Thứ ba 26/05/2026 23:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong Bộ luật Hình sự

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến những quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ so với Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), lưu ý và bất cập khi áp dụng pháp luật trong thực tiễn.

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến những quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ so với Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), lưu ý và bất cập khi áp dụng pháp luật trong thực tiễn.

Abstract: The article is concerned with new provisions of the Criminal Code in 2015 (amended and supplemented in 2017) on violations of regulations on road traffic participation in comparison with Criminal Code in 1999 (amended and supplemented in 2009), inadequacies when applying the rule in implemented.

Trong 06 tháng đầu năm 2018, cả nước đã xảy ra gần 9.000 vụ tai nạn giao thông, khiến hơn 4.000 người thiệt mạng, trên 7.000 người bị thương, thiệt hại về tài sản hàng nghìn tỷ đồng[1]. So với năm 2017, tai nạn giao thông giảm ở cả 03 tiêu chí về số vụ, số người chết và số người bị thương, cụ thể, số vụ tai nạn giao thông giảm gần 600 vụ (giảm 6,19% về số vụ), giảm hơn 30 người chết (giảm 0,75% về số người chết) và hơn 900 người bị thương (giảm 11,44% về số người bị thương). Trong số vụ tai nạn giao thông thì tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 8.889 vụ (chiếm 98% vụ tai nạn giao thông), đường sắt xảy ra 62 vụ, đường thủy nội địa xảy ra 40 vụ và đường hàng không xảy ra 10 sự cố. Chính vì vậy, Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là tội đầu tiên được quy định trong Mục 1. Các tội xâm phạm an toàn giao thông thuộc Chương XXI. Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng trong Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) với những điểm mới, những thay đổi quan trọng như sau:

Thứ nhất, thay đổi tên gọi của điều luật là “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã thay cụm từ “tham gia” cho cụm từ “điều khiển phương tiện” tại Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Bộ luật Hình sự năm 1999), việc thay đổi tên của điều luật đã bao quát được các đối tượng vi phạm quy định do Luật Giao thông đường bộ năm 2008 điều chỉnh. Nói cách khác, chủ thể thực hiện hành vi phạm tội rộng hơn so với Bộ luật Hình sự năm 1999, theo đó, chủ thể của tội phạm là “người tham gia giao thông đường bộ”.

Ví dụ như, đối với người đi bộ trên đường bộ không đúng quy định về an toàn giao thông, gây tai nạn giao thông làm cho người khác bị thiệt hại về tính mạng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe, về tài sản của người khác thì khi căn cứ vào quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1999 thường rất khó xử lý đối với người đi bộ (không phải người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ). Vì chưa có quy định rõ ràng trong việc xử lý trách nhiệm hình sự đối với người đi bộ nên các Tòa án khiên cưỡng xử lý hành vi này về Tội cản trở giao thông đường bộ tại Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Theo đó, tại khoản 22 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 thì “Người tham gia giao thông đường bộ gồm người điều khiển, người sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ; người điều khiển, dẫn dắt súc vật; người đi bộ trên đường bộ”.

Như vậy, chủ thể của tội phạm đã có sự thay đổi phù hợp với thực tiễn khi xử lý hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng có thể bị phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hay phạt tù đến 15 năm.

- Việc thay đổi tên của điều luật đã thống nhất được quan điểm xử lý hình sự đối với phương tiện tham gia giao thông đường bộ (không chỉ là phương tiện giao thông đường bộ như quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999). Theo đó, khoản 17, khoản 20 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định: “Phương tiện giao thông đường bộ gồm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông thô sơ đường bộ” và “Phương tiện tham gia giao thông đường bộ gồm phương tiện giao thông đường bộ và xe máy chuyên dùng”.

Trong khi đó, theo quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì chỉ người điều khiển phương tiện giao thông gây ra hậu quả nghiêm trọng thì mới bị áp dụng xử lý hình sự. Như vậy, trong trường hợp người điều khiển xe máy chuyên dùng như ô tô chữa cháy, ô tô cần cẩu, ô tô bơm trộn bê tông… tham gia giao thông đường bộ mà gây tai nạn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác thì không có căn cứ tại Bộ luật Hình sự năm 1999 để giải quyết.

Mặc dù, tại khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/8/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông quy định “Phương tiện giao thông đường bộ gồm: Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông thô sơ đường bộ và xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ” phù hợp với thực tiễn áp dụng nhưng lại mâu thuẫn với quy định tại Luật Giao thông đường bộ năm 2008 khi xác định về phương tiện giao thông đường bộ.

Vì vậy, điểm mới của Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 không những đảm bảo đúng nguyên tắc tính thống nhất giữa Bộ luật Hình sự năm 2015 và Luật Giao thông đường bộ năm 2008 mà còn giải quyết được vướng mắc về vấn đề chủ thể của tội phạm (không chỉ có người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ) và phương tiện tham gia giao thông đường bộ (không chỉ là phương tiện giao thông đường bộ).

Thứ hai, quy định cụ thể hậu quả về tính mạng, sức khỏe, tài sản (điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự) do hành vi vi phạm an toàn giao thông đường bộ gây ra để làm căn cứ định tội và định khung hình phạt.

Điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự một hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ tại Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 đó là, hành vi vi phạm “gây thiệt hại cho tính mạng, thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác” hoặc “gây hậu quả rất nghiêm trọng” hoặc “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”. Vì vậy, ngoài việc viện dẫn đến Luật Giao thông đường bộ năm 2008 thì còn viện dẫn đến văn bản hướng dẫn thi hành (như Thông tư liên tịch số 09/2013).

Trong khi đó, Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã xác định cụ thể từng trường hợp truy cứu trách nhiệm hình sự tương ứng với khung hình phạt từ khoản 1 đến khoản 3, do đó, không phải dẫn chiếu đến các văn bản hướng dẫn thi hành. Cụ thể:

“…1. a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên”.

Bên cạnh việc quy định cụ thể về hậu quả giúp cho người tìm hiểu và nghiên cứu pháp luật dễ dàng xác định điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự của Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ thì cũng có một số bấp cập trong việc áp dụng các khoản của điều luật vào trong thực tế giải quyết các vụ án về loại tội này như sau:

- Về điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên”: Điều này có nghĩa, chỉ khi nào người tham gia giao thông đường bộ vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên mới cấu thành tội phạm được quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tỷ lệ tổn thương cơ thể được quy định theo hướng có lợi cho người thực hiện hành vi vi phạm so với Bộ luật Hình sự năm 1999. Bởi, theo quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Thông tư liên tịch số 09/2013 thì người vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi “gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên”. Như vậy, với việc gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên là cấu thành tội phạm này.

Hơn nữa, trong trường hợp, người tham gia giao thông có hành vi vi phạm quy định về giới hạn tốc độ, về sử dụng làn đường, chở quá trọng tải quy định… gây tai nạn làm một người bị thương tích 51%. Vậy, người tham gia giao thông vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ (Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015) hay vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác (Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 2015) với việc gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% là cấu thành tội phạm.

Trong trường hợp trên, quan điểm thứ nhất cho rằng, không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi vi phạm, vì theo quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì phải gây thiệt hại cho sức khoẻ của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên mới cấu thành tội phạm này. Trong trường hợp này, hành vi vi phạm xâm hại khách thể nào thì áp dụng điều luật tương ứng. Theo đó, hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản, vì thế, chỉ có thể xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm được quy định trong nhóm tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ.

Quan điểm thứ hai cho rằng, có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi vi phạm này về Tội vô ý gây thương tích theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 2015, bởi trong trường hợp này, người vi phạm thực hiện với lỗi vô ý (có thể là vô ý do cẩu thả hoặc vô ý vì quá tự tin): Người có hành vi vi phạm đã gây ra hậu quả nhưng do cẩu thả nên không thấy trước được khả năng gây ra hậu quả đó mặc dù được điều kiện khách quan buộc họ phải thấy trước hoặc có thể thấy trước hậu quả đó, hoặc tuy thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được. Đồng thời, thỏa mãn điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự là gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% và giữa hành vi vi phạm của người tham gia giao thông đường bộ với thương tích của nạn nhân có mối quan hệ nhân quả. Vì thế, mặc dù hành vi vi phạm về tham gia giao thông đường bộ nêu trên không cấu thành tội phạm được quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhưng thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên vẫn bị truy cứu trách nhiệm theo điều luật này.

Với hai quan điểm nêu trên, có thể thấy, nếu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quan điểm thứ hai thì quá khiên cưỡng bởi nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản là hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ chứ không phải xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của con người.

Khi sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2015 thì hậu quả của tội này là gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% được quy định tại khoản 4 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (giống với quy định về hậu quả tại khoản 1 Điều 138) bị bãi bỏ. Không thể cùng một dạng hành vi nguy hiểm cho xã hội thì có hành vi bị coi là tội phạm, có hành vi không bị coi là tội phạm, hơn nữa, tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được đánh giá có mức nguy hiểm cho xã hội cao hơn lại bị bãi bỏ.

Chính vì vậy, việc sửa đổi này đã tạo nên bất cập trong thực tiễn áp dụng và không bảo đảm nguyên tắc thống nhất và công bằng trong pháp luật hình sự. Đồng thời, tiềm ẩn phát sinh các mâu thuẫn trong xã hội khi người có hành vi vi phạm quy định về giao thông đường bộ biết mình không bị truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ coi thường pháp luật, không ý thức được hành vi vi phạm của mình, không hòa giải với nạn nhân dẫn đến phát sinh những khiếu nại và khởi kiện không đáng có.

- Về áp dụng điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại khoản 1, khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015: Khi cụ thể hóa “hậu quả rất nghiêm trọng” tại Bộ luật Hình sự năm 2015 thì đã bãi bỏ trường hợp “làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp hướng dẫn tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều này” được quy định tại Thông tư liên tịch số 09/2013 (tương ứng với quy định tại khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015). Việc bãi bỏ hậu quả này đã dẫn đến bất cập trong thực tiễn áp dụng, cụ thể qua hai tình huống sau:

(i) Người tham gia giao thông đường bộ đi quá tốc độ giới hạn, sai làn đường… nên gây tai nạn làm 01 người chết và 01 người tổn hại 90% sức khỏe. Căn cứ vào quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì hành vi của người này chỉ phạm vào Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (với mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt là 05 năm tù, là loại tội nghiêm trọng).

(ii) Người tham gia giao thông đường bộ đi quá tốc độ giới hạn, sai làn đường… nên gây tai nạn làm 01 người tổn hại 68% sức khỏe và 01 người tổn hại 70% sức khỏe. Hậu quả gây ra là làm 02 người tổn hại 138% sức khỏe. Hành vi của người này đã phạm vào Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại điểm e khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (với mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt là 10 năm tù, là loại tội rất nghiêm trọng).

Thông qua hai tình huống trên, hậu quả mà người phạm tội gây ra ở tình huống thứ nhất lớn hơn ở tình huống thứ hai nhưng trách nhiệm hình sự của người phạm tội ở tình huống thứ nhất lại nhẹ hơn ở tình huống thứ hai. Đây chính là bất cập mà Bộ luật Hình sự đã bãi bỏ hậu quả “làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp hướng dẫn tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều này”.

Ngoài ra, khi cụ thể hóa “hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” tại khoản 3 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì đã bãi bỏ trường hợp “làm chết hai người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp hướng dẫn tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều này” được quy định tại Thông tư liên tịch số 09/2013 cũng tạo nên bất cập trong thực tiễn áp dụng như trên.

Như vậy, để việc áp dụng điều luật thực sự chính xác và hiệu quả cần sớm ban hành hướng dẫn (thông tư liên tịch…) bổ sung về điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự “làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp hướng dẫn tại Điều này”, “làm chết hai người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp hướng dẫn tại Điều này” để thống nhất trong khi áp dụng pháp luật.

Thứ ba, bổ sung hình phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng và giảm mức phạt tù là 01 năm với hành vi “có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả” gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời.

Thực tế cho thấy, mặc dù khoản 4 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 cũng có quy định hành vi này nhưng chưa có trường hợp nào bị truy tố, xét xử đối với loại hành vi này. Nguyên nhân là do thiếu căn cứ để xác định mức độ nguy hiểm của hành vi đã đủ để cấu thành tội phạm này hay chưa và giả sử xác định một hành vi nào đó đã phạm tội vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì dựa vào căn cứ nào để đưa ra mức hình phạt cho hành vi phạm tội đó. Vì thế, nếu vẫn ghi nhận hành vi này trong Bộ luật Hình sự năm 2015 thì các nhà làm luật cần sớm có văn bản (thông tư liên tịch…) hướng dẫn cụ thể để tránh bỏ lọt tội phạm.

Những quy định mới về Tội vi phạm những quy định về tham gia giao thông đường bộ là căn cứ pháp lý thuận lợi cho cơ quan tiến hành tố tụng khi áp dụng pháp luật, tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số điểm bất cập nhất định cần phải sớm có hướng giải quyết, khắc phục, có như vậy, công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trong thực tiễn mới đạt hiệu quả, góp phần bảo đảm ngày càng tốt hơn trật tự xã hội trong lĩnh vực an toàn giao thông đường bộ.

ThS. Đinh Thị Thu Hằng

Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I



[1]. Hội nghị trực tuyến Sơ kết công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông 06 tháng đầu năm và nhiệm vụ trọng tâm 06 tháng cuối năm 2018 do Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia Trương Hòa Bình chủ trì.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: