Thứ tư 21/01/2026 13:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Áp dụng pháp luật gia đình Hàn Quốc trong việc giải quyết vấn đề ly hôn của gia đình đa văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam

Trong hơn một thập kỷ trở lại đây, các cuộc hôn nhân quốc tế Hàn Quốc - Việt Nam ngày càng phổ biến và nhận được sự quan tâm của cả hai quốc gia.

Tuy nhiên, cuộc sống của các gia đình đa văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam hiện nay gặp rất nhiều khó khăn trong việc hội nhập xã hội, tỷ lệ ly hôn ngày một tăng cao. Mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hàn Quốc ngày càng phát triển, không chỉ ở lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục… mà còn thể hiện thông qua các cuộc hôn nhân giữa người Việt Nam và Hàn Quốc. Trong số 240.000 phụ nữ di trú kết hôn đang sinh sống tại Hàn Quốc, thì có đến 55.700 người là phụ nữ Việt Nam chiếm tỷ lệ 23% và là quốc gia có phụ nữ đến Hàn Quốc kết hôn cao thứ hai sau Trung Quốc. Đặc biệt, trong số 204.000 đứa trẻ sinh ra trong gia đình đa văn hóa thì có 54.700 đứa trẻ có mẹ là người Việt Nam, chiếm tỷ lệ 27%, là tỷ lệ cao nhất so với các nước khác[1].

Cùng với sự gia tăng của các cuộc kết hôn, thì tỷ lệ ly hôn của các gia đình đa văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam cũng tăng cao, thậm chí tỷ lệ ly hôn hiện nay còn tăng cao hơn tỷ lệ kết hôn. Năm 2009, kết hôn là 7.249 trường hợp và ly hôn là 1.292 trường hợp; năm 2010, kết hôn là 9.623 trường hợp và ly hôn là 1.552 trường hợp; năm 2011, kết hôn là 7.636 trường hợp và ly hôn là 1.931 trường hợp; năm 2012, kết hôn là 6.586 trường hợp và ly hôn là 1.992 trường hợp; năm 2013, kết hôn là 5.770 trường hợp và ly hôn là 2.057 trường hợp[2]
Từ con số thống kê nêu trên cho thấy, tỷ lệ kết hôn giữa nam giới Hàn Quốc và nữ giới Việt Nam có xu hướng giảm. Tuy nhiên, tỷ lệ ly hôn của gia đình đa văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam lại có xu hướng tăng cao (từ 1.292 vụ năm 2009 lên 2.057 vụ năm 2013). Điều đó cho thấy, cuộc sống của các cặp vợ chồng trong gia đình đa văn hóa là không hoàn toàn hạnh phúc. Tỷ lệ ly hôn cao của các cặp vợ chồng Hàn Quốc - Việt Nam nói riêng và các cặp vợ chồng trong gia đình đa văn hóa của Hàn Quốc nói chung không chỉ gây ảnh hưởng tiêu cực về tinh thần, cuộc sống của các cặp vợ chồng, các thành viên trong gia đình của họ, mà nó còn là sự cản trở hội nhập xã hội, sự phát triển chung của xã hội. Để giúp các gia đình đa văn hóa nói chung và gia đình đa văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam nói riêng, pháp luật gia đình Hàn Quốc đã có những quy định điều chỉnh, bên cạnh đó, nhiều chính sách được thực hiện nhằm hỗ trợ các gia đình đa văn hóa.
1. Những yếu tố ảnh hưởng tới ly hôn của các gia đình đa văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam
Có nhiều các nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ ly hôn tăng cao của các gia đình đa văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam. Trong đó, có một số nguyên nhân cơ bản như sau:
Thứ nhất, đó là sự khác biệt về văn hóa, lối sống, ngôn ngữ. Những cô dâu Việt Nam đến Hàn Quốc phải trải nghiệm sự khác biệt về văn hóa, lối sống giữa gia đình của họ ở Việt Nam và gia đình nhà chồng ở Hàn Quốc. Thêm vào đó, cản trở về ngôn ngữ khiến họ khó khăn trong việc hòa nhập với gia đình nhà chồng và xã hội.
Thứ hai, những cô gái Việt Nam đến Hàn Quốc kết hôn chủ yếu với mục đích cải thiện kinh tế cho gia đình ở quê hương của họ. Tuy nhiên, những người họ kết hôn lại không giống như những gì họ đã được biết từ những người mai mối. Những người đàn ông Hàn Quốc kết hôn với phụ nữ nước ngoài thường là những người sống ở nông thôn, những người có thu nhập thấp, người đã từng kết hôn, những người có độ tuổi cao… gặp khó khăn trong việc kết hôn với những người phụ nữ ở trong nước nên thường hướng đến các cuộc hôn nhân với phụ nữ ở các quốc gia có điều kiện kinh tế thấp hơn. Do đó, những cô dâu Việt Nam sẽ nhanh chóng thất vọng khi đến gia đình chồng ở Hàn Quốc.
Thứ ba, thu nhập của hộ gia đình thấp, tỷ lệ thất nghiệp cao có ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của các gia đình đa văn hóa. Những người nam giới Hàn Quốc lấy vợ là phụ nữ Việt Nam phần lớn là những người có thu nhập và địa vị xã hội thấp. Những cô dâu Việt Nam đến Hàn Quốc cũng khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm do cản trở về ngôn ngữ và trình độ giáo dục. Thu nhập của hộ gia đình thấp đã ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của các cặp vợ chồng đa văn hóa và là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến ly hôn.
Thứ tư, những cô dâu Việt Nam và con cái của họ phải đối mặt với sự kỳ thị và phân biệt đối xử. Hàn Quốc là một quốc gia có một dân tộc thuần nhất. Do đó, sự xuất hiện của những người di trú kết hôn đã tạo ra những đặc trưng và sự khác biệt về ngoại hình, văn hóa, ngôn ngữ. Điều đó đã khiến họ và con cái của họ bị phân đối xử tại Hàn Quốc và tạo ra những tổn thương về tinh thần. Sự kỳ thị là một hình thức bạo lực tinh thần vô cùng đáng sợ, nó cản trở sự hội nhập và gây ra những bất ổn trong các gia đình đa văn hóa nói chung và gia đình đa văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam nói riêng.
Thứ năm, bạo lực gia đình là nguyên nhân chính và không thể chối cãi cho sự tan vỡ của các gia đình đa văn hóa. Trong một khảo sát ngẫu nhiên về các gia đình đa văn hóa của Shanghee Kim đã cho thấy, trong số 63 gia đình đa văn hóa có bạo lực gia đình đều dẫn tới ly hôn[3]. Cũng trong thời gian qua, các cô dâu Việt Nam và các cô dâu đến từ các quốc gia khác đều phải đối mặt với vấn đề bạo lực gia đình khi đến Hàn Quốc kết hôn. Họ phải chịu những vấn đề bạo lực cả về thể chất và tinh thần. Đây cũng là nguyên nhân khiến các cuộc hôn nhân quốc tế Hàn Quốc - Việt Nam có xu hướng chững lại trong thời gian gần đây.
Thứ sáu, khoảng cách tuổi tác của các cặp vợ chồng cũng có liên quan mật thiết đến tỷ lệ ly hôn cao của các gia đình đa văn hóa. Khoảng cách tuổi tác trung bình của các cặp vợ chồng đa văn hóa là 6,9 tuổi (năm 2000), thì đến năm 2010 khoảng cách tuổi trung bình đã mở rộng ra lên đến 12,1 tuổi. Những người chồng Hàn Quốc đã từng kết hôn cũng chiếm một tỷ lệ cao.
Ngoài những vấn đề trên, còn có nhiều vấn đề khác ảnh hưởng đến cuộc sống hôn nhân của các gia đình đa văn hóa như khu vực sống, vô sinh… Tất cả những điều đó đã tạo nên những bất hòa, sự căng thẳng, mệt mỏi và dẫn tới ly hôn. Thời gian trung bình của một cuộc hôn nhân đa văn hóa là 3,2 năm quá ngắn so với cuộc hôn nhân của cặp vợ chồng người Hàn Quốc là 14 năm. Do đó, giải quyết các vấn đề của các gia đình đa văn hóa là một vấn đề quan trọng được đặt ra với Chính phủ Hàn Quốc và để đạt được hiệu quả cao, sự phối hợp giữa các quốc gia có công dân di trú đến Hàn Quốc kết hôn là điều rất cần thiết.
2. Áp dụng pháp luật gia đình Hàn Quốc trong việc giải quyết vấn đề ly hôn của các gia đình đa văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam
Hiện nay, pháp luật gia đình Hàn Quốc đã có nhiều quy định cụ thể để điều chỉnh và hỗ trợ các gia đình đa văn hóa nói chung và đa văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam nói riêng. Bên cạnh Luật Gia đình được quy định trong Bộ luật Dân sự Hàn Quốc năm 2005 còn có các văn bản luật điều chỉnh các vấn đề cụ thể của các gia đình đa văn hóa như: Luật Hỗ trợ gia đình đa văn hóa năm 2007; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình sửa đổi năm 2006; Luật Quốc tịch sửa đổi năm 1997; Luật Quản lý nghề môi giới hôn nhân năm 2013.
Cũng như gia đình có vợ chồng đều là người Hàn Quốc, các mối quan hệ của gia đình đa văn hóa cũng được điều chỉnh bởi Luật Gia đình Hàn Quốc về các vấn đề liên quan đến các vấn đề thân tộc, kết hôn, ly hôn, quan hệ vợ chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con cái, quan hệ cấp dưỡng, nuôi dưỡng… nhằm đảm bảo sự ổn định chung của các gia đình Hàn Quốc. Hàn Quốc đã ban hành Luật Hỗ trợ gia đình đa văn hóa vào năm 2007 (có hiệu lực từ tháng 9/2008) nhằm xây dựng một hệ thống chính sách hỗ trợ gia đình đa văn hóa để thích nghi với xã hội Hàn Quốc, cung cấp thông tin để đồng nhất xã hội và cải thiện đời sống của các gia đình đa văn hóa, nhiều chính sách về kinh tế, giáo dục, y tế, pháp lý, chống bạo lực gia đình và các phúc lợi xã hội được đẩy mạnh.
Năm 2008, Chính phủ đã hỗ trợ những người phụ nữ Việt Nam di trú đến Hàn Quốc kết hôn khắc phục các vấn đề về kinh tế như làm nhân viên tư vấn, thông dịch viên, giáo viên dạy tiếng Việt - Hàn, giảng dạy về đa văn hóa. Đồng thời, Hàn Quốc cũng đã ưu tiên áp dụng chế độ khám chữa bệnh cho những phụ nữ là người nước ngoài đến Hàn Quốc kết hôn trong đó có các phụ nữ đến từ Việt Nam. Năm 2010, đặc thù hóa trung tâm phát triển nguồn nhân lực phụ nữ và bắt đầu đào tạo nghề, hướng nghiệp cho phụ nữ di trú kết hôn. Các công tác giáo dục và đào tạo dành cho phụ nữ nước ngoài di trú kết hôn được đẩy mạnh. Các trung tâm, chương trình dạy tiếng Hàn miễn phí cho phụ nữ di trú kết hôn nhằm nâng cao khả năng giao tiếp tiếng Hàn và hiểu biết về văn hóa của Hàn Quốc.
Tháng 12/2008, Chính phủ Hàn Quốc đã “thẩm định, quyết định kế hoạch cơ bản chính sách dành cho người nước ngoài lần thứ nhất” dưới sự giám sát của Thủ tướng. Đến năm 2013, chính sách cơ bản về người nước ngoài và đa văn hóa được ban hành lần thứ 2 (từ năm 2013 đến 2017) nhằm đưa ra những chính sách tốt nhất để hỗ trợ người nước ngoài và các gia đình đa văn hóa.
Luật Quốc tịch Hàn Quốc sửa đổi được thông qua vào ngày 13/12/1997 đã cho phép phụ nữ nước ngoài kết hôn với nam giới Hàn Quốc được phép nhập quốc tịch Hàn Quốc sau 02 năm sinh sống ở Hàn Quốc. Những trường hợp kết hôn sau ngày 20/01/2014 dù chưa sinh sống ở Hàn Quốc được 2 năm nhưng nếu chồng mất hoặc chồng mất tích; ly hôn do lỗi của chồng hoặc phải nuôi con tuổi vị thành niên thì được nhập quốc tịch Hàn Quốc. Khi được nhập quốc tịch, những người phụ nữ này được hưởng các chính sách, phúc lợi xã hội như những người phụ nữ Hàn Quốc khác.
Bên cạnh đó, để đảm bảo giảm thiểu tỷ lệ ly hôn của các gia đình đa văn hóa, tình trạng kết hôn giả tạo, Chính phủ Hàn Quốc đã ban hành Luật Quản lý nghề môi giới hôn nhân để kiểm soát các hoạt động tư vấn và giới thiệu hôn nhân, trong đó có môi giới hôn nhân quốc tế. Có thể nhận thấy, sự cung cấp thông tin sai lệch của người môi giới hôn nhân về đối tượng kết hôn đã dẫn tới việc kết hôn không như mong muốn. Những người phụ nữ Việt Nam đến Hàn Quốc kết hôn với mục đích cải thiện kinh tế của gia đình họ ở quê hương. Tuy nhiên, khi đến Hàn Quốc họ nhận thấy rằng, điều kiện kinh tế của họ không được cải thiện, những thông tin mà người môi giới đưa ra không chính xác và họ nhanh chóng thất vọng. Với quy định của Luật Quản lý nghề môi giới hôn nhân, những người hành nghề môi giới phải cung cấp chính xác các thông tin về tiểu sử hôn nhân, tình trạng sức khỏe, nghề nghiệp, lý lịch tư pháp, quy định của pháp luật nước sở tại. Những thông tin này phải được viết bằng tiếng mà người nhận thông tin và đối phương có thể hiểu được.
3. Kết luận
Hiện nay, các gia đình đa văn hóa chiếm một tỷ lệ tương đối cao trong xã hội Hàn Quốc. Những gia đình đa văn hóa có phụ nữ Việt Nam luôn được Chính phủ Hàn Quốc đặc biệt quan tâm. Pháp luật gia đình Hàn Quốc đã có nhiều quy định để điều chỉnh và hỗ trợ những gia đình đa văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam. Để nâng cao hơn nữa chất lượng cuộc sống và giảm thiểu tỷ lệ ly hôn ngày một tăng cao của các gia đình đa văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam cần có sự trao đổi, phối hợp giữa hai quốc gia trong việc xây dựng các quy định của pháp luật gia đình, các chính sách hỗ trợ gia đình đa văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam.

Lee Seon Hee
Nghiên cứu sinh tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội


Tài liệu tham khảo:
1. Luật Gia đình Hàn Quốc năm 2005;
2. Luật Hỗ trợ gia đình đa văn hóa Hàn Quốc năm 2007;
3. Luật Quốc tịch Hàn Quốc năm 1997;
4. Luật Quản lý nghề môi giới hôn nhân năm 2013;
5. Luật Phòng chống bạo lực gia đình sửa đổi năm 2006;
6. Kim ShangHee, Ly hôn của người nhập cư kết hôn tại Hàn Quốc: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới ly hôn, Trường Đại học Quản lý hành chính công Martin, 2015;
7. Kang HyeSook, Đề án Phát triển chính sách gia đình đa văn hóa và giáo dục định hướng nhìn từ các trường hợp hỗ trợ phụ nữ di trú kết hôn, Trung tâm Nhân quyền phụ nữ di trú Hàn Quốc;
8. GS. Seol DongHoon, Tình hình hiện nay và triển vọng trong tương lai của kết hôn quốc tế và gia đình đa văn hóa, Trường Đại học Chonbuk;
9. Cục Thống kê Hàn Quốc, Thống kê về hôn nhân - ly hôn (2000 - 2013).


[1] Cục Thống kê Hàn Quốc, Thống kê về kết hôn 2000 - 2013.

[2] Cục Thống kê Hàn Quốc, Thống kê về kết hôn và ly hôn 2000 - 2013.

[3] Xem: Shanghee Kim, Ly hôn của người nhập cư kết hôn tại Hàn Quốc: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới ly hôn, Trường Đại học Quản lý hành chính công Martin, 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: