Thứ tư 04/03/2026 14:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Áp dụng pháp luật gia đình Hàn Quốc trong việc giải quyết vấn đề ly hôn của gia đình đa văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam

Trong hơn một thập kỷ trở lại đây, các cuộc hôn nhân quốc tế Hàn Quốc - Việt Nam ngày càng phổ biến và nhận được sự quan tâm của cả hai quốc gia.

Tuy nhiên, cuộc sống của các gia đình đa văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam hiện nay gặp rất nhiều khó khăn trong việc hội nhập xã hội, tỷ lệ ly hôn ngày một tăng cao. Mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hàn Quốc ngày càng phát triển, không chỉ ở lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục… mà còn thể hiện thông qua các cuộc hôn nhân giữa người Việt Nam và Hàn Quốc. Trong số 240.000 phụ nữ di trú kết hôn đang sinh sống tại Hàn Quốc, thì có đến 55.700 người là phụ nữ Việt Nam chiếm tỷ lệ 23% và là quốc gia có phụ nữ đến Hàn Quốc kết hôn cao thứ hai sau Trung Quốc. Đặc biệt, trong số 204.000 đứa trẻ sinh ra trong gia đình đa văn hóa thì có 54.700 đứa trẻ có mẹ là người Việt Nam, chiếm tỷ lệ 27%, là tỷ lệ cao nhất so với các nước khác[1].

Cùng với sự gia tăng của các cuộc kết hôn, thì tỷ lệ ly hôn của các gia đình đa văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam cũng tăng cao, thậm chí tỷ lệ ly hôn hiện nay còn tăng cao hơn tỷ lệ kết hôn. Năm 2009, kết hôn là 7.249 trường hợp và ly hôn là 1.292 trường hợp; năm 2010, kết hôn là 9.623 trường hợp và ly hôn là 1.552 trường hợp; năm 2011, kết hôn là 7.636 trường hợp và ly hôn là 1.931 trường hợp; năm 2012, kết hôn là 6.586 trường hợp và ly hôn là 1.992 trường hợp; năm 2013, kết hôn là 5.770 trường hợp và ly hôn là 2.057 trường hợp[2]
Từ con số thống kê nêu trên cho thấy, tỷ lệ kết hôn giữa nam giới Hàn Quốc và nữ giới Việt Nam có xu hướng giảm. Tuy nhiên, tỷ lệ ly hôn của gia đình đa văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam lại có xu hướng tăng cao (từ 1.292 vụ năm 2009 lên 2.057 vụ năm 2013). Điều đó cho thấy, cuộc sống của các cặp vợ chồng trong gia đình đa văn hóa là không hoàn toàn hạnh phúc. Tỷ lệ ly hôn cao của các cặp vợ chồng Hàn Quốc - Việt Nam nói riêng và các cặp vợ chồng trong gia đình đa văn hóa của Hàn Quốc nói chung không chỉ gây ảnh hưởng tiêu cực về tinh thần, cuộc sống của các cặp vợ chồng, các thành viên trong gia đình của họ, mà nó còn là sự cản trở hội nhập xã hội, sự phát triển chung của xã hội. Để giúp các gia đình đa văn hóa nói chung và gia đình đa văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam nói riêng, pháp luật gia đình Hàn Quốc đã có những quy định điều chỉnh, bên cạnh đó, nhiều chính sách được thực hiện nhằm hỗ trợ các gia đình đa văn hóa.
1. Những yếu tố ảnh hưởng tới ly hôn của các gia đình đa văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam
Có nhiều các nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ ly hôn tăng cao của các gia đình đa văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam. Trong đó, có một số nguyên nhân cơ bản như sau:
Thứ nhất, đó là sự khác biệt về văn hóa, lối sống, ngôn ngữ. Những cô dâu Việt Nam đến Hàn Quốc phải trải nghiệm sự khác biệt về văn hóa, lối sống giữa gia đình của họ ở Việt Nam và gia đình nhà chồng ở Hàn Quốc. Thêm vào đó, cản trở về ngôn ngữ khiến họ khó khăn trong việc hòa nhập với gia đình nhà chồng và xã hội.
Thứ hai, những cô gái Việt Nam đến Hàn Quốc kết hôn chủ yếu với mục đích cải thiện kinh tế cho gia đình ở quê hương của họ. Tuy nhiên, những người họ kết hôn lại không giống như những gì họ đã được biết từ những người mai mối. Những người đàn ông Hàn Quốc kết hôn với phụ nữ nước ngoài thường là những người sống ở nông thôn, những người có thu nhập thấp, người đã từng kết hôn, những người có độ tuổi cao… gặp khó khăn trong việc kết hôn với những người phụ nữ ở trong nước nên thường hướng đến các cuộc hôn nhân với phụ nữ ở các quốc gia có điều kiện kinh tế thấp hơn. Do đó, những cô dâu Việt Nam sẽ nhanh chóng thất vọng khi đến gia đình chồng ở Hàn Quốc.
Thứ ba, thu nhập của hộ gia đình thấp, tỷ lệ thất nghiệp cao có ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của các gia đình đa văn hóa. Những người nam giới Hàn Quốc lấy vợ là phụ nữ Việt Nam phần lớn là những người có thu nhập và địa vị xã hội thấp. Những cô dâu Việt Nam đến Hàn Quốc cũng khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm do cản trở về ngôn ngữ và trình độ giáo dục. Thu nhập của hộ gia đình thấp đã ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của các cặp vợ chồng đa văn hóa và là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến ly hôn.
Thứ tư, những cô dâu Việt Nam và con cái của họ phải đối mặt với sự kỳ thị và phân biệt đối xử. Hàn Quốc là một quốc gia có một dân tộc thuần nhất. Do đó, sự xuất hiện của những người di trú kết hôn đã tạo ra những đặc trưng và sự khác biệt về ngoại hình, văn hóa, ngôn ngữ. Điều đó đã khiến họ và con cái của họ bị phân đối xử tại Hàn Quốc và tạo ra những tổn thương về tinh thần. Sự kỳ thị là một hình thức bạo lực tinh thần vô cùng đáng sợ, nó cản trở sự hội nhập và gây ra những bất ổn trong các gia đình đa văn hóa nói chung và gia đình đa văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam nói riêng.
Thứ năm, bạo lực gia đình là nguyên nhân chính và không thể chối cãi cho sự tan vỡ của các gia đình đa văn hóa. Trong một khảo sát ngẫu nhiên về các gia đình đa văn hóa của Shanghee Kim đã cho thấy, trong số 63 gia đình đa văn hóa có bạo lực gia đình đều dẫn tới ly hôn[3]. Cũng trong thời gian qua, các cô dâu Việt Nam và các cô dâu đến từ các quốc gia khác đều phải đối mặt với vấn đề bạo lực gia đình khi đến Hàn Quốc kết hôn. Họ phải chịu những vấn đề bạo lực cả về thể chất và tinh thần. Đây cũng là nguyên nhân khiến các cuộc hôn nhân quốc tế Hàn Quốc - Việt Nam có xu hướng chững lại trong thời gian gần đây.
Thứ sáu, khoảng cách tuổi tác của các cặp vợ chồng cũng có liên quan mật thiết đến tỷ lệ ly hôn cao của các gia đình đa văn hóa. Khoảng cách tuổi tác trung bình của các cặp vợ chồng đa văn hóa là 6,9 tuổi (năm 2000), thì đến năm 2010 khoảng cách tuổi trung bình đã mở rộng ra lên đến 12,1 tuổi. Những người chồng Hàn Quốc đã từng kết hôn cũng chiếm một tỷ lệ cao.
Ngoài những vấn đề trên, còn có nhiều vấn đề khác ảnh hưởng đến cuộc sống hôn nhân của các gia đình đa văn hóa như khu vực sống, vô sinh… Tất cả những điều đó đã tạo nên những bất hòa, sự căng thẳng, mệt mỏi và dẫn tới ly hôn. Thời gian trung bình của một cuộc hôn nhân đa văn hóa là 3,2 năm quá ngắn so với cuộc hôn nhân của cặp vợ chồng người Hàn Quốc là 14 năm. Do đó, giải quyết các vấn đề của các gia đình đa văn hóa là một vấn đề quan trọng được đặt ra với Chính phủ Hàn Quốc và để đạt được hiệu quả cao, sự phối hợp giữa các quốc gia có công dân di trú đến Hàn Quốc kết hôn là điều rất cần thiết.
2. Áp dụng pháp luật gia đình Hàn Quốc trong việc giải quyết vấn đề ly hôn của các gia đình đa văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam
Hiện nay, pháp luật gia đình Hàn Quốc đã có nhiều quy định cụ thể để điều chỉnh và hỗ trợ các gia đình đa văn hóa nói chung và đa văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam nói riêng. Bên cạnh Luật Gia đình được quy định trong Bộ luật Dân sự Hàn Quốc năm 2005 còn có các văn bản luật điều chỉnh các vấn đề cụ thể của các gia đình đa văn hóa như: Luật Hỗ trợ gia đình đa văn hóa năm 2007; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình sửa đổi năm 2006; Luật Quốc tịch sửa đổi năm 1997; Luật Quản lý nghề môi giới hôn nhân năm 2013.
Cũng như gia đình có vợ chồng đều là người Hàn Quốc, các mối quan hệ của gia đình đa văn hóa cũng được điều chỉnh bởi Luật Gia đình Hàn Quốc về các vấn đề liên quan đến các vấn đề thân tộc, kết hôn, ly hôn, quan hệ vợ chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con cái, quan hệ cấp dưỡng, nuôi dưỡng… nhằm đảm bảo sự ổn định chung của các gia đình Hàn Quốc. Hàn Quốc đã ban hành Luật Hỗ trợ gia đình đa văn hóa vào năm 2007 (có hiệu lực từ tháng 9/2008) nhằm xây dựng một hệ thống chính sách hỗ trợ gia đình đa văn hóa để thích nghi với xã hội Hàn Quốc, cung cấp thông tin để đồng nhất xã hội và cải thiện đời sống của các gia đình đa văn hóa, nhiều chính sách về kinh tế, giáo dục, y tế, pháp lý, chống bạo lực gia đình và các phúc lợi xã hội được đẩy mạnh.
Năm 2008, Chính phủ đã hỗ trợ những người phụ nữ Việt Nam di trú đến Hàn Quốc kết hôn khắc phục các vấn đề về kinh tế như làm nhân viên tư vấn, thông dịch viên, giáo viên dạy tiếng Việt - Hàn, giảng dạy về đa văn hóa. Đồng thời, Hàn Quốc cũng đã ưu tiên áp dụng chế độ khám chữa bệnh cho những phụ nữ là người nước ngoài đến Hàn Quốc kết hôn trong đó có các phụ nữ đến từ Việt Nam. Năm 2010, đặc thù hóa trung tâm phát triển nguồn nhân lực phụ nữ và bắt đầu đào tạo nghề, hướng nghiệp cho phụ nữ di trú kết hôn. Các công tác giáo dục và đào tạo dành cho phụ nữ nước ngoài di trú kết hôn được đẩy mạnh. Các trung tâm, chương trình dạy tiếng Hàn miễn phí cho phụ nữ di trú kết hôn nhằm nâng cao khả năng giao tiếp tiếng Hàn và hiểu biết về văn hóa của Hàn Quốc.
Tháng 12/2008, Chính phủ Hàn Quốc đã “thẩm định, quyết định kế hoạch cơ bản chính sách dành cho người nước ngoài lần thứ nhất” dưới sự giám sát của Thủ tướng. Đến năm 2013, chính sách cơ bản về người nước ngoài và đa văn hóa được ban hành lần thứ 2 (từ năm 2013 đến 2017) nhằm đưa ra những chính sách tốt nhất để hỗ trợ người nước ngoài và các gia đình đa văn hóa.
Luật Quốc tịch Hàn Quốc sửa đổi được thông qua vào ngày 13/12/1997 đã cho phép phụ nữ nước ngoài kết hôn với nam giới Hàn Quốc được phép nhập quốc tịch Hàn Quốc sau 02 năm sinh sống ở Hàn Quốc. Những trường hợp kết hôn sau ngày 20/01/2014 dù chưa sinh sống ở Hàn Quốc được 2 năm nhưng nếu chồng mất hoặc chồng mất tích; ly hôn do lỗi của chồng hoặc phải nuôi con tuổi vị thành niên thì được nhập quốc tịch Hàn Quốc. Khi được nhập quốc tịch, những người phụ nữ này được hưởng các chính sách, phúc lợi xã hội như những người phụ nữ Hàn Quốc khác.
Bên cạnh đó, để đảm bảo giảm thiểu tỷ lệ ly hôn của các gia đình đa văn hóa, tình trạng kết hôn giả tạo, Chính phủ Hàn Quốc đã ban hành Luật Quản lý nghề môi giới hôn nhân để kiểm soát các hoạt động tư vấn và giới thiệu hôn nhân, trong đó có môi giới hôn nhân quốc tế. Có thể nhận thấy, sự cung cấp thông tin sai lệch của người môi giới hôn nhân về đối tượng kết hôn đã dẫn tới việc kết hôn không như mong muốn. Những người phụ nữ Việt Nam đến Hàn Quốc kết hôn với mục đích cải thiện kinh tế của gia đình họ ở quê hương. Tuy nhiên, khi đến Hàn Quốc họ nhận thấy rằng, điều kiện kinh tế của họ không được cải thiện, những thông tin mà người môi giới đưa ra không chính xác và họ nhanh chóng thất vọng. Với quy định của Luật Quản lý nghề môi giới hôn nhân, những người hành nghề môi giới phải cung cấp chính xác các thông tin về tiểu sử hôn nhân, tình trạng sức khỏe, nghề nghiệp, lý lịch tư pháp, quy định của pháp luật nước sở tại. Những thông tin này phải được viết bằng tiếng mà người nhận thông tin và đối phương có thể hiểu được.
3. Kết luận
Hiện nay, các gia đình đa văn hóa chiếm một tỷ lệ tương đối cao trong xã hội Hàn Quốc. Những gia đình đa văn hóa có phụ nữ Việt Nam luôn được Chính phủ Hàn Quốc đặc biệt quan tâm. Pháp luật gia đình Hàn Quốc đã có nhiều quy định để điều chỉnh và hỗ trợ những gia đình đa văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam. Để nâng cao hơn nữa chất lượng cuộc sống và giảm thiểu tỷ lệ ly hôn ngày một tăng cao của các gia đình đa văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam cần có sự trao đổi, phối hợp giữa hai quốc gia trong việc xây dựng các quy định của pháp luật gia đình, các chính sách hỗ trợ gia đình đa văn hóa Hàn Quốc - Việt Nam.

Lee Seon Hee
Nghiên cứu sinh tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội


Tài liệu tham khảo:
1. Luật Gia đình Hàn Quốc năm 2005;
2. Luật Hỗ trợ gia đình đa văn hóa Hàn Quốc năm 2007;
3. Luật Quốc tịch Hàn Quốc năm 1997;
4. Luật Quản lý nghề môi giới hôn nhân năm 2013;
5. Luật Phòng chống bạo lực gia đình sửa đổi năm 2006;
6. Kim ShangHee, Ly hôn của người nhập cư kết hôn tại Hàn Quốc: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới ly hôn, Trường Đại học Quản lý hành chính công Martin, 2015;
7. Kang HyeSook, Đề án Phát triển chính sách gia đình đa văn hóa và giáo dục định hướng nhìn từ các trường hợp hỗ trợ phụ nữ di trú kết hôn, Trung tâm Nhân quyền phụ nữ di trú Hàn Quốc;
8. GS. Seol DongHoon, Tình hình hiện nay và triển vọng trong tương lai của kết hôn quốc tế và gia đình đa văn hóa, Trường Đại học Chonbuk;
9. Cục Thống kê Hàn Quốc, Thống kê về hôn nhân - ly hôn (2000 - 2013).


[1] Cục Thống kê Hàn Quốc, Thống kê về kết hôn 2000 - 2013.

[2] Cục Thống kê Hàn Quốc, Thống kê về kết hôn và ly hôn 2000 - 2013.

[3] Xem: Shanghee Kim, Ly hôn của người nhập cư kết hôn tại Hàn Quốc: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới ly hôn, Trường Đại học Quản lý hành chính công Martin, 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: