Thứ bảy 04/07/2026 17:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm quyền của người lao động theo Công ước số 98 của Tổ chức Lao động quốc tế

Bài viết đặt ra những vấn đề cần hoàn thiện pháp luật về lao động, công đoàn theo yêu cầu của Công ước số 98 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể để bảo đảm quyền của người lao động trong bối cảnh hiện nay.

1. Quyền của người lao động theo Công ước số 98

Công ước số 98 về áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể (Công ước 98) là một trong những công ước cơ bản của ILO mà Việt Nam là thành viên[1]. Công ước bao gồm 16 điều[2] với 03 nội dung cơ bản[3]:

- Bảo vệ người lao động (NLĐ) và công đoàn trước các hành vi phân biệt đối xử chống công đoàn của người sử dụng lao động (NSDLĐ). Công ước quy định NLĐ phải được hưởng sự bảo vệ thích đáng trước những hành vi phân biệt đối xử liên quan đến mọi khía cạnh việc làm của họ vì lý do tham gia thành lập, gia nhập hoặc hoạt động công đoàn hợp pháp.

- Bảo vệ tổ chức của NLĐ không bị can thiệp, thao túng bởi NSDLĐ. Công ước quy định các tổ chức của NLĐ và của NSDLĐ phải được hưởng sự bảo vệ thích đáng chống lại mọi hành vi can thiệp của bên kia hoặc của những đại diện hay thành viên của bên kia trong quá trình thành lập, hoạt động hoặc điều hành hoạt động của mình.

- Những biện pháp thúc đẩy thương lượng tập thể tự nguyện, thiện chí. Công ước xác lập nguyên tắc tự nguyện và thiện chí trong thương lượng tập thể, đồng thời, quy định về trách nhiệm của Nhà nước trong việc thúc đẩy thương lượng tập thể được thực hiện một cách tự nguyện, thiện chí[4].

Với các nội dung trên, Công ước số 98 đã tạo ra các quyền và nghĩa vụ phát sinh đối với cả NLĐ và NSDLĐ. Cụ thể: Đối tượng hưởng lợi chủ yếu của Công ước số 98 là NLĐ. NLĐ sẽ được hưởng lợi về tiền lương và điều kiện lao động tốt hơn đạt được thông qua thương lượng tập thể được thực hiện thực chất và hiệu quả. NSDLĐ cũng được hưởng lợi do thương lượng tập thể thực chất sẽ góp phần đưa ra các biện pháp ổn định và phát triển lực lượng lao động có chất lượng; tăng năng suất lao động, hạn chế và phòng ngừa tranh chấp lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hòa và ổn định.

Bên cạnh đó, Công ước số 98 cũng đặt ra những nghĩa vụ phát sinh. Cụ thể, để đáp ứng yêu cầu của Công ước, Việt Nam cần hoàn thiện pháp luật và có những biện pháp phù hợp, hiệu quả để đáp ứng yêu cầu của Công ước số 98 về chống phân biệt đối xử, chống can thiệp đối với công đoàn và thúc đẩy thương lượng tập thể tự nguyện một cách hiệu quả và thực chất.

2. Yêu cầu bảo đảm quyền của người lao động ở Việt Nam theo Công ước số 98 và một số vấn đề đặt ra

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam ngày càng nhận thức rõ hơn tính tất yếu của việc cho phép thành lập tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp để đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế, cụ thể là tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và kèm theo đó là việc cam kết tuân thủ các tiêu chuẩn chung.

Ngay từ Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Đảng ta đã xác định: “Bảo đảm sự ra đời, hoạt động của tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp phù hợp với quá trình hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, kiện toàn các công cụ, biện pháp quản lý nhằm tạo điều kiện để tổ chức này hoạt động thuận lợi, lành mạnh theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam, phù hợp với các nguyên tắc của Tổ chức Lao động quốc tế, đồng thời giữ vững ổn định chính trị - xã hội”. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khi định hướng một số nhiệm vụ lớn xây dựng giai cấp công nhân và phát triển tổ chức công đoàn đã khẳng định: “Định hướng, quản lý tốt sự ra đời, hoạt động của các tổ chức của công nhân tại doanh nghiệp ngoài tổ chức công đoàn hiện nay”. Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới nêu rõ: “Quản lý tốt sự ra đời, bảo đảm hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích của tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp, có các biện pháp phù hợp, hiệu quả để thu hút, vận động, định hướng tổ chức này gia nhập Công đoàn Việt Nam. Tăng cường tuyên truyền để NSDLĐ, công nhân, NLĐ nhận diện các hành vi lợi dụng việc thành lập và hoạt động của tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp để xâm phạm an ninh quốc gia, gây mất an ninh trật tự”. Những định hướng này phản ánh chủ trương của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong vấn đề bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực lao động trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Sau khi tham gia các Công ước cơ bản của ILO, Đảng và Nhà nước ta đã luôn nỗ lực, triển khai những kế hoạch cụ thể nhằm củng cố các cam kết với ILO. Để các quy định của pháp luật Việt Nam phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết, nhiều bộ luật quan trọng như Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự… được sửa đổi, bổ sung nhằm bảo vệ quyền lợi cho NLĐ[5]. Đặc biệt, Bộ luật Lao động năm 2019 cụ thể hóa các quy định của công ước quốc tế về lao động. Các nội dung quan trọng nhất của cả 08 công ước cơ bản của ILO đều đã được phản ánh trong các quy định của Bộ luật này. Trong đó, Công ước số 98 là công ước cốt lõi, bản lề của ILO trong khuôn khổ các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động, trở thành một cấu phần quan trọng của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cũng như trong phần lớn chính sách về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp của các công ty đa quốc gia.

Bộ luật Lao động năm 2019 đã có nhiều nội dung mới nhằm nội luật hóa Công ước số 98. Lần đầu tiên Bộ luật Lao động năm 2019 quy định cho phép NLĐ được thành lập tổ chức đại diện cho mình tại doanh nghiệp, ngoài Công đoàn Việt Nam, gọi là tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp. Đây là một tổ chức mới, độc lập với Công đoàn Việt Nam, được xác lập trên cơ sở mở rộng quyền lựa chọn cho NLĐ. “Tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở” là tổ chức “được thành lập trên cơ sở tự nguyện của NLĐ tại một đơn vị sử dụng lao động nhằm mục đích bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ trong quan hệ lao động thông qua thương lượng tập thể hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật về lao động. Tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở bao gồm công đoàn cơ sở và tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp”[6].

Tuy nhiên, theo Công ước số 98, còn một số vấn đề đặt ra đối với pháp luật Việt Nam cần tiếp tục được hoàn thiện trong thời gian tới. Cụ thể là:

Thứ nhất, theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019, công đoàn và tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong việc đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ trong quan hệ lao động. Điểm mới này có thể coi là bước tiến về công nhận quyền của NLĐ tại cơ sở trong quá trình cử đại diện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của họ. Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn cho việc thành lập, gia nhập và tham gia hoạt động của tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp (bên cạnh tổ chức công đoàn). Có ý kiến cho rằng, “quy chế pháp lý của các tổ chức này chưa được quy định rõ ràng và chưa có hướng dẫn thi hành của các cơ quan có thẩm quyền”[7]. Do đó, vấn đề này cần tiếp tục được hoàn thiện trong thời gian tới để tăng cường hơn nữa việc bảo đảm quyền của NLĐ tại doanh nghiệp.

Thứ hai, Công ước số 98 đặt vấn đề “bảo vệ NLĐ và công đoàn trước các hành vi phân biệt đối xử chống công đoàn của NSDLĐ”. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam còn quy định chưa rõ ràng về phân biệt đối xử khi thực hiện quyền công đoàn.

Tại khoản 1 Điều 4 Luật Công đoàn năm 2012 quy định: “Quyền công đoàn là quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của NLĐ, đoàn viên công đoàn và quyền của tổ chức công đoàn theo quy định của pháp luật và quy định của cơ quan có thẩm quyền”. Bên cạnh đó, theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Lao động năm 2019 thì NLĐ có quyền thành lập, gia nhập và tham gia hoạt động công đoàn theo quy định của Luật Công đoàn. Đồng thời, Bộ luật Lao động năm 2019 quy định các hành vi bị nghiêm cấm đối với NSDLĐ liên quan đến thành lập, gia nhập và hoạt động của tổ chức đại diện lao động tại cơ sở (Điều 175). Tuy vậy, đối chiếu các quy định này với Công ước số 98 cho thấy còn nhiều điểm chưa tương thích. Cụ thể, Bộ luật Lao động năm 2019 đã bổ sung định nghĩa về phân biệt đối xử trong lao động nhưng chưa định nghĩa rõ ràng, cụ thể về “phân biệt đối xử quyền công đoàn”. Trong khi trên thực tế, hành vi phân biệt đối xử và kỳ thị về quyền công đoàn của NSDLĐ thể hiện ở nhiều mức độ, hành vi khác nhau nên rất khó nhận diện hoặc nếu có nhận diện thì cũng không có cơ sở pháp lý vững chắc để xử lý trong trường hợp các hành vi vi phạm.

3. Một số kiến nghị

Từ thực tiễn nêu trên, trong thời gian tới, để tăng cường bảo đảm quyền của NLĐ, việc tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật là yêu cầu cần thiết được đặt ra:

Một là, tiếp tục ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động năm 2019 về tổ chức đại diện của NLĐ nhằm cụ thể hóa Điều 3, Điều 68 và Điều 70 của Bộ luật Lao động năm 2019.

Hai là, nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về công đoàn nhằm nội luật hóa Công ước số 98 và bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với Bộ luật Lao động năm 2019.

Hiện nay, Việt Nam đã phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) và Công ước số 98. Cam kết về lao động trong các Hiệp định này yêu cầu các quốc gia thành viên có nghĩa vụ tuân thủ các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động của NLĐ theo Tuyên bố năm 1998 của ILO. Những cam kết trong các hiệp định thương mại tự do nêu trên đã đặt ra yêu cầu rà soát và hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội, đặc biệt là quan hệ lao động và “nội luật hóa theo lộ trình phù hợp những điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trước hết là luật pháp về thương mại, đầu tư, sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, lao động - công đoàn”[8]. Do vậy, trong thời gian tới, Luật Công đoàn cần sửa đổi, bổ sung để bảo đảm sự tương thích với các tiêu chuẩn lao động quốc tế, cam kết của Việt Nam trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và thể chế chính trị của Việt Nam. Theo Nghị quyết số 89/2023/QH15 ngày 02/6/2023 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024, điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2023, dự án Luật Công đoàn (sửa đổi) sẽ được trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 7, thông qua tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XV. Từ yêu cầu của Công ước số 98 về áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể, cần nghiên cứu, hoàn thiện Luật Công đoàn năm 2012 nhằm bảo đảm quyền của NLĐ theo hướng:

- Nghiên cứu bổ sung quyền gia nhập Công đoàn Việt Nam của tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp.

Điều 170 Bộ luật Lao động năm 2019 đã cho phép: “NLĐ trong doanh nghiệp có quyền thành lập, gia nhập và tham gia hoạt động của tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp”. Khoản 3 Điều 172 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: “Trường hợp tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp gia nhập Công đoàn Việt Nam thì thực hiện theo quy định của Luật Công đoàn”. Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 05/11/2016 của Ban Chấp hành Trung ương về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới xác định: “Đổi mới tổ chức, hoạt động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới… thu hút NLĐ và tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp tham gia Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam”.

Trong bối cảnh đó, nhằm tăng cường vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam với NLĐ và đảm bảo phù hợp với quy định của Bộ luật Lao động năm 2019, cần bổ sung quyền gia nhập và hoạt động công đoàn của tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp.

- Nghiên cứu bổ sung và làm rõ quy định về hành vi phân biệt đối xử, chống công đoàn trong Luật Công đoàn cũng như các văn bản luật khác có liên quan.

Công ước số 98 đặt ra yêu cầu “bảo vệ NLĐ và công đoàn trước các hành vi phân biệt đối xử chống công đoàn của NSDLĐ.” Tuy nhiên, nội dung về hành vi phân biệt đối xử chống công đoàn chưa được cụ thể hóa. Do đó, nội dung này cần được nghiên cứu, bổ sung trong Luật Công đoàn (sửa đổi) theo hướng phân loại nhóm hành vi một cách rõ ràng theo các tiêu chí cụ thể, quy định chi tiết về các hành vi để tạo sự thống nhất trong áp dụng pháp luật.

- Nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ của tổ chức công đoàn.

Điều 10 Luật Công đoàn năm 2012 là cơ sở pháp lý quan trọng, cụ thể để tổ chức công đoàn thực hiện có hiệu quả quyền, trách nhiệm của mình trong việc đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho NLĐ. Tuy nhiên, trong bối cảnh có nhiều tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở theo Bộ luật Lao động năm 2019 thì các quy định tại điều này phải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Theo đó, cần nghiên cứu, làm rõ quyền, trách nhiệm của công đoàn trong việc: Đối thoại với NSDLĐ; đại diện cho tập thể NLĐ thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thoả ước lao động tập thể; tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện thang lương, bảng lương, mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động; tham gia với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động... theo quy định của pháp luật lao động./.

ThS. NCS. Phan Thị Lam Hồng

Giám đốc Công ty Luật Đông Hà Nội

[1]. Đến nay, Việt Nam đã gia nhập 07 Công ước cơ bản của ILO gồm: Công ước số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một việc có giá trị ngang nhau (gia nhập năm 1997); Công ước số 111 về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp (gia nhập năm 1997); Công ước số 138 về tuổi tối thiểu được đi làm việc (gia nhập năm 2003); Công ước số 182 về cấm và hành động tức thời để loại bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (gia nhập năm 2000); Công ước số 29 về lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc (gia nhập năm 2007); Công ước số 98 về áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể (gia nhập năm 2019), Công ước số 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc (gia nhập năm 2020).

[2]. Công ước số 98 về áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể. Nguồn: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Lao-dong-Tien-luong/Cong-uoc-98-nam-1949-ap-dung-nhung-nguyen-tac-quyen-to-chuc-va-thuong-luong-tap-the-103345.aspx, truy cập ngày 26/3/2024.

[3]. Nội dung Công ước tập trung từ Điều 1 đến Điều 6, từ Điều 7 đến Điều 16 là những quy định về thủ tục.

[4]. Xem thêm: Tờ trình số 01/TTr-CTN ngày 12/4/2019 của Chủ tịch nước về việc gia nhập Công ước số 98 của Tổ chức Lao động quốc tế về áp dụng những nguyên tắc về quyền của tổ chức và thương lượng tập thể; Tờ trình số 72/TTr-CP ngày 15/3/2019 của Chính phủ về việc gia nhập Công ước số 98 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về áp dụng những nguyên tắc về quyền của tổ chức và thương lượng tập thể.

[5]. ILO (2016), ILO và Việt Nam, xem tại: http://www.ilo.org/wcmsp5/groups/public/---asia/---ro-bangkok/---ilo-hanoi/documents/publication/wcms_471047.pdf.

[6]. Khoản 3 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019.

[7]. Xem thêm: Trần Tuấn Sơn, Bảo đảm quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động ở Việt Nam theo yêu cầu của Hiệp định CPTPP và EVFTA, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật điện tử (nguồn: https://danchuphapluat.vn/bao-dam-quyen-tu-do-lien-ket-va-thuong-luong-tap-the-cua-nguoi-lao-dong-o-viet-nam-theo-yeu-cau-cua-hiep-dinh-cptpp-va-evfta).

[8]. Điểm 2.2 Mục III Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 05/11/2016 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 401), tháng 3/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Hoàn thiện cơ chế quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Hoàn thiện cơ chế quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.

Theo dõi chúng tôi trên: