Thứ hai 20/04/2026 15:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam[1]

Bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam[1]

Tóm tắt: Bài viết tập trung vào một số vấn đề lý luận, thực trạng bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ tại Tòa án, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự.

Abstract: The article focuses on a number of theoretical issues, the current status of protecting women's equal rights at the Court, thereby proposing solutions to protect women's equal rights in civil proceedings.

1. Vấn đề lý luận về bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

Bình đẳng, quyền bình đẳng là những thuật ngữ khá quen thuộc, được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực pháp luật. Tuy nhiên, đến nay, chưa có một định nghĩa chính xác, toàn diện về khái niệm “quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự” được ghi nhận trong pháp luật tố tụng dân sự. Dưới góc độ xã hội, “quyền bình đẳng” không chỉ được hiểu với ý nghĩa là một thuật ngữ xã hội mà còn phải hiểu với ý nghĩa là một thuật ngữ pháp lý, thể hiện việc pháp luật hóa một quyền tự nhiên của con người, theo đó, con người có cơ hội ngang nhau trong việc được hưởng quyền, lợi ích và khi tham gia tố tụng dân sự họ có quyền, nghĩa vụ ngang nhau, có vị thế bằng nhau, thậm chí còn có quyền được Tòa án bảo vệ như nhau. Dưới góc độ pháp lý, quyền bình đẳng được ghi nhận tại Điều 16 Hiến pháp năm 2013: “1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. 2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Cụ thể hóa quyền bình đẳng, pháp luật tố tụng dân sự hiện nay đã khẳng định quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của phụ nữ bằng một nguyên tắc tại Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án”.

Về bản chất, quyền bình đẳng của phụ nữ được ghi nhận trong pháp luật tố tụng dân sự có nguồn gốc từ quyền bình đẳng trước pháp luật của con người, nên trên cơ sở đó quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự trước hết phải được hiểu là một trong những quyền tố tụng rất quan trọng, thể hiện tính đặc thù quyền của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự. Quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự không chỉ là việc pháp luật tố tụng dân sự quy định Tòa án không được phân biệt đối xử giữa các đương sự mà còn là những quy định về trách nhiệm của Tòa án trong việc tạo cơ hội như nhau cho các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng, không phân biệt đối xử mà bảo vệ công bằng quyền, lợi ích hợp pháp của các bên.

Như vậy, dưới góc độ pháp luật thì: Quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự là tổng thể những quy định của pháp luật tố tụng dân sự ghi nhận về một trong những quyền tố tụng đặc trưng của những người có quyền, lợi ích trong vụ, việc dân sự. Theo đó, họ có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm ngang nhau, có địa vị pháp lý như nhau và đều được Tòa án bảo vệ như nhau về quyền và lợi ích hợp pháp trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự.

Về khái niệm “tố tụng dân sự”, trong nghiên cứu khoa học luật tố tụng dân sự đã có nhiều cách giải thích khác nhau về thuật ngữ “tố tụng dân sự”. Mỗi cách hiểu tuy có những điểm khác nhau nhưng đều có một điểm chung giống nhau là: Nói đến tố tụng dân sự là nói đến trình tự tố tụng hay còn gọi là quy trình tố tụng giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp về dân sự, thể hiện qua hai phương diện là pháp luật tố tụng dân sự và hoạt động tố tụng dân sự bởi vì pháp luật tố tụng dân sự và hoạt động tố tụng dân sự là hai mặt không thể tách rời của một hệ thống thống nhất đó là quy trình tố tụng dân sự. Cũng như các tố tụng khác, tố tụng dân sự là quy trình giải quyết vụ việc phát sinh tại Tòa án nhân dân nhưng khác là tố tụng dân sự có đối tượng giải quyết là các vụ việc dân sự, mục đích hướng tới chỉ là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp về dân sự của đương sự trong vụ việc dân sự.

2. Thực trạng bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự

Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay về bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự chủ yếu được thể hiện qua Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, từ các quy định về thủ tục sơ thẩm, thủ tục phúc thẩm đến thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự… Xác định một cách khái quát nhất thì bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thể hiện qua các nội dung cơ bản sau:

2.1. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong quá trình tố tụng dân sự

Để bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ thì trước hết pháp luật phải ghi nhận đầy đủ, toàn diện các đương sự có vị thế pháp lý như nhau, có quyền và nghĩa vụ tố tụng ngang nhau. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã thể hiện tương đối rõ điều này, bao gồm: (i) Các đương sự có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc tiếp cận Tòa án, yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; (ii) Các đương sự trong tố tụng dân sự có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình trước Tòa án; (iii) Các đương sự có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc tranh tụng tại phiên tòa; (iv) Các đương sự có quyền bình đẳng với nhau trong việc thỏa thuận về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

2.2. Trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong quá trình tố tụng

Bên cạnh việc ghi nhận các đương sự ngang bằng nhau về quyền, nghĩa vụ, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn có các quy định bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự từ phía Tòa án. Cụ thể là: (i) Tòa án phải có trách nhiệm bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong việc tiếp cận Tòa án, yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp; (ii) Tòa án phải có trách nhiệm bảo đảm cho phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh; (iii) Tòa án có trách nhiệm bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong việc tham gia phiên tòa, thực hiện tranh tụng tại phiên tòa; (iv) Tòa án phải bảo đảm cho phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng thỏa thuận về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

Như vậy, bên cạnh các quy định ghi nhận đương sự có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trước Tòa án, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn có những quy định khá cụ thể về trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm cho đương sự được ngang nhau khi thực hiện quyền và nghĩa vụ.

2.3. Vai trò của Viện kiểm sát trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ

Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, qua đó, giám sát quyền bình đẳng của phụ nữ trong việc tham gia phiên tòa, tranh tụng tại phiên tòa cũng như giám sát Tòa án trong việc bảo đảm cho phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng tham gia phiên tòa, tranh tụng tại phiên tòa qua một số điều luật cụ thể của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do pháp luật quy định. Tiếp đến Điều 232 quy định về sự có mặt của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm, Điều 249 quy định về thủ tục Viện kiểm sát hỏi tại phiên tòa, Điều 262 quy định về thủ tục phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm…

Như vậy, có thể thấy bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự được thể hiện qua các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về vai trò giám sát của Viện kiểm sát đối với việc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ và giám sát trách nhiệm bảo đảm cho phụ nữ thực hiện được quyền bình đẳng của Tòa án. Các quy định này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ và cùng với các chủ thể khác, Viện kiểm sát đã góp phần không nhỏ vào việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự trên thực tế.

2.4. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ

Để hỗ trợ phụ nữ thực hiện hiệu quả quyền bình đẳng trong việc tiếp cận Tòa án, đưa ra yêu cầu tại Tòa án, Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã khẳng định: Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác. Cụ thể hóa cho nguyên tắc này, một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm đã khẳng định trong những trường hợp do pháp luật quy định thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm hỗ trợ cho đương sự thực hiện quyền bình đẳng trong việc tiếp cận Tòa án, yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. Ví dụ, Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

Như vậy, bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự được thể hiện qua các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về các đương sự có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trước Tòa án; vai trò, trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bình đẳng; vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc giám sát các chủ thể thực hiện và bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự và trách nhiệm hỗ trợ đương sự thực hiện quyền bình đẳng của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

3. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự là phụ nữ trong tố tụng dân sự

Một là, sửa đổi, bổ sung một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự để rõ hơn quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự.

Sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để khẳng định rõ hơn quyền bình đẳng của đương sự là phụ nữ trong tố tụng dân sự. Bổ sung điều luật quy định về quyền, nghĩa vụ của đương sự trong việc dân sự để đương sự trong việc dân sự bình đẳng với đương sự trong vụ án dân sự. Bổ sung quyền đưa ra yêu cầu của bị đơn tại Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để bảo đảm hơn nữa quyền bình đẳng giữa bị đơn với các đương sự khác. Bổ sung nội dung Điều 112 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để nâng cao trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm quyền bình đẳng giữa các đương sự khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Bổ sung quy định tại Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về thời hạn Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự để nâng cao trách nhiệm của Tòa án phải tiếp tục giải quyết vụ án.

Hai là, sửa đổi, bổ sung quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự trong tố tụng dân sự.

Bên cạnh chức năng kiểm sát của Viện kiểm sát tại phiên tòa xét xử, cần tăng cường sự kiểm sát của Viện kiểm sát trong giai đoạn chuẩn bị xét xử là giải pháp phù hợp để bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự trong tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định rõ Tòa án có thể thu thập chứng cứ bằng các biện pháp cụ thể nhưng chưa có quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ mà Viện kiểm sát được tiến hành. Viện kiểm sát cũng là một cơ quan tiến hành tố tụng dân sự như Tòa án nên sẽ là phù hợp nếu Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bổ sung quy định: “Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát thu thập tài liệu, chứng cứ bằng các biện pháp được quy định tại khoản 2 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015”.

Ba là, sửa đổi, bổ sung quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trách nhiệm của cơ quan tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự trong tố tụng dân sự.

Bổ sung nội dung của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, đồng thời, nghiên cứu bổ sung quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải có trách nhiệm phối hợp với Tòa án ban hành bộ tập quán dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án trong trường hợp chưa có luật áp dụng.

NCS. Nguyễn Thanh Hiền & ThS. Nguyễn Thị Huyền Trang

Khoa Luật, Học viện Phụ nữ Việt Nam

[1]. Bài viết dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học của nhóm tác giả với đề tài “Bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” năm 2022.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.

Theo dõi chúng tôi trên: