Thứ năm 05/03/2026 09:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập trong việc áp dụng quy định pháp luật về biện pháp khẩn cấp tạm thời và kiến nghị hoàn thiện

Trong bài viết này, tác giả nêu lên một số vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng quy định pháp luật về biện pháp khẩn cấp tạm thời và kiến nghị nhằm nâng cao giá trị điều chỉnh của chế định này.


Thực tế thời gian qua, việc áp dụng các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế. Do đó, việc xem xét, đánh giá các quy định của pháp luật, nhất là vào thời điểm đang lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết hướng dẫn Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Bộ luật 2015) về BPKCTT thay thế Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27/4/2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định tại Chương VIII “Các BPKCTT” của Bộ luật Tố tụng dân sự (Nghị quyết số 02/2005) là vô cùng cần thiết.

1. Về quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Tại Điều 111 Bộ luật 2015 có quy định về quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT. Tuy nhiên, Bộ luật 2015 và Nghị quyết số 02/2005 chưa quy định rõ phạm vi đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự có quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT nên trong thực tiễn phát sinh vướng mắc trong trường hợp bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập yêu cầu áp dụng BPKCTT thì Tòa án có chấp xem xét hay không.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, các đương sự đều có quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án bất kể họ có yêu cầu Tòa án giải quyết hay không[1]. Quan điểm thứ hai cho rằng, chỉ khi nào đương sự có yêu cầu và được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định pháp luật mới được yêu cầu áp dụng BPKCTT.

Tác giả thống nhất với quan điểm thứ hai. Bởi vì, mặc dù pháp luật tố tụng dân sự không quy định rõ đương sự có yêu cầu và được Tòa án thụ lý, giải quyết mới có quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT. Tuy nhiên, quy định về BPKCTT không được pháp luật tố tụng dân sự quy định một cách độc lập mà đi kèm với yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án cụ thể, yêu cầu đó có thể là yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập và phải đảm bảo các điều kiện được quy định tại Điều 111 và quy định về từng BPKCTT cụ thể mà Bộ luật 2015 quy định.

Bên cạnh đó, theo các điểm d, g khoản 1 Điều 138 Bộ luật 2015, Tòa án ra ngay quyết định hủy bỏ BPKCTT khi vụ án kết thúc do việc giải quyết vụ án được đình chỉ theo quy định của Bộ luật này và vụ việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Chính vì vậy, trong trường hợp đương sự không có yêu cầu và được Tòa án thụ lý, giải quyết lại yêu cầu áp dụng BPKCTT mà trong trường hợp vụ án kết thúc thì BPKCTT vẫn còn tồn tại là không phù hợp.

Vì vậy, để có sự áp dụng thống nhất, kiến nghị bổ sung vào Điều 111 Bộ luật 2015 khoản 4 quy định về phạm vi đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự có quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT như sau: “4.Quyền yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT của đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự chỉ phát sinh khi yêu cầu áp dụng BPKCTT đó gắn liền với yêu cầu của đương sự được Tòa án thụ lý, giải quyết hoặc đang xem xét điều kiện thụ lý”.

2. Về trách nhiệm do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng

Một là, trách nhiệm của Tòa án do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng

Từ quy định tại Điều 113 Bộ luật 2015 có thể thấy, trường hợp Tòa án biết yêu cầu áp dụng BPKCTT của người yêu cầu không đúng quy định pháp luật mà Tòa án vẫn áp dụng thì Tòa án không phải chịu trách nhiệm bồi thường. Trong khi đó, nếu Tòa án áp dụng BPKCTT không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc không áp dụng BPKCTT mà không có lý do chính đáng nhưng gây thiệt hại thì vẫn phải bồi thường. Chính quy định này dẫn đến tâm lý của thẩm phán không quan tâm đến các điều kiện của từng BPKCTT mà Bộ luật 2015 quy định, qua đó, phát sinh một số sai sót được Tòa án nhân dân tối cao chỉ ra tại Phụ lục được ban hành kèm theo Chỉ thị số 03/2019/CT-CA ngày 30/12/2019 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc nâng cao chất lượng áp dụng các quy định về BPKCTT trong tố tụng dân sự (Chỉ thị số 03).

Để khắc phục các sai sót trong việc áp dụng BPKCTT một cách có hiệu quả, ràng buộc các thẩm phán cân nhắc và xem xét đầy đủ các điều kiện khi xem xét yêu cầu áp dụng BPKCTT, tác giả kiến nghị bổ sung trách nhiệm của Tòa án khi áp dụng BPKCTT không đúng điều kiện mà Bộ luật 2015 quy định, cụ thể, bổ sung điểm đ vào khoản 2 Điều 113 như sau: “đ) Khi biết BPKCTT bị yêu cầu không đúng quy định pháp luật nhưng vẫn áp dụng thì Tòa án có trách nhiệm liên đới với người yêu cầu bồi thường trong phạm vi tỷ lệ lỗi của Tòa án liên quan đến việc áp dụng BPKCTT không đúng”.

Hai là, về trách nhiệm của Chánh án giải quyết khiếu nại việc áp dụng hay không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Theo các quy định tại khoản 3 Điều 113 Bộ luật 2015; Điều 64 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017; khoản 1 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính (Thông tư liên tịch số 01/2012) thì Tòa án phải bồi thường trong trường hợp áp dụng BPKCTT không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng BPKCTT hoặc cho người thứ ba, sau đó, công chức có lỗi gây thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân sách nhà nước một phần hoặc toàn bộ số tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại.

Tuy nhiên, pháp luật tố tụng dân sự quy định, sau khi thẩm phán áp dụng hoặc không áp dụng BPKCTT thì đương sự có quyền khiếu nại. Như vậy, trong trường hợp thẩm phán áp dụng hoặc không áp dụng BPKCTT sai nhưng khi đương sự khiếu nại, Viện kiểm sát kiến nghị, Chánh án giữ nguyên quyết định của thẩm phán và gây thiệt hại cho người khác thì Chánh án có trách nhiệm bồi thường thiệt hại hay không vẫn chưa có cách hiểu và áp dụng thống nhất. Quan điểm thứ nhất cho rằng, thẩm phán phải chịu trách nhiệm bồi thường; quan điểm thứ hai cho rằng, Chánh án phải chịu trách nhiệm bồi thường; quan điểm thứ ba cho rằng, Chánh án và thẩm phán phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường.

Để nâng cao vai trò của Chánh án trong việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị áp dụng hay không áp dụng BPKCTT, tác giả kiến nghị bổ sung vào khoản 1 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2012 hướng dẫn về trách nhiệm bồi thường của Chánh án như sau: “Khi giải quyết khiếu nại, kiến nghị việc áp dụng hoặc không áp dụng BPKCTT, Chánh án Tòa án không chấp nhận khiếu nại, kiến nghị và việc áp dụng hoặc không áp dụng BPKCTT bị khiếu nại, kiến nghị gây thiệt hại cho người bị áp dụng BPKCTT hoặc cho người thứ ba thì Chánh án Tòa án liên đới chịu trách nhiệm bồi thường với thẩm phán đã ban hành văn bản áp dụng hoặc không áp dụng BPKCTT”.

3. Về thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Hiện nay, trình tự, thủ tục xem xét áp dụng BPKCTT được thực hiện theo Điều 133 Bộ luật 2015 và được hướng dẫn tại các mục 4, 5, 6 và 7 Nghị quyết số 02/2005. Tuy nhiên, việc áp dụng trình tự, thủ tục này trên thực tế phát sinh một số khó khăn, vướng mắc sau:

Về việc sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu: Khi người yêu cầu nộp đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT không đúng thì thẩm phán yêu cầu họ sửa đổi, bổ sung đơn. Tuy nhiên, do pháp luật tố tụng dân sự chưa quy định thời gian thực hiện nên việc ấn định thời gian để người yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn của các Tòa án là khác nhau. Điều này gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị yêu cầu trong trường hợp người yêu cầu áp dụng không có căn cứ. Vì vậy, để khắc phục hạn chế này, tác giả kiến nghị bổ sung vào Điều 133 Bộ luật 2015 thời gian tối đa mà Tòa án được ấn định để người yêu cầu áp dụng BPKCTT thực hiện việc sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu. Hết thời gian được ấn định mà người yêu cầu không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ yêu cầu của Tòa án thì Tòa án trả lại đơn yêu cầu cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo.

Bên cạnh đó, về nghĩa vụ nộp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, khoản 1 Điều 133 Bộ luật 2015 quy định, tùy theo yêu cầu áp dụng BPKCTT mà người yêu cầu phải cung cấp cho Tòa án chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng BPKCTT đó. Đồng thời, tiểu mục 5.2 mục 5 Nghị quyết số 02/2005 quy định, nếu chứng cứ chưa đủ thì thẩm phán đề nghị người yêu cầu cung cấp bổ sung chứng cứ. Tuy nhiên, trường hợp người yêu cầu không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ hoặc yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ thì Tòa án có được tiến hành biện pháp thu thập chứng cứ hay không cũng chưa có hướng dẫn. Hiện nay, việc lạm dụng yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT diễn ra rất nhiều. Thông thường, người yêu cầu không trình bày đầy đủ thông tin hoặc trình bày qua loa, không rõ ràng về tài sản bị yêu cầu áp dụng BPKCTT và yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ. Khi đó, do sợ trách nhiệm bồi thường, thông thường, thẩm phán phải ban hành văn bản đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp thông tin. Chính vì vậy, vô hình trung, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của người yêu cầu chuyển sang Tòa án. Để tránh sự lạm dụng áp dụng BPKCTT như trong thời gian qua, kiến nghị cần bổ sung vào Điều 133 Bộ luật 2015 quy định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của người yêu cầu áp dụng BPKCTT. Trong trường hợp, người yêu cầu không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ, không đủ cơ sở để Tòa án đánh giá cho sự cần thiết phải áp dụng BPKCTT bị yêu cầu thì Tòa án trả lại đơn yêu cầu; không xem xét trách nhiệm thẩm phán trong trường hợp này.

Như vậy, tác giả kiến nghị bổ sung vào khoản 1 Điều 133 như sau:

“1. …

Trường hợp đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT thiếu một trong các nội dung được quy định tại khoản này, người yêu cầu chưa cung cấp được chứng cứ chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng BPKCTT thì thẩm phán ấn định một khoảng thời gian để người yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu, giao nộp bổ sung chứng cứ nhưng không quá 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu bằng văn bản của Tòa án. Hết thời gian được ấn định mà người yêu cầu không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ yêu cầu của Tòa án thì Tòa án trả lại đơn yêu cầu cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo”.

Về giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản, phong tỏa tài sản, khoản 4 Điều 133 Bộ luật 2015 quy định, trường hợp áp dụng BPKCTT quy định tại khoản 10 và khoản 11 Điều 114 Bộ luật 2015 thì chỉ được phong tỏa tài khoản, tài sản có giá trị tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người bị áp dụng BPKCTT có nghĩa vụ phải thực hiện. Quy định này nhằm hạn chế gây thiệt hại cho người bị áp dụng BPKCTT trong trường hợp yêu cầu áp dụng BPKCTT đối với tài sản có giá trị lớn hơn so với nghĩa vụ mà họ phải gánh chịu. Tuy nhiên, quy định này tương đối cứng nhắc và chưa có hướng dẫn nên gây khó khăn trong quá trình áp dụng. Theo đó, nếu người có nghĩa vụ chỉ có một tài sản duy nhất, giá trị tài sản đó cao hơn mức yêu cầu nhưng không đáng kể và họ đang thực hiện thủ tục mua bán, chuyển nhượng thì có áp dụng hay không. Do chưa có hướng dẫn nên có nơi Tòa án chấp nhận áp dụng vì để đảm bảo thi hành án; có nơi Tòa án không áp dụng mà yêu cầu người yêu cầu phải lựa chọn tài sản khác để yêu cầu hoặc chuyển sang BPKCTT khác. Để tránh vướng mắc này, tác giả kiến nghị cần hướng dẫn cách xác định “tài khoản, tài sản có giá trị tương đương” với nghĩa vụ tài sản mà người bị áp dụng BPKCTT có nghĩa vụ phải thực hiện. Theo đó, tài sản hay tài khoản đó có giá trị bằng hoặc cao hơn không quá 20% nghĩa vụ mà người bị áp dụng phải thực hiện.

4. Về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm

Theo khoản 1 Điều 136 Bộ luật 2015, người yêu cầu Tòa án áp dụng một trong các BPKCTT quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10, 11, 15 và 16 Điều 114 Bộ luật 2015 phải nộp cho Tòa án chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Tòa án ấn định nhưng phải tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả của việc áp dụng BPKCTT không đúng.

Đồng thời, mục 8 Nghị quyết số 02/2005 hướng dẫn cách thức xác định chủ thể bị thiệt hại do áp dụng BPKCTT không đúng; căn cứ xác định thiệt hại thực tế có thể xảy ra. Theo đó, thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử phải dự kiến và tạm tính có tính chất tương đối thiệt hại thực tế có thể xảy ra trên cơ sở dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra của người yêu cầu áp dụng BPKCTT; hỏi ý kiến của người bị áp dụng BPKCTT.

Nếu như việc áp dụng BPKCTT là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu áp dụng, tránh gây trở ngại cho công tác giải quyết án của Tòa án và công tác thi hành án thì quy định áp dụng biện pháp bảo đảm nhằm bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng BPKCTT và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT từ phía người có quyền yêu cầu.

Tuy nhiên, trên thực tế, do thiệt hại thực tế từ việc áp dụng BPKCTT không đúng gây ra chưa xảy ra, việc tạm tính chỉ mang tính chất tương đối và quy định của pháp luật tố tụng dân sự về dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra tương đối phức tạp, chung chung, chưa cụ thể nên ít khi thẩm phán, Hội đồng xét xử dựa vào quy định của pháp luật tố tụng dân sự mà thường tự dự tính mức thiệt hại, dẫn đến sự tùy nghi. Theo đó, thiệt hại thực tế có thể xảy ra thường được tính dựa trên tỷ lệ phần trăm của giá trị tài sản bị áp dụng BPKCTT, có thể là 5%, 10%, 50%, thậm chí lên đến 100% do Tòa án tự tính hoặc thông qua hội đồng định giá. Có những trường hợp, không có hoặc chưa có căn cứ xác định “thiệt hại thực tế có thể xảy ra”, Tòa án vẫn đưa ra một số tiền để người yêu cầu áp dụng BPKCTT phải nộp vào tài khoản ngân hàng.

Bên cạnh đó, theo các khoản 2, 3 Điều 133 Bộ luật 2015, trong trường hợp yêu cầu áp dụng BPKCTT thuộc trường hợp phải thực hiện biện pháp bảo đảm thì Tòa án chỉ áp dụng khi người yêu cầu thực hiện xong biện pháp bảo đảm. Nếu yêu cầu áp dụng BPKCTT tại phiên tòa thì việc thực hiện biện pháp bảo đảm phải thực hiện xong trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án. Cho nên, với việc không quy định mức thiệt hại cụ thể có thể phát sinh, đương sự sẽ không biết được số tiền để chuẩn bị mà phụ thuộc vào sự đánh giá của Tòa án. Qua đó, Tòa án có thể dự tính với mức cao để hạn chế quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT của đương sự.

Để tránh sự tùy nghi trong việc xác định “thiệt hại thực tế có thể xảy ra”, kiến nghị sửa đổi, bổ sung căn cứ xác định “thiệt hại thực tế có thể xảy ra” dựa vào tỷ lệ % của giá trị tài sản bị áp dụng BPKCTT hoặc nghĩa vụ tài sản của người bị áp dụng BPKCTT (có thể bằng 30% giá trị tài sản bị áp dụng BPKCTT hoặc nghĩa vụ tài sản của người bị áp dụng BPKCTT) tại khoản 1 Điều 136 Bộ luật 2015.

5. Về hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Theo các khoản 2, 3 Điều 138 Bộ luật 2015, khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật 2015, Tòa án ra ngay quyết định hủy bỏ BPKCTT đã được áp dụng. Trường hợp hủy bỏ BPKCTT, Tòa án phải xem xét, quyết định để người yêu cầu áp dụng BPKCTT nhận lại chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá quy định tại Điều 136 Bộ luật 2015, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 113 Bộ luật 2015[2]. Thủ tục ra quyết định hủy bỏ việc áp dụng BPKCTT được thực hiện theo quy định về thủ tục áp dụng BPKCTT tại Điều 133 Bộ luật 2015. Trường hợp đã có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì việc giải quyết yêu cầu hủy quyết định áp dụng BPKCTT do một thẩm phán được Chánh án của Tòa án đã ra quyết định áp dụng BPKCTT phân công giải quyết. Việc áp dụng quy định này trong thực tiễn phát sinh một số bất cập như sau:

Một là, chưa có sự phân chia thủ tục hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với các căn cứ khác nhau

Do thủ tục hủy bỏ việc áp dụng BPKCTT cũng là thủ tục áp dụng BPKCTT nên phải có đơn yêu cầu; Chánh án phân công thẩm phán xem xét; trường hợp đơn yêu cầu thiếu nội dung, tài liệu, chứng cứ chưa đủ thì Thẩm phán yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu, cung cấp bổ sung tài liệu, chứng cứ… Đồng thời, do chưa có sự phân chia thủ tục hủy bỏ việc áp dụng BPKCTT đối với các căn cứ khác nhau nên bất kể căn cứ hủy bỏ là gì thì thủ tục hủy bỏ cũng áp dụng như nhau. Trong khi đó, đối với một vài căn cứ hủy bỏ việc áp dụng BPKCTT, Tòa án có thể tự nhận biết mà không cần phải có thêm tài liệu, chứng cứ chứng minh hay phải có đơn yêu cầu của đương sự.

Hai là, cần bổ sung thủ tục hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đương nhiên

Theo khoản 3 Điều 138 Bộ luật 2015, trường hợp đã có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì việc giải quyết yêu cầu hủy quyết định áp dụng BPKCTT do một thẩm phán được Chánh án của Tòa án đã ra quyết định áp dụng BPKCTT phân công giải quyết. Do không có ngoại lệ nên trong trường hợp bản án, quyết định đã được thi hành án xong thì nó vẫn còn hiệu lực và phải qua thủ tục hủy bỏ của Tòa án. Việc này là cứng nhắc, không kịp thời đảm bảo quyền lợi của người bị yêu cầu. Bởi vì, sau khi đã thực hiện xong nghĩa vụ mà bản án, quyết định của Tòa án ấn định và là căn cứ để tồn tại BPKCTT được áp dụng thì người bị yêu cầu phải làm đơn yêu cầu hủy bỏ và chờ Tòa án xem xét hủy bỏ theo trình tự, thủ tục do Bộ luật 2015 quy định.

Như vậy, để khắc phục những hạn chế nêu trên, tác giả kiến nghị (i) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 138 Bộ luật 2015: Phân chia thủ tục hủy bỏ việc áp dụng BPKCTT thành hai trường hợp có yêu cầu của đương sự (trong trường hợp Tòa án không thể biết căn cứ hủy việc áp dụng BPKCTT nếu chỉ dựa vào hồ sơ vụ án, quy định pháp luật mà để biết được căn cứ hủy việc áp dụng BPKCTT phải dựa trên yêu cầu của đương sự và tài liệu, chứng cứ kèm theo, trong trường hợp này, thủ tục hủy bỏ áp dụng như thủ tục áp dụng BPKCTT) và Tòa án tự hủy bỏ (không cần phải theo thủ tục áp dụng BPKCTT đối với những căn cứ hủy bỏ việc áp dụng BPKCTT mà Tòa án xác định được khi dựa vào hồ sơ vụ án, quy định pháp luật); (ii) Bổ sung vào khoản 3 Điều 138 Bộ luật 2015 quy định về BPKCTT bị hủy bỏ đương nhiên, theo đó, nếu nghĩa vụ theo bản án, quyết định của Tòa án đã được thi hành án xong thì thời điểm mà cơ quan thi hành án dân sự xác định việc thi hành án xong đó, BPKCTT đương nhiên bị hủy bỏ.

6. Về khiếu nại, kiến nghị việc áp dụng hay không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Một là, về người có quyền khiếu nại

Do Bộ luật 2015 (Điều 140) quy định chỉ đương sự mới có quyền khiếu nại nên việc xác định quyền khiếu nại sẽ phụ thuộc vào việc người bị thiệt hại có phải là đương sự hay không. Nếu vì một lý do nào đó mà người bị ảnh hưởng bởi BPKCTT do Tòa án áp dụng nhưng họ không phải và chưa được đưa vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì họ sẽ không có quyền hoặc sẽ hết thời hạn và không được trả lời khiếu nại. Để tháo gỡ vướng mắc này, tác giả kiến nghị bổ sung vào Điều 140 Bộ luật 2015 quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ bị ảnh hưởng bởi quyết định áp dụng BPKCTT cũng có quyền khiếu nại như đương sự.

Hai là, về giá trị pháp lý của quyết định giải quyết khiếu nại

Theo các điều 140, 141 Bộ luật 2015, “đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị…”, Chánh án Tòa án phải xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị và quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án là quyết định cuối cùng và phải được cấp hoặc gửi ngay; tại phiên tòa, việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử và quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Hội đồng xét xử là quyết định cuối cùng. Như vậy, do quy định của pháp luật chưa cụ thể, rõ ràng nên sau khi Chánh án ban hành quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại vẫn khiếu nại đến Tòa án cấp trên và trong trường hợp khiếu nại có căn cứ thì Tòa án nhân dân cấp trên lại yêu cầu Tòa án cấp dưới khắc phục sai sót hoặc tiến hành áp dụng quy định về giải quyết khiếu nại tiếp theo được quy định tại Chương XLI về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự để giải quyết.

Để khắc phục hạn chế này, tác giả kiến nghị bổ sung vào khoản 2, khoản 3 Điều 141 Bộ luật 2015: Quyết định giải quyết khiếu nại của Chánh án, Hội đồng xét xử là quyết định “có hiệu lực thi hành”.

ThS. Thái Chí Bình

Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang


[1] Xem: Dương Tấn Thanh, “Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự và vướng mắc trong thực tiễn” tại địa chỉ: https://tapchitoaan.vn/bai-viet/nghien-cuu/bien-phap-khan-cap-tam-thoi-trong-to-tung-dan-su-va-vuong-mac-trong-thuc-tien, đăng ngày 21/02/2020.

[2] Đó là trường hợp yêu cầu áp dụng BPKCTT không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng BPKCTT hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: