Thứ ba 22/09/2026 21:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong Bộ luật Hình sự

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến những quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ so với Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), lưu ý và bất cập khi áp dụng pháp luật trong thực tiễn.

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến những quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ so với Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), lưu ý và bất cập khi áp dụng pháp luật trong thực tiễn.

Abstract: The article is concerned with new provisions of the Criminal Code in 2015 (amended and supplemented in 2017) on violations of regulations on road traffic participation in comparison with Criminal Code in 1999 (amended and supplemented in 2009), inadequacies when applying the rule in implemented.

Trong 06 tháng đầu năm 2018, cả nước đã xảy ra gần 9.000 vụ tai nạn giao thông, khiến hơn 4.000 người thiệt mạng, trên 7.000 người bị thương, thiệt hại về tài sản hàng nghìn tỷ đồng[1]. So với năm 2017, tai nạn giao thông giảm ở cả 03 tiêu chí về số vụ, số người chết và số người bị thương, cụ thể, số vụ tai nạn giao thông giảm gần 600 vụ (giảm 6,19% về số vụ), giảm hơn 30 người chết (giảm 0,75% về số người chết) và hơn 900 người bị thương (giảm 11,44% về số người bị thương). Trong số vụ tai nạn giao thông thì tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 8.889 vụ (chiếm 98% vụ tai nạn giao thông), đường sắt xảy ra 62 vụ, đường thủy nội địa xảy ra 40 vụ và đường hàng không xảy ra 10 sự cố. Chính vì vậy, Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là tội đầu tiên được quy định trong Mục 1. Các tội xâm phạm an toàn giao thông thuộc Chương XXI. Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng trong Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) với những điểm mới, những thay đổi quan trọng như sau:

Thứ nhất, thay đổi tên gọi của điều luật là “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã thay cụm từ “tham gia” cho cụm từ “điều khiển phương tiện” tại Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Bộ luật Hình sự năm 1999), việc thay đổi tên của điều luật đã bao quát được các đối tượng vi phạm quy định do Luật Giao thông đường bộ năm 2008 điều chỉnh. Nói cách khác, chủ thể thực hiện hành vi phạm tội rộng hơn so với Bộ luật Hình sự năm 1999, theo đó, chủ thể của tội phạm là “người tham gia giao thông đường bộ”.

Ví dụ như, đối với người đi bộ trên đường bộ không đúng quy định về an toàn giao thông, gây tai nạn giao thông làm cho người khác bị thiệt hại về tính mạng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe, về tài sản của người khác thì khi căn cứ vào quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1999 thường rất khó xử lý đối với người đi bộ (không phải người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ). Vì chưa có quy định rõ ràng trong việc xử lý trách nhiệm hình sự đối với người đi bộ nên các Tòa án khiên cưỡng xử lý hành vi này về Tội cản trở giao thông đường bộ tại Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Theo đó, tại khoản 22 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 thì “Người tham gia giao thông đường bộ gồm người điều khiển, người sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ; người điều khiển, dẫn dắt súc vật; người đi bộ trên đường bộ”.

Như vậy, chủ thể của tội phạm đã có sự thay đổi phù hợp với thực tiễn khi xử lý hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng có thể bị phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hay phạt tù đến 15 năm.

- Việc thay đổi tên của điều luật đã thống nhất được quan điểm xử lý hình sự đối với phương tiện tham gia giao thông đường bộ (không chỉ là phương tiện giao thông đường bộ như quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999). Theo đó, khoản 17, khoản 20 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định: “Phương tiện giao thông đường bộ gồm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông thô sơ đường bộ” và “Phương tiện tham gia giao thông đường bộ gồm phương tiện giao thông đường bộ và xe máy chuyên dùng”.

Trong khi đó, theo quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì chỉ người điều khiển phương tiện giao thông gây ra hậu quả nghiêm trọng thì mới bị áp dụng xử lý hình sự. Như vậy, trong trường hợp người điều khiển xe máy chuyên dùng như ô tô chữa cháy, ô tô cần cẩu, ô tô bơm trộn bê tông… tham gia giao thông đường bộ mà gây tai nạn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác thì không có căn cứ tại Bộ luật Hình sự năm 1999 để giải quyết.

Mặc dù, tại khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/8/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông quy định “Phương tiện giao thông đường bộ gồm: Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông thô sơ đường bộ và xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ” phù hợp với thực tiễn áp dụng nhưng lại mâu thuẫn với quy định tại Luật Giao thông đường bộ năm 2008 khi xác định về phương tiện giao thông đường bộ.

Vì vậy, điểm mới của Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 không những đảm bảo đúng nguyên tắc tính thống nhất giữa Bộ luật Hình sự năm 2015 và Luật Giao thông đường bộ năm 2008 mà còn giải quyết được vướng mắc về vấn đề chủ thể của tội phạm (không chỉ có người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ) và phương tiện tham gia giao thông đường bộ (không chỉ là phương tiện giao thông đường bộ).

Thứ hai, quy định cụ thể hậu quả về tính mạng, sức khỏe, tài sản (điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự) do hành vi vi phạm an toàn giao thông đường bộ gây ra để làm căn cứ định tội và định khung hình phạt.

Điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự một hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ tại Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 đó là, hành vi vi phạm “gây thiệt hại cho tính mạng, thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác” hoặc “gây hậu quả rất nghiêm trọng” hoặc “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”. Vì vậy, ngoài việc viện dẫn đến Luật Giao thông đường bộ năm 2008 thì còn viện dẫn đến văn bản hướng dẫn thi hành (như Thông tư liên tịch số 09/2013).

Trong khi đó, Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã xác định cụ thể từng trường hợp truy cứu trách nhiệm hình sự tương ứng với khung hình phạt từ khoản 1 đến khoản 3, do đó, không phải dẫn chiếu đến các văn bản hướng dẫn thi hành. Cụ thể:

“…1. a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên”.

Bên cạnh việc quy định cụ thể về hậu quả giúp cho người tìm hiểu và nghiên cứu pháp luật dễ dàng xác định điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự của Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ thì cũng có một số bấp cập trong việc áp dụng các khoản của điều luật vào trong thực tế giải quyết các vụ án về loại tội này như sau:

- Về điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên”: Điều này có nghĩa, chỉ khi nào người tham gia giao thông đường bộ vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên mới cấu thành tội phạm được quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tỷ lệ tổn thương cơ thể được quy định theo hướng có lợi cho người thực hiện hành vi vi phạm so với Bộ luật Hình sự năm 1999. Bởi, theo quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Thông tư liên tịch số 09/2013 thì người vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi “gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên”. Như vậy, với việc gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên là cấu thành tội phạm này.

Hơn nữa, trong trường hợp, người tham gia giao thông có hành vi vi phạm quy định về giới hạn tốc độ, về sử dụng làn đường, chở quá trọng tải quy định… gây tai nạn làm một người bị thương tích 51%. Vậy, người tham gia giao thông vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ (Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015) hay vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác (Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 2015) với việc gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% là cấu thành tội phạm.

Trong trường hợp trên, quan điểm thứ nhất cho rằng, không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi vi phạm, vì theo quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì phải gây thiệt hại cho sức khoẻ của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên mới cấu thành tội phạm này. Trong trường hợp này, hành vi vi phạm xâm hại khách thể nào thì áp dụng điều luật tương ứng. Theo đó, hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản, vì thế, chỉ có thể xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm được quy định trong nhóm tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ.

Quan điểm thứ hai cho rằng, có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi vi phạm này về Tội vô ý gây thương tích theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 2015, bởi trong trường hợp này, người vi phạm thực hiện với lỗi vô ý (có thể là vô ý do cẩu thả hoặc vô ý vì quá tự tin): Người có hành vi vi phạm đã gây ra hậu quả nhưng do cẩu thả nên không thấy trước được khả năng gây ra hậu quả đó mặc dù được điều kiện khách quan buộc họ phải thấy trước hoặc có thể thấy trước hậu quả đó, hoặc tuy thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được. Đồng thời, thỏa mãn điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự là gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% và giữa hành vi vi phạm của người tham gia giao thông đường bộ với thương tích của nạn nhân có mối quan hệ nhân quả. Vì thế, mặc dù hành vi vi phạm về tham gia giao thông đường bộ nêu trên không cấu thành tội phạm được quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhưng thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên vẫn bị truy cứu trách nhiệm theo điều luật này.

Với hai quan điểm nêu trên, có thể thấy, nếu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quan điểm thứ hai thì quá khiên cưỡng bởi nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản là hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ chứ không phải xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của con người.

Khi sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2015 thì hậu quả của tội này là gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% được quy định tại khoản 4 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (giống với quy định về hậu quả tại khoản 1 Điều 138) bị bãi bỏ. Không thể cùng một dạng hành vi nguy hiểm cho xã hội thì có hành vi bị coi là tội phạm, có hành vi không bị coi là tội phạm, hơn nữa, tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được đánh giá có mức nguy hiểm cho xã hội cao hơn lại bị bãi bỏ.

Chính vì vậy, việc sửa đổi này đã tạo nên bất cập trong thực tiễn áp dụng và không bảo đảm nguyên tắc thống nhất và công bằng trong pháp luật hình sự. Đồng thời, tiềm ẩn phát sinh các mâu thuẫn trong xã hội khi người có hành vi vi phạm quy định về giao thông đường bộ biết mình không bị truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ coi thường pháp luật, không ý thức được hành vi vi phạm của mình, không hòa giải với nạn nhân dẫn đến phát sinh những khiếu nại và khởi kiện không đáng có.

- Về áp dụng điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại khoản 1, khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015: Khi cụ thể hóa “hậu quả rất nghiêm trọng” tại Bộ luật Hình sự năm 2015 thì đã bãi bỏ trường hợp “làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp hướng dẫn tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều này” được quy định tại Thông tư liên tịch số 09/2013 (tương ứng với quy định tại khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015). Việc bãi bỏ hậu quả này đã dẫn đến bất cập trong thực tiễn áp dụng, cụ thể qua hai tình huống sau:

(i) Người tham gia giao thông đường bộ đi quá tốc độ giới hạn, sai làn đường… nên gây tai nạn làm 01 người chết và 01 người tổn hại 90% sức khỏe. Căn cứ vào quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì hành vi của người này chỉ phạm vào Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (với mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt là 05 năm tù, là loại tội nghiêm trọng).

(ii) Người tham gia giao thông đường bộ đi quá tốc độ giới hạn, sai làn đường… nên gây tai nạn làm 01 người tổn hại 68% sức khỏe và 01 người tổn hại 70% sức khỏe. Hậu quả gây ra là làm 02 người tổn hại 138% sức khỏe. Hành vi của người này đã phạm vào Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại điểm e khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (với mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt là 10 năm tù, là loại tội rất nghiêm trọng).

Thông qua hai tình huống trên, hậu quả mà người phạm tội gây ra ở tình huống thứ nhất lớn hơn ở tình huống thứ hai nhưng trách nhiệm hình sự của người phạm tội ở tình huống thứ nhất lại nhẹ hơn ở tình huống thứ hai. Đây chính là bất cập mà Bộ luật Hình sự đã bãi bỏ hậu quả “làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp hướng dẫn tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều này”.

Ngoài ra, khi cụ thể hóa “hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” tại khoản 3 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì đã bãi bỏ trường hợp “làm chết hai người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp hướng dẫn tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều này” được quy định tại Thông tư liên tịch số 09/2013 cũng tạo nên bất cập trong thực tiễn áp dụng như trên.

Như vậy, để việc áp dụng điều luật thực sự chính xác và hiệu quả cần sớm ban hành hướng dẫn (thông tư liên tịch…) bổ sung về điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự “làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp hướng dẫn tại Điều này”, “làm chết hai người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp hướng dẫn tại Điều này” để thống nhất trong khi áp dụng pháp luật.

Thứ ba, bổ sung hình phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng và giảm mức phạt tù là 01 năm với hành vi “có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả” gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời.

Thực tế cho thấy, mặc dù khoản 4 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 cũng có quy định hành vi này nhưng chưa có trường hợp nào bị truy tố, xét xử đối với loại hành vi này. Nguyên nhân là do thiếu căn cứ để xác định mức độ nguy hiểm của hành vi đã đủ để cấu thành tội phạm này hay chưa và giả sử xác định một hành vi nào đó đã phạm tội vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì dựa vào căn cứ nào để đưa ra mức hình phạt cho hành vi phạm tội đó. Vì thế, nếu vẫn ghi nhận hành vi này trong Bộ luật Hình sự năm 2015 thì các nhà làm luật cần sớm có văn bản (thông tư liên tịch…) hướng dẫn cụ thể để tránh bỏ lọt tội phạm.

Những quy định mới về Tội vi phạm những quy định về tham gia giao thông đường bộ là căn cứ pháp lý thuận lợi cho cơ quan tiến hành tố tụng khi áp dụng pháp luật, tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số điểm bất cập nhất định cần phải sớm có hướng giải quyết, khắc phục, có như vậy, công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trong thực tiễn mới đạt hiệu quả, góp phần bảo đảm ngày càng tốt hơn trật tự xã hội trong lĩnh vực an toàn giao thông đường bộ.

ThS. Đinh Thị Thu Hằng

Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I



[1]. Hội nghị trực tuyến Sơ kết công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông 06 tháng đầu năm và nhiệm vụ trọng tâm 06 tháng cuối năm 2018 do Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia Trương Hòa Bình chủ trì.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: