ có bảo đảm đều sai. Nếu Luật Phá sản đặt ra những mối đe doạ đối với những người cho vay thì họ có thể sẽ quyết định không cho vay.

Quan điểm thứ hai cho rằng, không có lý do gì để phân biệt giữa giao dịch có thế chấp với các giao dịch có mục đích thương mại khác. Nếu nguyên tắc loại bỏ những giao dịch thương mại khi giải quyết phá sản được tuyên bố rõ ràng, thì chúng nên được áp dụng đối với mọi giao dịch, trong đó có giao dịch thế chấp.

Nếu Luật Phá sản ủng hộ tiến trình giải quyết nợ theo một trật tự và mang tính tập thể cùng chia sẻ giữa các chủ nợ thì sẽ dẫn đến việc can thiệp như hạn chế hay cấm việc giải quyết nợ theo từng cá nhân. Luật sẽ chuyển quyền theo hợp đồng cụ thể thành quyền của tập thể chủ nợ và cùng chia sẻ quyền lợi giữa các chủ nợ. Nguyên tắc này được thừa nhận và áp dụng giữa các chủ nợ không có bảo đảm bởi mục đích nó giúp cho việc xác định toàn bộ tài sản của doanh nghiệp nợ sẽ được bán. Đối với các giao dịch bảo đảm (có biện pháp thế chấp), thì không thể bị can thiệp hay bị hạn chế bởi lợi ích của tập thể chủ nợ, vì không có quy định nào về việc chuyển lợi ích cá nhân trong các giao dịch có bảo đảm sang lợi ích tập thể chủ nợ. Tuy nhiên, sự phát triển của khái niệm “giải cứu” hoặc “tổ chức lại” doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản đã dẫn đến sự phát triển của nguyên tắc trên và nó cũng được áp dụng đối với các giao dịch bảo đảm. Theo đó, các giao dịch bảo đảm cũng sẽ bị ngừng ngay lập tức trong giai đoạn “giải cứu” doanh nghiệp. Bởi lẽ, nếu tài sản thế chấp bị bán đi để thanh toán nợ, thì doanh nghiệp không thể phục hồi được hoạt động kinh doanh của mình. Lợi ích lớn nhất mà chủ nợ có bảo đảm có thể nhận được từ việc áp dụng nguyên tắc chuyển quyền cá nhân thành quyền tập thể là được giữ một vị trí trong thành phần những chủ thể có thẩm quyền tổ chức lại hoạt động của doanh nghiệp. Cơ hội này sẽ không thể có nếu tài sản bảo đảm bị bán đi hoặc xử lý bởi các chủ nợ có bảo đảm theo những hợp đồng bảo đảm đã ký kết. Việc tạm đình chỉ xử lý tài sản bảo đảm (thế chấp) chỉ nên được áp dụng nếu thoả mãn được 2 điều kiện là việc tổ chức lại hoạt động của doanh nghiệp nợ có tính khả thi và chủ nợ có bảo đảm đã đạt được một cam kết trong kế hoạch để tổ chức lại doanh nghiệp. Việc tái tổ chức lại doanh nghiệp có thể giúp doanh nghiệp được điều hành bởi những người quản lý có kỹ năng và kinh nghiệm. Chủ nợ có bảo đảm cần phải được ghi nhận là một thành phần trong việc tái cấu trúc lại doanh nghiệp trong thời gian tạm đình chỉ xử lý tài sản bảo đảm.

3. Những bất cập của pháp luật hiện hành về phá sản liên quan đến xử lý tài sản thế chấp và một vài kiến nghị

Pháp luật về phá sản của Việt Nam đã bộc lộ những bất cập liên quan đến xử lý tài sản thế chấp. Cụ thể:

Thứ nhất, Điều 27 Luật Phá sản năm 2004 quy định về việc tạm đình chỉ xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp được áp dụng kể từ khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Thông thường, việc đình chỉ này sẽ luôn được áp dụng cho dù thẩm phán quyết định bất cứ thủ tục phá sản nào được quy định tại Điều 5 của Luật Phá sản.

“Điều 5:

1. Thủ tục phá sản được áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản bao gồm: (a) Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản; (b) Phục hồi hoạt động kinh doanh; (c) Thanh lý tài sản, các khoản nợ; (d) Tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản.

2. Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, căn cứ vào quy định cụ thể của Luật này, thẩm phán quyết định áp dụng một trong hai thủ tục quy định tại điểm b và điểm c của khoản 1 Điều này hoặc quyết định chuyển từ phục hồi hoạt động kinh doanh sang áp dụng thủ tục thanh lý tài sản, các khoản nợ hoặc tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản”.

Quy định trên của Luật Phá sản thể hiện sự linh hoạt của pháp luật trong việc đưa ra các giải pháp phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Thẩm phán sẽ quyết định hoặc cho doanh nghiệp được phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc dùng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp để thanh toán nợ. Theo chúng tôi, việc đình chỉ xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp chỉ nên áp dụng đối với thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, mà không phù hợp với thủ tục thanh lý tài sản, các khoản nợ. Với mục tiêu giải cứu doanh nghiệp không có khả năng trả nợ, thì tất cả các tài sản của doanh nghiệp, trong đó có tài sản thế chấp cần phải được giữ lại để doanh nghiệp có thể tiếp tục hoạt động kinh doanh. Còn đối với thủ tục thanh lý tài sản, các khoản nợ thì quy định tạm đình chỉ xử lý tài sản bảo đảm là không cần thiết và không phù hợp bởi việc xử lý tài sản bảo đảm phải được tiến hành đồng thời với việc thanh lý tài sản và trả nợ.

Thứ hai, pháp luật về phá sản còn thiếu những quy định về bảo vệ quyền cho bên nhận thế chấp trong thời gian tạm đình chỉ xử lý tài sản thế chấp: Việc đình chỉ xử lý tài sản thế chấp sẽ tạo ra tình trạng căng thẳng giữa lợi ích của bên nhận thế chấp và lợi ích của doanh nghiệp. Quá trình này chỉ nên áp dụng nếu pháp luật có những quy định đảm bảo được quyền của bên nhận thế chấp. Những giải pháp cụ thể còn thiếu trong quy định của pháp luật hiện hành về phá sản là:

(i) Những quy định về vị trí, vai trò của bên nhận thế chấp trong quá trình phục hồi hoạt động của doanh nghiệp. Bên nhận thế chấp phải là một bộ phận cấu thành trong hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp như tham gia vào kế hoạch tái cấu trúc doanh nghiệp hoặc uỷ quyền cho người khác tham gia. Bên nhận thế chấp phải được biết quyền lợi của mình sẽ được bảo đảm như thế nào khi áp dụng kế hoạch tổ chức lại doanh nghiệp. Thời gian tạm đình chỉ xử lý tài sản thế chấp phải phù hợp với kế hoạch đó và giá trị của biện pháp thế chấp sau khi tái cấu trúc hoạt động của doanh nghiệp phải được duy trì và đảm bảo. Luật Phá sản năm 2004 không có những quy định về những vấn đề này, mà ngược lại còn quy định làm giảm vị trí của bên nhận thế chấp trong quá trình giải quyết phá sản như quy định thành viên của tổ quản lý, thanh lý nợ không bao gồm chủ nợ có thế chấp (chỉ gồm một người đại diện có số nợ lớn nhất).

(ii) Quy định của pháp luật phá sản hiện hành không có sự phân biệt về vị trí và ảnh hưởng của chủ nợ có bảo đảm và không có bảo đảm trong danh sách hội nghị chủ nợ, thậm chí quyền lợi của chủ nợ có bảo đảm còn không được bảo vệ như chủ nợ không bảo đảm. Trong bài viết “Luật Phá sản năm 2004 - những tiến bộ và hạn chế”, Tạp chí Khoa học pháp lý, TS. Nguyễn Thái Phúc có nhận xét về thời điểm cấm thanh toán nợ đối với chủ nợ có bảo đảm là khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản (theo Điều 27 Luật Phá sản), trong khi đó thời điểm cấm thanh toán nợ đối với chủ nợ không bảo đảm là khi có quyết định tuyên bố mở thủ tục phá sản (theo Điều 31 Luật Phá sản). Điều này có nghĩa là, trong giai đoạn từ khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản, đến khi có quyết định mở thủ tục phá sản thì các chủ nợ không có đảm bảo vẫn được thanh toán hoặc được bù trừ nghĩa vụ theo quy định tại Điều 48; trong khi đó thì chủ nợ có bảo đảm sẽ bị cấm những quyền này.

(iii) Thời gian tạm đình chỉ xử lý tài sản thế chấp cần phải được hạn chế và xác định trong một khoản thời gian cụ thể và chắc chắn. Luật Phá sản năm 2004 còn thiếu những quy định hướng dẫn cụ thể về thời gian này. Căn cứ để xác định khoảng thời gian này phụ thuộc vào kế hoạch phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có sự đồng ý của chủ nợ có bảo đảm; hoặc luật phải quy định về khoảng thời gian tối thiểu.

(iv) Những trường hợp được phép xử lý tài sản thế chấp trong quãng thời gian tạm đình chỉ: Theo Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ngày 28/4/2005 hướng dẫn quy định chi tiết Luật Phá sản năm 2004:

“2.3. Trong trường hợp có chủ nợ bảo đảm có yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã, thì thẩm phán phải thông báo cho họ biết nguyên tắc chung việc xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp và hợp tác xã đang phải tạm đình chỉ. Chỉ trong trường hợp có đầy đủ các điều kiện sau đây, thì thẩm phán có thể cho phép xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã đối với chủ nợ có bảo đảm:

a. Tài sản có yêu cầu xử lý là tài sản bảo đảm cho khoản nợ đã đến hạn;

b. Việc xử lý tài sản bảo đảm đó không làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã;

c. Người yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm có đơn yêu cầu, trong đó trình bày các lý do của việc xin xử lý tài sản bảo đảm và xét thấy các lý do đó là chính đáng , việc xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp đối với họ là cần thiết”.

Quy định trên chưa xuất phát từ cơ sở bảo vệ lợi ích cho chủ nợ có bảo đảm và hầu như sẽ không thực hiện được trên thực tế, bởi những căn cứ áp dụng mang tính chất chung chung như “không ảnh hưởng lớn” đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm “là cần thiết” là những điều kiện rất khó chứng minh. Khi đó, quyền quyết định có cho phép xử lý tài sản thế chấp hay không lại hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của thẩm phán. Theo chúng tôi, Luật Phá sản cần xác định rõ ràng trường hợp duy nhất được đình chỉ xử lý tài sản thế chấp là khi thẩm phán ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động của doanh nghiệp. Trong thời gian phục hồi đó, thì bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu được bán tài sản thế chấp. Còn đối với trường hợp áp dụng thủ tục thanh lý tài sản và thanh toán nợ, thì việc bán tài sản thế chấp là đương nhiên mà chủ nợ có thế chấp không cần phải làm đơn yêu cầu. Trong trường hợp trên, nếu có yêu cầu được xử lý tài sản thế chấp thì Luật Phá sản cần bổ sung căn cứ cụ thể như: Việc tạm đình chỉ xử lý tài sản bảo đảm là không phù hợp với điều kiện tài chính của doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản (trong trường hợp doanh nghiệp không có kế hoạch phục hồi hoạt động hoặc kế hoạch phục hồi không có tính khả thi; nếu kế hoạch phục hồi có tính khả thi thì tài sản bảo đảm không tham gia vào quá trình này) và/hoặc việc tạm đình chỉ xử lý tài sản thế chấp là nguyên nhân gây ra những thiệt hại không thể khắc phục được, không thể sửa chữa được đối với bên nhận thế chấp. Nếu bên nhận thế chấp không thể xử lý để thu hồi nợ đúng hạn, thì họ cũng sẽ lâm vào tình trạng phá sản hoặc tài sản thế chấp phải được xử lý ngay nếu không sẽ bị hư hỏng và tiêu huỷ… là những chứng cứ để bên nhận thế chấp yêu cầu Toà án cho phép xử lý tài sản thế chấp ngay cả khi Toà án đã thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản.

Luật Phá sản cũng cần có những quy định bổ sung về quyền được yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của bên nhận thế chấp trong trường hợp tài sản thế chấp bị hư hỏng, giảm sút giá trị trong quãng thời gian tạm đình chỉ cho đến khi có quyết định thanh lý tài sản, các khoản nợ.

Thứ ba, quy định về thanh lý tài sản và các khoản nợ: Như trên đã phân tích, khi thẩm phán quyết định áp dụng thủ tục thanh lý tài sản và các khoản nợ thì các tài sản thế chấp cũng phải được xử lý ngay. Tuy nhiên, Luật Phá sản năm 2004 chưa có quy định cụ thể về việc xử lý tài sản thế chấp được thực hiện tách rời, độc lập hay thực hiện chung với các thủ tục thanh lý nợ. Việc xử lý này chỉ tiến hành đồng thời theo thủ tục phá sản nếu có thoả thuận giữa tổ quản lý, thanh lý tài sản với bên nhận thế chấp. Nội dung của sự thoả thuận bao gồm chủ thể được quyền bán tài sản, phương thức bán và trách nhiệm thanh toán tiền ngay cho bên nhận thế chấp khi tài sản đã được bán xong.

Nếu không có sự thoả thuận, thì việc xử lý tài sản thế chấp sẽ được giải quyết riêng. Điều 35 Luật Phá sản năm 2004 cũng có quy định về việc giải quyết số tiền bán được tài sản thế chấp nếu có sự chênh lệch giữa số tiền thu được với khoản nợ phải thanh toán cho bên nhận thế chấp như sau: “Xử lý các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố: Trường hợp thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được ưu tiên thanh toán bằng tài sản đó; nếu giá trị của tài sản thế chấp hoặc cầm cố không đủ thanh toán số nợ thì phần nợ còn lại sẽ được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; nếu giá trị của tài sản thế chấp hoặc cầm cố lớn hơn số nợ thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã”. Việc bán tài sản thế chấp được giải quyết tách rời với các thủ tục thanh lý tài sản và thanh toán nợ của doanh nghiệp có nghĩa là bên nhận thế chấp được quyền bán và quyết định phương thức bán theo như đã thoả thuận hoặc bán đấu giá. Việc giám sát của Toà án có thể đặt ra nếu bên thế chấp chứng minh có sự lạm quyền của bên nhận thế chấp trong quá trình xử lý tài sản thế chấp.

Thứ tư, quy định về việc ưu tiên thanh toán với tiền công lao động hay nợ thuế của Nhà nước. Số tiền thu được từ việc bán tài sản thế chấp có được dành quyền ưu tiên thanh toán cho tiền công của những người lao động hay tiền nợ thuế của nhà nước khi doanh nghiệp nợ bị lâm vào tình trạng phá sản? Theo chúng tôi, không có căn cứ nào để đặt quyền lợi của người lao động hay của Nhà nước lên trên quyền lợi của bên nhận thế chấp. Bởi đó là những quyền lợi mà bên nhận thế chấp không thể đoán trước được và không có căn cứ để xác định từ trước khi quyết định cho vay tài sản dựa trên tài sản của doanh nghiệp. Tiền nợ thuế của Nhà nước hay tiền lương còn thiếu là trách nhiệm của các tổ chức xã hội hay các cơ quan bảo hiểm khác mà hoàn toàn không thể là gánh nặng gây áp lực cho bên nhận thế chấp. Nếu những quyền lợi trên đã được thông báo hay đăng ký công khai khiến cho bên cho vay có thể đánh giá trước được mức độ rủi ro và sự ảnh hưởng của chúng đến quyền lợi của mình, thì Nhà nước và những người lao động mới có được quyền ưu tiên thanh toán trước từ số tiền thu được do bán tài sản thế chấp.

Trên đây là một số ý kiến trao đổi dưới góc nhìn về mối tương quan giữa pháp luật phá sản với những quy định về xử lý tài sản thế chấp. Đây là hai chế định pháp luật cùng được áp dụng cho một hoạt động thương mại và cũng tiềm ẩn nhiều mâu thuẫn, bởi những lợi ích khác nhau mà mỗi chế định nhằm đạt tới. Hài hoà và thống nhất được những lợi ích này trong hai chế định để bảo đảm được lợi ích hợp pháp của tất cả các chủ thể có liên quan là nhiệm vụ quan trọng của những bước sửa đổi tiếp theo.

ThS. Vũ Thị Hồng Yến

Đại học Luật Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: