Thứ bảy 08/08/2026 23:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cần có cơ chế thu hút đầu tư đặc biệt và hỗ trợ cho người yếu thế, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi tiếp cận với nước sạch

Ngày 09/01/2025, đồng chí Trần Tiến Dũng, Thứ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì phiên họp Hội đồng thẩm định Dự án Luật Cấp, thoát nước. Đồng chí Nguyễn Tường Văn, Thứ trưởng Bộ Xây dựng đồng chủ trì phiên họp.

Toàn cảnh phiên họp.

Thay mặt cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo về sự cần thiết phải ban hành Luật Cấp, thoát nước, đại diện Bộ Xây dựng cho biết, hiện nay, điều chỉnh hoạt động cấp nước sạch, thoát nước (bao gồm thoát nước mưa, thoát nước thải và xử lý nước thải) chưa được quy định trong các văn bản luật hiện hành, chỉ được quy định bằng văn bản dưới luật là các nghị định (quy định trực tiếp).

Quá trình tổ chức triển khai thực hiện các quy định pháp luật về cấp nước, thoát nước và xử lý nước thải đã phát sinh những tồn tại, hạn chế, bất cập cần phải nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện như: (i) pháp luật liên quan trực tiếp đến lĩnh vực cấp, thoát nước chưa tương xứng với vai trò, tầm quan trọng của dịch vụ cung cấp nước sạch và thoát nước, xử lý nước thải; (ii) quy hoạch cấp, thoát nước chưa đầy đủ, chưa đồng bộ, chất lượng dự báo còn hạn chế gây khó khăn cho việc định hướng, đầu tư xây dựng phát triển hệ thống cấp, thoát nước; (iii) hoạt động đầu tư phát triển cấp, thoát nước chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường, đặc biệt là cấp nước, thu gom, xử lý nước thải vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo; (iv) hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về cấp nước, thoát nước và xử lý nước thải chưa đầy đủ, khó khăn trong việc đánh giá tình hình, lập quy hoạch, định hướng, đầu tư và quản lý nhà nước; (v) công trình cấp, thoát nước thiếu bền vững, hiệu quả, chất lượng dịch vụ, công tác quản lý vận hành còn nhiều hạn chế; (vi) việc ban hành giá nước sạch gặp nhiều khó khăn; giá dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải còn thấp, hạn chế huy động nguồn lực đầu tư; (vii) quản lý nhà nước về cấp, thoát nước còn chồng chéo, chưa thống nhất; (viii) một số quy định đặc thù trong lĩnh vực cấp, thoát nước chưa thống nhất hoặc chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn cần phải rà soát bổ sung, điều chỉnh.

Luật Cấp, thoát nước được ban hành nhằm mục đích cung cấp nước sạch ổn định, bảo đảm quyền được tiếp cận nguồn nước sạch của người dân, thu gom và xử lý nước thải đồng bộ với mục đích bảo vệ môi trường, thoát nước mưa chống ngập gắn với thích ứng biến đổi khí hậu, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo vệ sức khỏe con người, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và hội nhập quốc tế; hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Bên cạnh đó là hướng tới quản lý phát triển cấp, thoát nước trên nền tảng công nghệ số, thống nhất cơ sở dữ liệu tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về cấp, thoát nước, giảm thiểu nhân lực quản lý, vận hành, chi phí đầu tư của Nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa. Đồng thời kết hợp hài hòa quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng sử dụng nước, hộ thoát nước, của các tổ chức, cá nhân đầu tư, vận hành công trình cấp, thoát nước và Nhà nước. Xây dựng cơ chế, chính sách huy động các nguồn lực đầu tư và vận hành công trình cấp, thoát nước; hỗ trợ đầu tư công trình cấp, thoát nước nông thôn, các khu vực khó khăn về nguồn nước, dân cư phân tán.

Đại diện Bộ Xây dựng phát biểu tại phiên họp.

Dự thảo Luật Cấp, thoát nước gồm 08 chương, 65 điều, bố cục như sau: Chương I: Những quy định chung (gồm 11 điều, từ Điều 1 đến Điều 11); Chương II: Chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển cấp, thoát nước (gồm 09 điều, từ Điều 12 đến Điều 20): quy định về hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu cấp, thoát nước; chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển cấp, thoát nước; Chương III: Đầu tư phát triển hệ thống cấp, thoát nước (gồm 07 điều, từ Điều 21 đến Điều 27): quy định về đầu tư phát triển hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước; Chương IV: Quản lý vận hành và khai thác hệ thống cấp, thoát nước (gồm 15 điều, từ Điều 28 đến Điều 42): quy định về quản lý vận hành và khai thác hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước; Chương V: Dịch vụ cấp, thoát nước (gồm 08 điều, từ Điều 43 đến Điều 50): quy định về dịch vụ cấp nước, dịch vụ thoát nước; Chương VI: Giá nước sạch và giá dịch vụ thoát nước (gồm 08 điều, từ Điều 51 đến Điều 59): quy định về giá nước sạch và giá dịch vụ thoát nước; Chương VII: Trách nhiệm quản lý nhà nước về cấp, thoát nước (gồm 03 điều, từ Điều 60 đến Điều 62); Chương VIII: Điều khoản thi hành (gồm 03 điều, từ Điều 63 đến Điều 65).

Trao đổi, thảo luận tại phiên họp, đại diện Bộ Tài chính đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo làm rõ nội dung về miễn, giảm trong phương án giá nước sạch của tài sản công trình cấp nước đầu tư. Đại biểu cho rằng, trên thực tế chỉ miễn, giảm trên giá nước sạch chứ không miễn, giảm trên dự án đầu tư có nguồn vốn nhà nước. Đối với khoản 7 Điều 32 dự thảo Luật, đại biểu đề nghị sửa nội dung “Việc quản lý tài sản công trình cấp nước là tài sản công được thực hiện theo quy định của Luật này và Luật Quản lý, sử dụng tài sản công” thành “Việc quản lý tài sản công trình cấp nước là tài sản công được thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật quản lý, sử dụng tài sản công” sẽ bao quát đầy đủ hơn bởi ngoài Luật này, Bộ Tài chính còn có Thông tư số 73/2022/TT-BTC ngày 15/12/2022 quy định chế độ quản lý, tính hao mòn, trích khấu hao tài sản kết cấu hạ tầng cấp nước sạch và Thông tư số 54/2013/TT-BTC ngày 04/05/2013 quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung.

Về dự án đầu tư xây dựng công trình cấp nước, đại diện Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng, điểm c khoản 2 Điều 23 dự thảo Luật có nội dung: “Các khu, cụm công nghiệp, khu chế xuất hạn chế đầu tư xây dựng mới công trình nhà máy nước, ưu tiên sử dụng nguồn nước sạch từ công trình cấp nước tập trung trong vùng cấp nước” là chưa phù hợp. Bởi lẽ, hiện nay có rất nhiều công cụ về mặt quy hoạch và cấp phép khai thác nước ngầm để quản lý nội dung của điều khoản này nên nếu sử dụng từ “hạn chế” trong nội dung này sẽ gây khó hiểu cho các doanh nghiệp triển khai trong thực tiễn vì “hạn chế” thì có bị cấm hay không hoặc nếu được làm thì trình tự, thủ tục có gì khó khăn hơn các trường hợp được quy định bình thường không? Vì vậy, đại diện VCCI đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cân nhắc làm rõ điểm này trong dự thảo Luật để tạo thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp trong thực tiễn thi hành. Bên cạnh đó, đại diện VCCI cũng đề nghị làm rõ hơn về quy định hình thức đầu tư theo đối tác công tư trong dự thảo Luật mới chỉ áp dụng cho công trình thoát nước mà chưa quy định liệu có đầu tư theo hình thức đối tác công tư đối với công trình cấp nước.

Về hoạt động tổ chức thực hiện điều tra cơ bản, đại diện Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, Luật Đầu tư công không quy định việc sử dụng vốn chi đầu tư phát triển để thực hiện hoạt động cấp thoát nước, vì vậy, đại diện Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát cân nhắc về việc quy định hoạt động này trong dự thảo Luật bởi nếu quy định sẽ phải chỉnh sửa rất nhiều luật có liên quan đến nội dung này. Về quy hoạch quản lý cấp thoát nước trong vùng quy hoạch đô thị và nông thôn, hiện nay, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt hầu hết các quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh mà trong dự thảo Luật vẫn quy định một số nội dung đối với các hoạt động quy hoạch cấp, thoát nước trong quy hoạch vùng, đại diện Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát lại nội dung này có cần thiết phải quy định trong Luật Cấp, thoát nước hay không, nếu quy định trong Luật này thì sẽ phải thay đổi lại các quy hoạch mà Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt. Liên quan đến kế hoạch phát triển cấp thoát nước cấp tỉnh, trong quá trình thực hiện các thủ tục đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã gặp vướng mắc như kế hoạch phát triển nhà, kế hoạch thực hiện các chủ trương đầu tư, vì vậy, nếu kế hoạch này chỉ đưa ra nhằm thực hiện có giai đoạn, có mục tiêu, có định hướng để thực hiện trong giai đoạn nhất định thì phải xem xét sao cho đơn giản nhất có thể. Nếu đưa vào trong Luật Cấp, thoát nước thì những dự án liên quan đến đầu tư cấp, thoát nước mà phải đánh giá sự phù hợp này sẽ khiến không phù hợp với nội dung về chấp thuận chủ trương đầu tư trong Luật Đầu tư. Vì vậy, đại diện Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát đối với nội dung này. Về nội dung quản lý đầu tư phát triển hệ thống cấp thoát nước, thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư đối với nhà máy cấp thoát nước, hiện nay dự thảo Luật đang nêu những vấn đề quyết định chủ trương đầu tư, đồng thời chấp thuận nhà đầu tư với dự án cấp, thoát nước thì Luật Đầu tư hiện hành đã quy định trình tự, thủ tục và thẩm quyền rồi. vì vậy, cơ quan chủ trì soạn thảo cần rà soát và xem xét có nên quy định những nội dung này trong dự thảo Luật nữa hay không.

Tại phiên họp, góp ý đối với dự thảo Luật Cấp, thoát nước, đại diện Hội Cấp thoát nước Việt Nam cho rằng, đối với nội dung “dịch vụ cấp, thoát nước” trong phần giải thích từ ngữ thì cần bổ sung theo hướng “dịch vụ cấp, thoát, tái sử dụng nước” để phù hợp với xu thế của thế giới. Đối với nội dung “cấp nước trong tình thế cấp thiết” tại khoản 6 Điều 2 dự thảo Luật nên sửa đổi theo hướng “cấp, thoát nước trong tình thế cấp thiết”. Tại khoản 7 Điều 2, đại diện Hội Cấp thoát nước Việt Nam cho biết, “nước thô” là một loại nước rất quan trọng trong các công trình cấp nước, vì vậy, cần phải ghi rõ nguồn nước đã được quy định trong Luật Tài nguyên nước.

Phát biểu tại phiên họp, đại diện Bộ Ngoại giao đề nghị cần nhấn mạnh trong Tờ trình và cả trong dự thảo Luật về tầm quan trọng của nước sạch vì nó liên quan tới người dân, an sinh xã hội, chỉ số phát triển con người, sức khỏe thậm chí là cả an ninh, chính trị, để thống nhất về nhận thức của toàn xã hội về nguồn nước, bên cạnh đó, cần bổ sung điều khoản về tiết kiệm nước. Đại diện Bộ Ngoại giao cũng đề nghị bổ sung điều khoản về giá nước trong dự thảo Luật, cần bảo đảm cơ chế khuyến khích đầu tư nhưng cũng cần bảo đảm đời sống của nhân dân.

Bên cạnh đó, đại diện Bộ Công an cho biết, khoản 4 Điều 25 đã quy định về quản lý đầu tư, phát triển hệ thống thoát nước có nội dung “Dự án khu đô thị mới, khu chức năng phải có công trình điều hòa nước mưa bảo đảm thoát nước mưa chống ngập trong phạm vi của dự án”, đại diện Bộ Công an đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu bổ sung nội dung về tiêu chuẩn, điều kiện đối với các công trình điều hòa nước mưa tại các khu đô thị mới. Bên cạnh đó, cơ quan chủ trì soạn thảo cũng cần chỉnh lý tiêu chí xác định công trình cấp, thoát nước đặc biệt quan trọng từ quy mô công suất 100.000 mét khối/ngày lên 300.000 mét khối/ngày bảo đảm xác định đúng với tính chất đặc biệt quan trọng của công trình cấp thoát nước, tránh dàn trải, lãng phí nguồn lực.

Đồng chí Trần Tiến Dũng, Thứ trưởng Bộ Tư pháp phát biểu kết luận phiên họp.

Kết luận phiên họp, đồng chí Trần Tiến Dũng, Thứ trưởng Bộ Tư pháp đánh giá cao Bộ Xây dựng trong việc xây dựng Luật Cấp, thoát nước. Luật Cấp, thoát nước rất phù hợp với chủ trương mới trong xây dựng pháp luật là phạm vi cụ thể và không cần quá rộng. Thứ trưởng nhấn mạnh, Luật Cấp, thoát nước là luật rất quan trọng, tác động trực tiếp đến từng người dân, doanh nghiệp, bên cạnh đó, còn tác động đến an ninh nguồn nước, chính vì vậy, với tư duy xây dựng pháp luật mới của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, đặc biệt của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Thứ trưởng đề nghị cần cân nhắc thêm nội dung trong Luật nhằm kiến tạo phát triển và giải phóng nguồn lực để có cơ chế thu hút đầu tư đặc biệt và có cơ chế hỗ trợ cho người yếu thế, đồng bào vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn để người dân những vùng này có nước sạch phục vụ cho đời sống. Bên cạnh đó, Thứ trưởng cũng đề nghị cần đưa thêm một số quy định liên quan đến việc tuyên truyền tiết kiệm, bảo vệ nguồn nước; cần quan tâm đến vấn đề xử lý nước thải; đơn giản hóa các thủ tục đầu tư dự án liên quan tới quy hoạch cấp, thoát nước./.

Hoàng Trung

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật - Kinh nghiệm từ Trung Quốc và gợi mở đối với Việt Nam

Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật - Kinh nghiệm từ Trung Quốc và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút các nguồn lực xã hội vào thực hiện, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Hoàn thiện cơ chế xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là yêu cầu đặt ra trong quá trình sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 nhằm huy động hiệu quả nguồn lực xã hội và đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW[I]. Trên cơ sở phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)[II] (dự thảo Luật) và tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc, nghiên cứu nhận diện những bất cập trong cơ chế xã hội hóa, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Đổi mới tư duy, xây dựng quy trình lập pháp, lập quy hiện đại, chuyên nghiệp

Đổi mới tư duy, xây dựng quy trình lập pháp, lập quy hiện đại, chuyên nghiệp

Sáng ngày 07/8, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo Luật về văn bản quy phạm pháp luật. Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì có Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Nguyễn Quốc Hoàn.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới

Hoàn thiện quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới

Trong khuôn khổ Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng ngày 05/8, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày Tờ trình về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) và Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh trình bày Báo cáo thẩm tra về dự án Luật.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Xác định pháp luật là công cụ hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của Đảng và Nhà nước

Xác định pháp luật là công cụ hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của Đảng và Nhà nước

Chiều ngày 06/8, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng làm việc với Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý về Đề án "Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới". Tham dự buổi làm việc có Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú; đại diện Lãnh đạo một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp cùng các chuyên gia, nhà khoa học.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Làm rõ cơ chế phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công trình liên quan đến an ninh quốc gia

Làm rõ cơ chế phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công trình liên quan đến an ninh quốc gia

Sáng ngày 06/8, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì cuộc họp thẩm định hồ sơ dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. Tham dự cuộc họp có đại diện các bộ, ngành có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: