Chủ nhật 06/09/2026 14:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo pháp luật Việt Nam

Khiển trách, hòa giải tại cộng đồng và giáo dục tại xã, phường, thị trấn là các biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự và được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Bài viết này phân tích những tồn tại, hạn chế và đề xuất hướng hoàn thiện quy định về biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành.

Khiển trách, hòa giải tại cộng đồng và giáo dục tại xã, phường, thị trấn là các biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự và được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Bài viết này phân tích những tồn tại, hạn chế và đề xuất hướng hoàn thiện quy định về biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành.

1. Thực trạng quy định các biện pháp giám sát, giáo dục tại xã, phường, thị trấn

Mục 2 Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (Bộ luật Hình sự) quy định các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự (TNHS) bao gồm: Khiển trách, hòa giải tại cộng đồng và giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Các biện pháp giám sát, giáo dục là các biện pháp mới được quy định trong Bộ luật Hình sự hiện hành, các Bộ luật Hình sự trước đó không quy định các biện pháp này. Việc Bộ luật Hình sự quy định các biện pháp giám sát, giáo dục nhằm buộc người dưới 18 tuổi phạm tội thực hiện những nghĩa vụ nhất định khi được miễn TNHS, chịu sự quản lý, giám sát của cơ quan có thẩm quyền, qua đó góp phần phòng ngừa họ tiếp tục phạm tội.

Theo Điều 92 Bộ luật Hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi thỏa mãn đồng thời 02 điều kiện: (i) Đã ra quyết định miễn TNHS và (ii) Người dưới 18 tuổi hoặc người đại diện hợp pháp của họ đồng ý với việc áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục. Đối với từng biện pháp cụ thể, ngoài thỏa mãn 02 điều kiện nói trên, còn phải thỏa mãn các điều kiện quy định tại các Điều 93, 94, 95 Bộ luật Hình sự và tuân thủ trình tự, thủ tục quy định tại các Điều 426, 427, 428, 429 của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành. Trong các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn TNHS, khiển trách và hòa giải tại cộng đồng là các biện pháp mới được quy định trong Bộ luật Hình sự hiện hành. Đối với giáo dục tại xã, phường, thị trấn, biện pháp này đã được quy định trong các Bộ luật Hình sự trước đây. Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định giáo dục tại xã, phường, thị trấn là biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội[1], không phải là biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp được miễn TNHS.

2. Một số tồn tại, hạn chế trong các quy định hiện hành

Nghiên cứu quy định của Điều 95 Bộ luật Hình sự và Điều 429 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành về biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thấy rằng, trong các quy định về vấn đề này vẫn còn những tồn tại, hạn chế. Cụ thể:

Thứ nhất, về trường hợp áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn: Việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong trường hợp được miễn TNHS ngoài thỏa mãn điều kiện chung quy định tại Điều 92, còn phải thuộc một trong hai trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 95 Bộ luật Hình sự, đó là: “Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91; hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự”.

Qua nghiên cứu cho thấy, trường hợp áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn quy định tại khoản 1 Điều 95 giống trường hợp áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng quy định tại khoản 1 Điều 94, chỉ khác nhau là biện pháp hòa giải tại cộng đồng “được áp dụng”, còn biện pháp giáo dục tại xã phường, thị trấn “có thể áp dụng”[2] khi thuộc một trong hai trường hợp nêu trên. Vấn đề đặt ra, khi thuộc trường hợp áp dụng thì cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng hay giáo dục tại xã, phường, thị trấn?

Tác giả cho rằng, về nguyên tắc, phải áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng, vì đây là trường hợp “được áp dụng”. Hơn nữa, qua so sánh cho thấy, thời gian chấp hành và các nghĩa vụ phải thực hiện khi áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng nhẹ hơn biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Do vậy, để bảo đảm nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, cần ưu tiên áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng. Vậy nếu ưu tiên áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng, thì trường hợp nào sẽ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, vì đây là biện pháp “có thể áp dụng”. Việc khoản 1 Điều 95 Bộ luật Hình sự quy định “có thể áp dụng” dẫn đến tình trạng áp dụng tùy nghi, không thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng khi chưa có văn bản hướng dẫn.

Thứ hai, về Ủy ban nhân dân cấp xã được giao trách nhiệm giám sát, giáo dục: Khoản 2 Điều 95 Bộ luật Hình sự hiện hành quy định: “Người được cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức giám sát, giáo dục phải thực hiện các nghĩa vụ sau đây…”. Như vậy, tùy từng giai đoạn tố tụng, cơ quan ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn sẽ phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện. Vấn đề đặt ra là Ủy ban nhân dân cấp xã nào sẽ được giao trách nhiệm giáo dục tại xã, phường, thị trấn thì Bộ luật Hình sự không quy định? Đó là Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị áp dụng cư trú, tạm trú; nơi người bị hại cư trú hay nơi xảy ra tội phạm? Việc xác định chính xác Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm giáo dục sẽ bảo đảm cho biện pháp được thực hiện, cũng như đánh giá thái độ chấp hành của người dưới 18 tuổi để xét thời gian chấm dứt trước thời hạn biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Nghiên cứu các văn bản hướng dẫn có liên quan đến biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thấy rằng, Nghị định số 37/2018/NĐ-CP[3] và Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH[4] cũng không xác định Ủy ban nhân dân cấp xã nào sẽ giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Hạn chế này không chỉ có ở biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, mà còn có trong quy định của Bộ luật Hình sự về biện pháp khiển trách và biện pháp hòa giải tại cộng đồng.

Thứ ba, về nghĩa vụ phải thực hiện: Khoản 2 Điều 95 Bộ luật Hình sự quy định các nghĩa vụ người dưới 18 tuổi phải thực hiện khi áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, bao gồm: Chấp hành đầy đủ nghĩa vụ về học tập, lao động; chịu sự giám sát, giáo dục của gia đình, xã, phường, thị trấn; không đi khỏi nơi cư trú khi không được phép; các nghĩa vụ theo quy định tại khoản 3 Điều 93 Bộ luật Hình sự.

Vấn đề đặt ra là nếu người dưới 18 tuổi không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ những nghĩa vụ quy định thì xử lý thế nào, hậu quả pháp lý ra sao? Trước khi bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, người dưới 18 tuổi phạm tội đã được miễn TNHS, do vậy, dù có thực hiện hay không thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 95 thì họ cũng không bị coi là có án tích. Hơn nữa, Điều 95 cũng không quy định hậu quả pháp lý bất lợi mà người bị giáo dục tại xã, phường, thị trấn phải gánh chịu khi không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ. Cùng với đó, Nghị định số 37/2018/NĐ-CP chỉ quy định người bị giáo dục tại xã, phường, thị trấn nếu vi phạm thì theo đề nghị của người trực tiếp giám sát, giáo dục, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu người được giám sát, giáo dục trình diện[5] mà không quy định hình thức xử lý nào khác. Việc Bộ luật Hình sự và Nghị định số 37/2018/NĐ-CP không quy định hình thức xử lý khi vi phạm nghĩa vụ đã làm giảm tính hiệu quả của biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, chưa bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Thứ tư, về người có thẩm quyền quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn: Khoản 1 Điều 429 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành quy định các chủ thể khác nhau có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Theo đó, trong giai đoạn điều tra, thẩm quyền thuộc về Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra; trong giai đoạn truy tố, thẩm quyền thuộc về Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát; trong giai đoạn xét xử, thẩm quyền thuộc về Hội đồng xét xử.

Đối với giai đoạn điều tra và truy tố, thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn không phát sinh vướng mắc. Tuy nhiên, đối với giai đoạn xét xử, khoản 1 Điều 429 Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ quy định thẩm quyền thuộc về Hội đồng xét xử, không quy định Chánh án, Phó Chánh án và Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa. Thực trạng này dẫn đến trường hợp trong khâu chuẩn bị xét xử, khi Hội đồng xét xử chưa được thành lập thì Chánh án, Phó Chánh án và Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa không có quyền quyết định áp dụng giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Trong khi đó, Điều 277 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thời hạn chuẩn bị xét xử đối với tội phạm thuộc trường hợp áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là 30 ngày (đối với tội phạm ít nghiêm trọng), 45 ngày (đối với tội phạm nghiêm trọng) hoặc 02 tháng (đối với tội phạm rất nghiêm trọng) chưa kể gia hạn. Việc Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định Chánh án, Phó Chánh án và Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đã kéo dài thời gian giải quyết, không tạo điều kiện để người dưới 18 tuổi sớm được hưởng chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự.

3. Một vài kiến nghị

Từ những tồn tại, hạn chế trong quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành về biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn như đã phân tích, tác giả đề xuất một số kiến nghị sau đây:

Một là, liên ngành Tư pháp trung ương hoặc Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sớm hướng dẫn quy định “có thể áp dụng” trong khoản 1 Điều 95 Bộ luật Hình sự. Việc hướng dẫn quy định nêu trên nhằm áp dụng pháp luật thống nhất, tạo điều kiện cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án xác định chính xác trường hợp nào áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, trường hợp nào áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng.

Hai là, sửa đổi quy định tại khoản 2 Điều 95 Bộ luật Hình sự theo hướng quy định Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người dưới 18 tuổi phạm tội cư trú là cơ quan được giao trách nhiệm giám sát, giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Việc quy định Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người dưới 18 tuổi phạm tội cư trú là cơ quan có trách nhiệm giám sát, giáo dục sẽ phù hợp với quy định tại điểm g khoản 2 và khoản 3 Điều 429 Bộ luật Tố tụng hình sự, cũng như tạo điều kiện cho việc quản lý, giáo dục.

Ba là, Chính phủ cần nghiên cứu sửa đổi Nghị định số 37/2018/NĐ-CP theo hướng bổ sung hình thức xử lý đối với người dưới 18 tuổi vi phạm các nghĩa vụ phải thực hiện khi thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Bốn là, sửa đổi khoản 1 Điều 429 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng bổ sung Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa là người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Khi đó, khoản 1 Điều 429 được sửa đổi thành: “1. Khi miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội mà xét thấy có đủ điều kiện áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định của Bộ luật hình sự thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong vụ án do cơ quan mình thụ lý, giải quyết”.

Nguyễn Văn Tùng & Nguyễn Văn Nhất
Học viện Cảnh sát nhân dân




[1]. Xem: Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.

[2]. Xem: khoản 1 Điều 94 và khoản 1 Điều 95 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3]. Nghị định số 37/2018/NĐ-CP ngày 10/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các biện pháp giám sát, giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự.

[4]. Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 quy định về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi.

[5]. Xem: Điều 18 Nghị định số 37/2018/NĐ-CP.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.

Theo dõi chúng tôi trên: