Thứ năm 30/04/2026 21:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các chủ thể trong hoạt động thu hồi tài sản của các vụ án hình sự về kinh tế, tham nhũng

Trong những năm qua, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng và thu hồi tài sản tham nhũng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, thể hiện qua nhiều Văn kiện của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước. Mặc dù vậy đến nay, công tác thu hồi tài sản trong các vụ án kinh tế, tham nhũng vẫn là một việc khó, còn nhiều hạn chế. Bài viết sơ lược về việc thu hồi tài sản, các chủ thể thực hiện chức năng thu hồi tài sản trong các vụ án kinh tế, tham nhũng, đồng thời, phân tích một số hạn chế trong việc phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các chủ thể trong công tác này, trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những kiến nghị, đề xuất.


1. Khái quát về thu hồi tài sản và các chủ thể thực hiện chức năng thu hồi tài sản trong các vụ án kinh tế, tham nhũng
Từ năm 2018, ở Việt Nam sử dụng nhiều thuật ngữ thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án kinh tế, tham nhũng. Đây là khái niệm mang tính chính trị pháp lý nhiều hơn tính pháp lý thuần túy[1]. Đến nay, chưa có định nghĩa cụ thể về “các tội phạm về tham nhũng, kinh tế” mà chỉ được xác định thông qua rà soát, nghiên cứu danh mục các vụ việc thuộc Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng theo dõi, chỉ đạo. Do đó, các tội phạm về kinh tế, tham nhũng trong phạm vi nghiên cứu của bài viết này được hiểu là “các tội phạm tham nhũng, các tội phạm kinh tế do người có chức vụ quyền hạn cao trong bộ máy nhà nước thực hiện, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng và một số tội phạm khác gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng hoặc người có chức vụ quyền hạn thực hiện hoặc có liên quan (bảo kê, tiếp tay) của người có chức vụ, quyền hạn”[2]. Sự chưa thống nhất về nội hàm “các tội phạm tham nhũng, kinh tế” nên dưới góc độ nghiên cứu và thống kê số liệu báo cáo gặp rất nhiều khó khăn[3].
Thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án kinh tế là việc các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm phát hiện, truy tìm, ngăn chặn tẩu tán tài sản và xử lý tài sản có được từ hành vi phạm tội về tham nhũng, kinh tế; tài sản đã bị tẩu tán, biến đổi và mọi lợi nhuận phát sinh từ tài sản có nguồn gốc từ hành vi tham nhũng. Vì vậy, để bảo đảm hiệu quả thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế thì cơ quan có thẩm quyền cần nhận diện đúng, đầy đủ các tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án tham nhũng, kinh tế và các tài sản có được do “đổi trác” những tài sản do phạm tội này mà có.
1.1. Các chủ thể thực hiện chức năng thu hồi tài sản trong các vụ án kinh tế, tham nhũng
Theo quy định hiện hành, các cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng thu hồi tài sản trong các vụ án kinh tế, tham nhũng hiện nay có thể được chia thành 03 nhóm: (i) Các cơ quan “tiền tố tụng” như cơ quan thanh tra, kiểm toán; (ii) Các cơ quan tố tụng hình sự như cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án; (iii) Cơ quan thi hành án dân sự - là các cơ quan được pháp luật quy định có thẩm quyền xử lý tài sản kê biên để thi hành án. Từ đó cho thấy, việc thu hồi tài sản tham nhũng hiện nay được pháp luật hiện hành đang trao quyền cho cơ quan thanh tra, kiểm toán thẩm quyền thu hồi tài sản bằng một quyết định hành chính hoặc các cơ quan tố tụng hình sự, cơ quan thi hành án thông qua bản án có hiệu lực của Tòa án.
1.2. Cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan, tổ chức trong công tác thu hồi tài sản đối với các vụ án kinh tế, tham nhũng
Phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực là nguyên tắc tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam[4]. Theo đó, phân công là phân chia công việc thành từng phần, giai đoạn, quy trình và làm rõ điều kiện tiến hành, các nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn cần có để thực hiện từng phần đó để giao cho các cơ quan, tổ chức thực hiện. Dưới góc độ thu hồi tài sản trong các vụ án kinh tế, tham nhũng các cơ quan được phân công thực hiện gồm:
Cơ quan kiểm toán, thanh tra: Luật Kiểm toán Nhà nước đã quy định nhiệm vụ của kiểm toán nhà nước khi phát hiện vi phạm pháp luật thì cơ quan kiểm toán chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan khác của Nhà nước có thẩm quyền xem xét, xử lý những vụ việc có dấu hiệu của tội phạm, vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân đã được phát hiện thông qua hoạt động kiểm toán[5].
Luật Thanh tra quy định người ra quyết định thanh tra có thẩm quyền quyết định thu hồi tiền, tài sản bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép hoặc bị thất thoát do hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng thanh tra gây ra[6]. Đồng thời, khi kết luận thanh tra phải xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật; biện pháp xử lý theo thẩm quyền và kiến nghị biện pháp xử lý[7].
Các cơ quan tố tụng hình sự: Gồm cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra được giao (được phân công) thực hiện thẩm quyền tố tụng hình sự trong truy tìm, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản. Đây là giai đoạn đầu tiên khi Nhà nước bắt đầu tiến hành điều tra, xử lý vụ việc, có tầm quan trọng đặc biệt, quyết định đến hiệu quả công tác thu hồi tài sản.
Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát quá trình điều tra, xét xử và thi hành án. Trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sát, Viện kiểm sát cũng có quyền kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản khi phát hiện tài sản của đối tượng hoặc các tài sản liên quan.
Tòa án thực hiện chức năng xét xử vụ án: Kết án người phạm tội và quyết định “số phận” các tài sản mà cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, kê biên, phong tỏa trong quá trình thực hiện điều tra, truy tố. Trong quá trình xét xử, Tòa án cũng có quyền kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản khi phát hiện tài sản của đối tượng hoặc các tài sản liên quan và quyết định xử lý.
Cơ quan thi hành án dân sự: Thực hiện chức năng thi hành án, được phân công xác minh, tổ chức thẩm định giá, bán đấu giá tài sản đã được kê biên trước đó; ngoài ra có thẩm quyền xác minh, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản theo quy định của pháp luật khi phát hiện tài sản của người bị kết án hoặc người liên quan để bảo đảm thi hành án.
Phối hợp thực hiện một việc/hoạt động được hiểu là công việc đó không thể do một cơ quan, một người thực hiện mà cần có nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau cùng thực hiện trên cơ sở quy trình, kế hoạch chung. Dưới góc độ thu hồi tài sản trong các vụ án kinh tế, tham nhũng, các biểu hiện phối hợp giữa các cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và thi hành án được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự và quy chế phối hợp liên ngành[8]. Ngoài ra, sự phối giữa cơ quan thanh tra, kiểm toán và các cơ quan tố tụng được thể hiện trong quy định của pháp luật về thanh tra, kiểm toán, luật tố tụng hình sự. Việc phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan tố tụng hình sự trong thu hồi tài sản trong các vụ án kinh tế, tham nhũng được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự và quy chế phối hợp liên ngành[9].
Để việc kiểm soát trong thực hiện quyền lực nhà nước được thực hiện tốt nhất thông qua việc phân công rành mạch chức năng, nhiệm vụ giữa cơ quan, tổ chức, dưới góc độ thu hồi tài sản trong các vụ án kinh tế, tham nhũng, cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát của các cơ quan nhà nước thể hiện ở các khâu:
Trong quá trình thanh tra, kiểm toán mà phát hiện dấu hiệu tội phạm nói chung và tội phạm tham nhũng, kinh tế, thì cơ quan tranh tra, kiểm toán cần: (i) Kịp thời kê biên, phong tỏa tài sản của người có dấu hiệu phạm tội; (ii) Kịp thời chuyển hồ sơ và các lệnh kê biên, phong tỏa tài sản cho cơ quan điều tra để xử lý theo thẩm quyền; (iii) Cơ quan điều tra có trách nhiệm tiếp nhận và tiến hành điều tra vụ việc; (iv) Kết quả điều tra phải được thông báo cho cơ quan thanh tra, kiểm toán và Viện kiểm sát cùng cấp biết; (v) Trường hợp không đồng tình với quyết định của cơ quan điều tra, cơ quan thanh tra, kiểm toán có quyền yêu cầu Viện kiểm sát cùng cấp hoặc cấp trên để xem xét lại các quyết định của cơ quan điều tra.
Trong quá trình điều tra, ngoài nhiệm vụ chứng minh tội phạm, người phạm tội, cơ quan điều tra còn có nhiệm vụ: (i) Truy tìm, chứng minh khả năng thu hồi tài sản mà người phạm tội đã chiếm đoạt, gây thất thoát, lãng phí; các lệnh kê biên và biên bản kê biên tài sản phải kịp thời, chính xác và chuyển theo hồ sơ vụ án; (ii) Phối hợp chặt chẽ với Tổ chức cảnh sát quốc tế để điều tra, xác minh tài sản của người phạm tội ở nước ngoài hoặc tài sản do phạm tội đã chuyển ra nước ngoài; (iii) Khi kê biên cần có sự phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn để đảm bảo sự chính xác ngay từ thời điểm kê biên, thuận tiện cho việc xử lý tài sản sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát quá trình điều tra cần yêu cầu cơ quan điều tra ngoài việc chứng minh tội phạm, người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự còn phải yêu cầu cơ quan điều tra truy tìm, chứng minh khả năng thu hồi tài sản mà người phạm tội đã chiếm đoạt, gây thất thoát, lãng phí; trực tiếp xác minh tài sản; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức nước ngoài để thực hiện ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật.
Khi xét xử, Tòa án phải tiếp tục xác minh tài sản của người phạm tội hoặc tài sản do phạm tội mà có tại Tòa án; kiểm tra, đánh giá sự chính xác của các lệnh kê biên, biên bản kê biên; khi tuyên án phải rõ ràng, bảo đảm tính khả thi; kịp thời chuyển hồ sơ cho cơ quan thi hành án dân sự khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Cơ quan thi hành án dân sự kiểm tra tính khả thi của bản án, kịp thời đề nghị Tòa án có văn bản giải thích, đính chính, giám đốc thẩm nếu bản án khó thi hành hoặc không thể thi hành; tổ chức xác minh, truy tìm tài sản; lựa trọn tổ chức thẩm định giá, bán đấu giá tài sản để thu hồi tiền về cho Nhà nước.
2. Thực trạng về phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các chủ thể trong công tác thu hồi tài sản đối với các vụ án kinh tế, tham nhũng
Hoạt động phân công, phối hợp, kiểm soát trong công tác thu hồi tài sản trong các vụ án kinh tế, tham nhũng ngày càng tiến triển theo chiều hướng tích cực, nhiều vụ việc đã được kê biên, phong tỏa rất sớm từ giai đoạn điều tra nên đã ngăn chặn được việc tẩu tán tài sản; nhiều vụ việc đã được cơ quan điều tra động viên đương sự kịp thời nên đã thu được 100% số tiền thất thoát… Tuy nhiên, hoạt động phân công, phối hợp, kiểm soát trong công tác thu hồi tài sản trong các vụ án kinh tế, tham nhũng còn có một số hạn chế sau đây:
- Phối hợp trong việc chuyển giao hồ sơ, kiến nghị xử lý vi phạm của các cơ quan thanh tra, kiểm toán còn rất ít, có tình trạng xử lý “nương nhẹ”, nể nang, thiên về xử lý hành chính là việc các cơ quan thanh tra, kiểm toán phát hiện ra nhiều sai sót nhưng chủ yếu là xử lý hành chính, số vụ việc chuyển cơ quan điều tra rất ít[10].
- Phối hợp trong truy tìm, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản: Đây là khâu quan trọng nhất, quyết định hiệu quả của công tác thu hồi tài sản. Theo quy định, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo cơ quan điều tra trong quá trình điều tra các vụ án hình sự có yếu tố bồi thường tùy theo tính chất của từng vụ án cần chủ động áp dụng biện pháp kê biên tài sản theo Điều 146 Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác xét xử và thi hành án dân sự. Tuy nhiên, một số vụ việc, người phải thi hành án đã lợi dụng để tẩu tán tài sản. Trong quá trình tố tụng, việc kê biên, phong tỏa các tài sản chưa được kịp thời nên đến giai đoạn thi hành án tài sản không đủ để thi hành phần nghĩa vụ[11].
- Phối hợp trong giải thích, sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định; trả lời kiến nghị; thụ lý và giải quyết yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, theo quy chế, Tòa án nhân dân tối cao trực tiếp thực hiện hoặc chỉ đạo Tòa án nhân dân địa phương đã ra bản án, quyết định thực hiện kịp thời việc sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định; trả lời kiến nghị, giải quyết kịp thời các yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự. Tuy nhiên, còn nhiều bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án tuyên không rõ, khó thi hành, thậm chí không thể thi hành được cần phải được giải thích, đính chỉnh, thậm chí giám đốc thẩm bản án.
3. Một số kiến nghị hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp trong công tác thu hồi tài sản của các vụ án hình sự về kinh tế, tham nhũng
Một là, quán triệt nguyên tắc “xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị, khắc phục tình trạng trùng lắp, chồng chéo để một tổ chức, một người có thể đảm nhiệm nhiều việc, nhưng một việc chỉ do một tổ chức, một người chủ trì và chịu trách nhiệm chính. Thực hiện tinh giản biên chế theo đúng mục tiêu đã đề ra”[13].
Hai là, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung pháp luật về thanh tra, kiểm toán, tố tụng hình sự, thi hành án dân sự và các quy định pháp luật liên quan theo hướng bổ sung cho thanh tra viên, kiểm toán viên thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn việc tẩu tán tài sản khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm tham nhũng, kinh tế; xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong việc truy nguyên, truy tìm, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản ngay từ giai đoạn thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử.
Ba là, nâng cao trách nhiệm và hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế; xác định rõ vai trò, trách nhiệm của cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án dân sự, ban chỉ đạo thi hành án dân sự các cấp; kịp thời áp dụng các biện pháp thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, đất đai, phong tỏa tài khoản ngay trong quá trình kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử. Tòa án các cấp thực hiện nghiêm quy định của pháp luật về chuyển giao bản án, tài liệu liên quan đến tài sản bị kê biên, phong tỏa; kịp thời đính chính, giải thích bản án và các kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền; cơ quan thi hành án dân sự kịp thời xử lý theo pháp luật tài sản đã kê biên, phong tỏa, tạm giữ trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, đồng thời tích cực xác minh, truy tìm và xử lý tài sản trong giai đoạn thi hành án.
Bốn là, tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm sát công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế; kịp thời phát hiện, khắc phục những tồn tại, hạn chế, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, xử lý nghiêm những sai phạm, tiêu cực trong công tác thu hồi tài sản. Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể tăng cường giám sát công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế; có cơ chế phát huy hiệu quả vai trò giám sát của nhân dân, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác tài sản bất minh và sai phạm trong công tác thu hồi tài sản tham nhũng.

TS. Trần Văn Dũng
Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp



[1]. Khái niệm này bắt đầu xuất hiện kể từ khi Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng thực hiện kiểm tra về công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế theo Kế hoạch số 192-KH/BCDTW ngày 04/9/2018.
[2]. Trần Văn Dũng, Hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến công tác thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 05 (429), tháng 3/2021.
[3]. Thông tư liên tịch số 06/2016/TTLT-BTP-TATC-VKSTC ngày 31/5/2016 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn phối hợp trong thống kê thi hành án dân sự.
[4]. Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.
[5]. Khoản 12 Điều 10 Luật Kiểm toán Nhà nước.
[6]. Điểm k khoản 1 Điều 48 và điểm i khoản 1 Điều 55 Luật Thanh tra.
[7]. Khoản 2 Điều 50 Luật Thanh tra.
[8]. Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 09/02/2018 của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc quy định phối hợp thực hiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tha tù trước hạn có điều kiện.
[9]. Quy chế phối hợp số 14/2013/QCLN/BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 09/10/2013 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc phối hợp liên ngành trong công tác thi hành án dân sự.
[10]. Xem: “Kiểm toán phát hiện sai phạm nhiều mà số vụ chuyển cơ quan điều tra lại ít”, Báo Thanh niên số ra ngày 14/9/2021.
[11]. Báo cáo số 80/BC-BTP ngày 08/4/2020 của Bộ Tư pháp về kết quả công tác thi hành án dân sự và việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế bảo đảm thu hồi tài sản trong các vụ án hình sự về kinh tế, tham nhũng (phục vụ phiên giải trình của Ủy ban Tư pháp).
[12]. Quy chế số 14/2013/QCLN/BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 09/10/2013 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc phối hợp liên ngành trong công tác thi hành án dân sự.
[13]. Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghip ln thtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, s nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, quyền tiếp cận thông tin là tiền đề quan trọng để người khuyết tật hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, “khoảng cách số” và những khoảng trống của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 làm tăng nguy cơ người khuyết tật bị “bỏ lại phía sau”. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu, nghiên cứu đánh giá thực trạng khung pháp lý cũng như thực tiễn thi hành quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật; từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba điểm nghẽn lớn là thiếu quy định bắt buộc về định dạng thông tin dễ tiếp cận; giới hạn về chủ thể cung cấp thông tin và thiếu cơ chế phối hợp hỗ trợ. Để giải quyết, nghiên cứu đề xuất ba giải pháp trọng tâm: (i) đa dạng hóa phương thức cung cấp qua nền tảng số và bắt buộc cung cấp định dạng chuyên biệt; (ii) mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thiết yếu, thiết lập cơ chế để hệ thống trợ giúp pháp lý trở thành đầu mối hỗ trợ, “phiên dịch” thông tin cho người khuyết tật; (iii) hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thông qua chính sách miễn phí tiếp cận thông tin và đầu tư hạ tầng công nghệ bao trùm.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ Nhất xem xét, thông qua đã quy định phân quyền, phân cấp bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, tạo cơ sở pháp lý cho công tác trợ giúp pháp lý phát triển theo hướng chuyên nghiệp, sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách, góp phần thực hiện chính sách “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa” và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt là nhóm “dễ bị tổn thương”.
Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí như người nghèo, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi… khi tham gia tố tụng với tư cách là đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích liên quan) có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc nhờ trợ giúp pháp lý tham gia bảo vệ theo quy định pháp luật.
Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Chính sách Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật thời gian qua, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã trình Chính phủ về hồ sơ chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Theo đó, việc sửa đổi toàn diện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, chuyển đổi số.
Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng kính mời các chuyên gia, độc giả tham gia viết bài cho ấn phẩm chuyên đề chuyên sâu về truyền thông chính sách và góp ý vào dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.

Theo dõi chúng tôi trên: