Thứ tư 26/08/2026 01:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chỉ số cải cách hành chính của Bộ Tư pháp - Thực trạng và giải pháp

Có thể nói, trong những năm quan, cải cách hành chính nói chung và cải cách thủ tục hành chính nói riêng luôn là nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, chỉ đạo

Có thể nói, trong những năm quan, cải cách hành chính nói chung và cải cách thủ tục hành chính nói riêng luôn là nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, chỉ đạo. Việc xác định chỉ số cải cách hành chính thể hiện quyết tâm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc đổi mới công tác quản lý theo dõi, đánh giá để đảm bảo nâng cao chất lượng, hiệu quả trong thực hiện chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2011 - 2020.

Về mặt thực tiễn, chỉ số cải cách hành chính là công cụ quản lý mới có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện qua một số nội dung cơ bản như: (i) Chỉ số cải cách hành chính đánh giá toàn diện, thực chất, khách quan kết quả cải cách hành chính của các bộ, cơ quan ngang bộ, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Trong đó, coi trọng việc tự đánh giá của cơ quan quản lý hành chính và đánh giá của các cơ quan, tổ chức bên ngoài. Nhất là đối với những doanh nhân, doanh nghiệp, người dân là những đối tượng trực tiếp thụ hưởng sự phục vụ của các cơ quan hành chính; (ii) Thông qua chỉ số cải cách hành chính có thể đánh giá đúng mặt mạnh, mặt yếu của việc thực hiện cải cách hành chính, thông qua đó sẽ giúp cho các bộ, cơ quan ngang bộ, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có cơ sở xem xét, đánh giá điều chỉnh mục tiêu nội dung cải cách hành chính hàng năm, đồng thời đề ra các giải pháp thích hợp đảm bảo ngày càng nâng cao kết quả của công tác cải cách hành chính của bộ, ngành địa phương; (iii) Xác định chỉ số cải cách hành chính theo các tiêu chí, định lượng cụ thể trên cơ sở đó giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thể so sánh, đánh giá, xếp loại kết quả cải cách hành chính hàng năm của mình.

1. Chỉ số cải cách hành chính cấp bộ

Quyết định số 2678/QĐ-BNV ngày 25/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ phê duyệt Đề án xác định chỉ số cải cách thủ tục hành chính của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định cụ thể về cấu trúc, đối tượng và phương pháp xác định chỉ số cải cách hành chính cấp bộ, cụ thể:

Thứ nhất, về cấu trúc chỉ số cải cách hành chính cấp bộ: Bộ tiêu chí xác định chỉ số cải cách hành chính cấp bộ được cấu trúc thành 07 lĩnh vực đánh giá, 39 tiêu chí và 88 tiêu chí thành phần với tổng số điểm 100 điểm (trong đó, điểm chấm thẩm định là 62.5 điểm, điểm đánh giá qua điều tra xã hội học là 37.5 điểm). Cụ thể: (i) Công tác chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính (06 tiêu chí và 06 tiêu chí thành phần) là 10.5 điểm; (ii) Xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ (07 tiêu chí và 12 tiêu chí thành phần) là 16.5 điểm; (iii) Cải cách thủ tục hành chính (05 tiêu chí và 14 tiêu chí thành phần) là 15.5 điểm; (iv) Cải cách tổ chức bộ máy hành chính (04 tiêu chí và 11 tiêu chí thành phần) là 12.5 điểm; (v) Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức (08 tiêu chí và 13 tiêu chí thành phần) là 16 điểm; (vi) Cải cách tài chính công (04 tiêu chí và 14 tiêu chí thành phần) là 13.5 điểm; (vii) Hiện đại hóa hành chính (05 tiêu chí và 18 tiêu chí thành phần) là 15.5 điểm.

Thứ hai, phương pháp đánh giá, xác định chỉ số cải cách hành chính cấp bộ: (i) Tự đánh giá(các bộ tự theo dõi, đánh giá và cho điểm kết quả thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính theo tiêu chí được quy định trong chỉ số cải cách hành chính cấp bộ và hướng dẫn của Bộ Nội vụ); (ii) Bộ Nội vụ thẩm định điểm số tự đánh giá của các bộ với sự tư vấn của hội đồng thẩm định; (iii) Đánh giá thông qua điều tra xã hội học.

2. Chỉ số cải cách hành chính của Bộ Tư pháp năm 2018

2.1. Bộ Tư pháp tăng giá trị điểm cũng như thăng hạng trong đánh giá chỉ số cải cách hành chính cấp bộ

Năm 2018, tổng số điểm chỉ số cải cách hành chính là 86.53/100 điểm, xếp thứ 03/18 bộ. Trong đó, điểm do Bộ Nội vụ tổng hợp, thẩm định trên cơ sở tự chấm điểm là 56.80/62.5 điểm, xếp thứ 03/18 bộ; điểm đánh giá qua điều tra xã hội học là 29.74/37.5 điểm, xếp thứ 08/18 bộ. Kết quả cụ thể trên 07 lĩnh vực là: Công tác chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính là 9.5/10.5 điểm (Bộ Tư pháp bị trừ 01 điểm đối với tiêu chí thực hiện các nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao năm 2018); xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ là 14.36/16.5 điểm; cải cách thủ tục hành chính là 13.57/15.5 điểm; cải cách tổ chức bộ máy hành chính là 10.81/12.5 điểm; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chứclà 14.9/16 điểm; cải cách tài chính công là 11.68/13.5 điểm; hiện đại hóa hành chính là 11.71/15.5 điểm.

Có thể thấy rằng, đây là năm thứ 3 liên tiếp Bộ Tư pháp tăng giá trị điểm cũng như thăng hạng trong đánh giá chỉ số cải cách hành chính cấp bộ (năm 2015 đạt 78.27/100 điểm, xếp thứ 9; năm 2016 đạt 82.90/100 điểm, xếp thứ 6; năm 2017 đạt 83.93/100 điểm, xếp thứ 4).

Để đạt được những kết quả như trên thể hiện sự quyết tâm và chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo Bộ cũng như sự nỗ lực của các đơn vị thuộc Bộ. Tổng giá trị điểm số của Bộ Tư pháp đều tăng giá trị đối với điểm chấm qua thẩm định cũng như đánh giá điều tra xã hội học. Phân tích 07 lĩnh vực đánh giá chỉ số cải cách cấp bộ năm 2018 có thể thấy rằng, công tác chỉ đạo điều hành cải cách hành chính và xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức là 02 lĩnh vực dẫn đầu trong các lĩnh vực cải cách hành chính của Bộ đạt tỷ lệ hoàn thành trên 90% theo yêu cầu, riêng lĩnh vực xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức đạt 100% số điểm chấm thẩm định. Bên cạnh việc có nhiều kết quả khả quan trong các nội dung cải cách hành chính thuộc diện chấm điểm thẩm định thì Bộ Tư pháp cũng đạt giá trị điểm cũng như vị trí xếp hạng cao hơn ở nội dung đánh giá thông qua điều tra xã hội học.

2.2. Một số hạn chế trong việc thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính của Bộ Tư pháp

Mặc dù, Bộ Tư pháp đứng thứ 3, nhưng điểm tuyệt đối cách xa so với đơn vị đứng thứ 2 và đứng rất gần với đơn vị đứng thứ 4. Điều đó cho thấy rằng, việc thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính của Bộ Tư pháp còn một số hạn chế, cụ thể như:

Một là, việc thực hiện nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao chưa đạt tiến độ như yêu cầu.

Hai là, các đơn vị thực hiện không đầy đủ hoặc không đúng quy định việc xin lỗi người dân, tổ chức các trường hợp trễ hẹn trong giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính.

Ba là, việc thực hiện giải ngân kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước năm 2018 chưa đạt 100% theo yêu cầu; đồng thời, Bộ cũng chưa thực hiện đầy đủ các kiến nghị sau thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhà nước về tài chính, ngân sách và ban hành chưa kịp thời quy định về phân cấp quản lý tài sản công thuộc phạm vi quản lý nhà nước theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.

Bốn là, cổng dịch vụ công của Bộ Tư pháp chưa đáp ứng đầy đủ các chức năng và yêu cầu kỹ thuật theo quy định.

Năm là, số lượng hồ sơ thủ tục hành chính trực tuyến mức độ 3, 4 phát sinh còn thấp; số lượng đơn vị thực hiện đúng duy trì, cải tiến ISO 9001:2008 theo quy định còn chưa đạt 100% yêu cầu.

3. Giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả công tác cải cách hành chính của Bộ Tư pháp trong thời gian tới

- Đối với các bộ, ngành có liên quan: Cần tiếp tục quan tâm, phối hợp chặt chẽ, kịp thời với Bộ Tư pháp trong việc thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính. Cụ thể:

+ Bộ Nội vụ: Tiếp tục phối hợp với Bộ Tư pháp để xác định các tiêu chí, tiêu chí thành phần thuộc lĩnh vực cải cách thể chế đưa vào nội dung chấm điểm chỉ số cải cách hành chính; đồng thời, tham mưu sớm ban hành chỉ số cải cách hành chính để các bộ, địa phương chủ động triển khai thực hiện.

+ Văn phòng Chính phủ: Trong thời gian tới, tiếp tục phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc thực hiện các nhiệm vụ về kiểm soát thủ tục hành chính, trong đó đặc biệt là việc hoàn thiện Cổng dịch vụ công của Bộ.

+ Bộ Khoa học và Công nghệ: Tiếp tục phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc triển khai xây dựng mới Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2015 trong năm 2010.

+ Bộ Thông tin và Truyền thông: Cần nghiên cứu thêm đối với tiêu chí về tỷ lệ thủ tục hành chính cung cấp trực tuyến có phát sinh hồ sơ khi chấm điểm chỉ số cải cách hành chính. Hiện nay, việc thực hiện thủ tục hành chính theo phương thức nào là sự lựa chọn của người dân, cơ quan hành chính nhà nước chỉ đảm bảo các điều kiện thiết yếu để cung cấp dịch vụ. Do đó, việc trừ điểm các cơ quan hành chính nhà nước do không phát sinh hồ sơ thủ tục hành chính là chưa hợp lý. Bên cạnh đó, nếu đưa những dịch vụ công không phát sinh hồ sơ ra khỏi danh mục dịch vụ công cung cấp trực tuyến mức độ 3, 4 thì không đảm bảo các giải pháp chủ yếu tại Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử.

- Đối với các đơn vị thuộc Bộ:

+ Tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ tại Kế hoạch cải cách hành chính năm 2019 của Bộ Tư pháp (ban hành kèm theo quyết định số 3110/QĐ-BTP ngày 28/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp), gắn với việc thực hiện nhiệm vụ của cách hành chính trong công tác chuyên môn và coi đây là nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài của đơn vị mình. Đồng thời, nghiên cứu lồng ghép các nhiệm vụ cải cách hành chính vào kế hoạch công tác hàng năm của đơn vị, trong đó xác định rõ các nhiệm vụ cải cách hành chính trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với lộ trình cải cách chung của Chính phủ, của Bộ, ngành và với điều kiện cụ thể của từng đơn vị và chú trọng hơn nữa việc kiểm tra, theo dõi, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính tại đơn vị. Trong đó, cần đặc biệt lưu ý các nhóm việc liên quan đến chấm điểm chỉ số cải cách hành chính cấp bộ, qua đó, phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những nội dung cải cách hành chính còn bị trừ điểm.

+ Tích cực phối hợp với Văn phòng Bộ trong việc đề xuất nhiệm vụ cải cách hành chính hàng năm của Bộ; cung cấp đầy đủ, kịp thời tài liệu kiểm chứng để phục vụ chấm điểm chỉ số cải cách hành chính; tiếp tục nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung chỉ số cải cách hành chính theo đề nghị của Bộ Nội vụ.

+ Chú trọng việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác chỉ đạo, điều hành, quản lý và giải quyết các công việc; thực hiện đồng bộ, hiệu quả việc sử dụng chữ ký số và gửi nhận văn bản điện tử tại Bộ Tư pháp theo đúng yêu cầu tại Quyết định số 569/QĐ-BTP ngày 11/3/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Bùi Huyền






[1] Bài viết sử dụng số liệu trong tài liệu Tọa đàm “Đánh giá, rút kinh nghiệm về chỉ số cải cách hành chính năm 2018” do Bộ Tư pháp tổ chức tại Hà Nội ngày 19/7/2019.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.

Theo dõi chúng tôi trên: