Thứ tư 14/01/2026 23:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam[1]

Bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam[1]

Tóm tắt: Bài viết tập trung vào một số vấn đề lý luận, thực trạng bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ tại Tòa án, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự.

Abstract: The article focuses on a number of theoretical issues, the current status of protecting women's equal rights at the Court, thereby proposing solutions to protect women's equal rights in civil proceedings.

1. Vấn đề lý luận về bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

Bình đẳng, quyền bình đẳng là những thuật ngữ khá quen thuộc, được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực pháp luật. Tuy nhiên, đến nay, chưa có một định nghĩa chính xác, toàn diện về khái niệm “quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự” được ghi nhận trong pháp luật tố tụng dân sự. Dưới góc độ xã hội, “quyền bình đẳng” không chỉ được hiểu với ý nghĩa là một thuật ngữ xã hội mà còn phải hiểu với ý nghĩa là một thuật ngữ pháp lý, thể hiện việc pháp luật hóa một quyền tự nhiên của con người, theo đó, con người có cơ hội ngang nhau trong việc được hưởng quyền, lợi ích và khi tham gia tố tụng dân sự họ có quyền, nghĩa vụ ngang nhau, có vị thế bằng nhau, thậm chí còn có quyền được Tòa án bảo vệ như nhau. Dưới góc độ pháp lý, quyền bình đẳng được ghi nhận tại Điều 16 Hiến pháp năm 2013: “1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. 2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Cụ thể hóa quyền bình đẳng, pháp luật tố tụng dân sự hiện nay đã khẳng định quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của phụ nữ bằng một nguyên tắc tại Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án”.

Về bản chất, quyền bình đẳng của phụ nữ được ghi nhận trong pháp luật tố tụng dân sự có nguồn gốc từ quyền bình đẳng trước pháp luật của con người, nên trên cơ sở đó quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự trước hết phải được hiểu là một trong những quyền tố tụng rất quan trọng, thể hiện tính đặc thù quyền của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự. Quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự không chỉ là việc pháp luật tố tụng dân sự quy định Tòa án không được phân biệt đối xử giữa các đương sự mà còn là những quy định về trách nhiệm của Tòa án trong việc tạo cơ hội như nhau cho các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng, không phân biệt đối xử mà bảo vệ công bằng quyền, lợi ích hợp pháp của các bên.

Như vậy, dưới góc độ pháp luật thì: Quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự là tổng thể những quy định của pháp luật tố tụng dân sự ghi nhận về một trong những quyền tố tụng đặc trưng của những người có quyền, lợi ích trong vụ, việc dân sự. Theo đó, họ có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm ngang nhau, có địa vị pháp lý như nhau và đều được Tòa án bảo vệ như nhau về quyền và lợi ích hợp pháp trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự.

Về khái niệm “tố tụng dân sự”, trong nghiên cứu khoa học luật tố tụng dân sự đã có nhiều cách giải thích khác nhau về thuật ngữ “tố tụng dân sự”. Mỗi cách hiểu tuy có những điểm khác nhau nhưng đều có một điểm chung giống nhau là: Nói đến tố tụng dân sự là nói đến trình tự tố tụng hay còn gọi là quy trình tố tụng giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp về dân sự, thể hiện qua hai phương diện là pháp luật tố tụng dân sự và hoạt động tố tụng dân sự bởi vì pháp luật tố tụng dân sự và hoạt động tố tụng dân sự là hai mặt không thể tách rời của một hệ thống thống nhất đó là quy trình tố tụng dân sự. Cũng như các tố tụng khác, tố tụng dân sự là quy trình giải quyết vụ việc phát sinh tại Tòa án nhân dân nhưng khác là tố tụng dân sự có đối tượng giải quyết là các vụ việc dân sự, mục đích hướng tới chỉ là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp về dân sự của đương sự trong vụ việc dân sự.

2. Thực trạng bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự

Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay về bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự chủ yếu được thể hiện qua Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, từ các quy định về thủ tục sơ thẩm, thủ tục phúc thẩm đến thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự… Xác định một cách khái quát nhất thì bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thể hiện qua các nội dung cơ bản sau:

2.1. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong quá trình tố tụng dân sự

Để bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ thì trước hết pháp luật phải ghi nhận đầy đủ, toàn diện các đương sự có vị thế pháp lý như nhau, có quyền và nghĩa vụ tố tụng ngang nhau. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã thể hiện tương đối rõ điều này, bao gồm: (i) Các đương sự có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc tiếp cận Tòa án, yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; (ii) Các đương sự trong tố tụng dân sự có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình trước Tòa án; (iii) Các đương sự có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc tranh tụng tại phiên tòa; (iv) Các đương sự có quyền bình đẳng với nhau trong việc thỏa thuận về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

2.2. Trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong quá trình tố tụng

Bên cạnh việc ghi nhận các đương sự ngang bằng nhau về quyền, nghĩa vụ, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn có các quy định bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự từ phía Tòa án. Cụ thể là: (i) Tòa án phải có trách nhiệm bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong việc tiếp cận Tòa án, yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp; (ii) Tòa án phải có trách nhiệm bảo đảm cho phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh; (iii) Tòa án có trách nhiệm bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong việc tham gia phiên tòa, thực hiện tranh tụng tại phiên tòa; (iv) Tòa án phải bảo đảm cho phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng thỏa thuận về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

Như vậy, bên cạnh các quy định ghi nhận đương sự có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trước Tòa án, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn có những quy định khá cụ thể về trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm cho đương sự được ngang nhau khi thực hiện quyền và nghĩa vụ.

2.3. Vai trò của Viện kiểm sát trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ

Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, qua đó, giám sát quyền bình đẳng của phụ nữ trong việc tham gia phiên tòa, tranh tụng tại phiên tòa cũng như giám sát Tòa án trong việc bảo đảm cho phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng tham gia phiên tòa, tranh tụng tại phiên tòa qua một số điều luật cụ thể của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do pháp luật quy định. Tiếp đến Điều 232 quy định về sự có mặt của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm, Điều 249 quy định về thủ tục Viện kiểm sát hỏi tại phiên tòa, Điều 262 quy định về thủ tục phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm…

Như vậy, có thể thấy bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự được thể hiện qua các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về vai trò giám sát của Viện kiểm sát đối với việc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ và giám sát trách nhiệm bảo đảm cho phụ nữ thực hiện được quyền bình đẳng của Tòa án. Các quy định này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ và cùng với các chủ thể khác, Viện kiểm sát đã góp phần không nhỏ vào việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự trên thực tế.

2.4. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ

Để hỗ trợ phụ nữ thực hiện hiệu quả quyền bình đẳng trong việc tiếp cận Tòa án, đưa ra yêu cầu tại Tòa án, Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã khẳng định: Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác. Cụ thể hóa cho nguyên tắc này, một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm đã khẳng định trong những trường hợp do pháp luật quy định thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm hỗ trợ cho đương sự thực hiện quyền bình đẳng trong việc tiếp cận Tòa án, yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. Ví dụ, Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

Như vậy, bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự được thể hiện qua các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về các đương sự có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trước Tòa án; vai trò, trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bình đẳng; vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc giám sát các chủ thể thực hiện và bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự và trách nhiệm hỗ trợ đương sự thực hiện quyền bình đẳng của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

3. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự là phụ nữ trong tố tụng dân sự

Một là, sửa đổi, bổ sung một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự để rõ hơn quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự.

Sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để khẳng định rõ hơn quyền bình đẳng của đương sự là phụ nữ trong tố tụng dân sự. Bổ sung điều luật quy định về quyền, nghĩa vụ của đương sự trong việc dân sự để đương sự trong việc dân sự bình đẳng với đương sự trong vụ án dân sự. Bổ sung quyền đưa ra yêu cầu của bị đơn tại Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để bảo đảm hơn nữa quyền bình đẳng giữa bị đơn với các đương sự khác. Bổ sung nội dung Điều 112 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để nâng cao trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm quyền bình đẳng giữa các đương sự khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Bổ sung quy định tại Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về thời hạn Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự để nâng cao trách nhiệm của Tòa án phải tiếp tục giải quyết vụ án.

Hai là, sửa đổi, bổ sung quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự trong tố tụng dân sự.

Bên cạnh chức năng kiểm sát của Viện kiểm sát tại phiên tòa xét xử, cần tăng cường sự kiểm sát của Viện kiểm sát trong giai đoạn chuẩn bị xét xử là giải pháp phù hợp để bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự trong tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định rõ Tòa án có thể thu thập chứng cứ bằng các biện pháp cụ thể nhưng chưa có quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ mà Viện kiểm sát được tiến hành. Viện kiểm sát cũng là một cơ quan tiến hành tố tụng dân sự như Tòa án nên sẽ là phù hợp nếu Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bổ sung quy định: “Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát thu thập tài liệu, chứng cứ bằng các biện pháp được quy định tại khoản 2 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015”.

Ba là, sửa đổi, bổ sung quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trách nhiệm của cơ quan tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự trong tố tụng dân sự.

Bổ sung nội dung của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, đồng thời, nghiên cứu bổ sung quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải có trách nhiệm phối hợp với Tòa án ban hành bộ tập quán dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án trong trường hợp chưa có luật áp dụng.

NCS. Nguyễn Thanh Hiền & ThS. Nguyễn Thị Huyền Trang

Khoa Luật, Học viện Phụ nữ Việt Nam

[1]. Bài viết dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học của nhóm tác giả với đề tài “Bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” năm 2022.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: