Thứ ba 13/01/2026 22:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

1. Kết quả đạt được trong công tác nghiên cứu khoa học pháp lý

Ngày 28/8/2025, đánh dấu mốc tròn 80 năm kể từ ngày Bộ Tư pháp được thành lập (28/8/1945). Trải qua 80 năm xây dựng và phát triển, hòa chung vào những thành tựu đáng tự hào của Bộ, ngành Tư pháp, giới nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp cũng tự hào về những đóng góp quan trọng của mình, nhất là từ khi Bộ Tư pháp được tái lập vào năm 1981, cùng với đó, các tổ chức nghiên cứu khoa học của Bộ được thành lập, củng cố và ngày càng phát triển.

Trong những năm qua, các tổ chức nghiên cứu khoa học thuộc Bộ Tư pháp, gồm Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý (được thành lập từ năm 1983), Trường Đại học Luật Hà Nội (được thành lập từ năm 1979), Học viện Tư pháp (được thành lập từ năm 2004) đã khẳng định được vai trò, vị thế của mình trong quá trình tham mưu thực hiện những nhiệm vụ chính trị, chuyên môn quan trọng của Bộ, ngành Tư pháp. Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các đơn vị xây dựng pháp luật, các đơn vị khác trong và ngoài Bộ Tư pháp, huy động sự tham gia đông đảo của các chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành trong và ngoài Bộ giúp Ban Cán sự Đảng, Đảng ủy, Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực tư pháp, pháp luật, từ cách thể hiện về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong các văn kiện của Đảng, tới các nội dung cụ thể trong Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 theo Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị, Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW), đặc biệt, gần đây là Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66-NQ/TW).

Để có được kho dữ liệu cần thiết phục vụ việc tham mưu các nhiệm vụ chính trị, chuyên môn quan trọng của Bộ, ngành Tư pháp, các tổ chức nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các đơn vị trong và ngoài Bộ, nhất là huy động sự tham gia tâm huyết, trách nhiệm của các chuyên gia, nhà khoa học vào việc triển khai các nhiệm vụ khoa học các cấp. Theo thống kê, tính từ năm 1990 đến nay, Bộ Tư pháp đã tổ chức nghiên cứu trên 700 đề tài, nhiệm vụ khoa học các cấp, trong đó có hàng chục đề tài khoa học cấp nhà nước, hàng trăm đề tài khoa học cấp bộ và cấp cơ sở. Tiêu biểu là các đề tài, nhiệm vụ khoa học cấp nhà nước như: Đề tài “Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới” (năm 2002), “Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” (năm 2003), “Thể chế xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay” (năm 2007), “Nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước, đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” (năm 2009), “Nghiên cứu mô hình xây dựng pháp luật đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” (năm 2011), “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0: Những vấn đề pháp lý cơ bản” (năm 2021); các hội thảo khoa học cấp quốc gia như: “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề pháp lý đặt ra cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam” (năm 2019), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật: Giá trị và thực tiễn vận dụng ở Việt Nam” (năm 2020), “Đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” (năm 2025)… Các kết quả nghiên cứu này gắn liền với tên tuổi các chuyên gia, nhà khoa học, các vị lãnh đạo như: Nguyễn Văn Yểu, Nguyễn Đình Lộc, Uông Chu Lưu, Hà Hùng Cường, Lê Thành Long, Hoàng Thế Liên, Đinh Trung Tụng, Phan Chí Hiếu, Nguyễn Văn Thảo, Nguyễn Đức Tuấn, Nguyễn Tất Viễn, Nguyễn Niên, Lê Minh Tâm, Lê Hồng Hạnh, Nguyễn Ngọc Hòa, Dương Đăng Huệ, Trần Thất, Lê Hồng Sơn, Dương Thị Thanh Mai… và các thế hệ cán bộ khoa học đương nhiệm.

Trong những năm gần đây, Bộ Tư pháp đã hoàn thành một số chương trình nghiên cứu khoa học cấp bộ có giá trị, trong đó, tiêu biểu là chương trình nghiên cứu phục vụ triển khai Hiến pháp năm 2013, Chương trình nghiên cứu khoa học cấp bộ 2017 - 2021: “Những vấn đề pháp lý mới phát sinh trong tư pháp quốc tế và trong khuôn khổ hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế”; Chương trình nghiên cứu khoa học cấp bộ 2018 - 2020: “Cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp theo quy định của Hiến pháp năm 2013”. Hiện, Bộ Tư pháp đang triển khai Chương trình nghiên cứu khoa học cấp bộ 2021 - 2025: “Quản trị nền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Thông qua các nghiên cứu của Bộ Tư pháp, nhận thức về mặt lý luận đối với những vấn đề căn cốt trong việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật, phát triển hệ thống hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp, tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp được nhận diện, đánh giá và đề xuất giải pháp xử lý.

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước
Ảnh do Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý cung cấp

Có thể khẳng định, các nghiên cứu của Bộ Tư pháp đã góp phần làm sáng tỏ bản chất của quyền lập pháp, bản chất của công tác xây dựng pháp luật, nhận diện khá rõ các yếu tố và quy luật vận động, chi phối hiệu quả công tác xây dựng pháp luật, các giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật. Đồng thời, các nghiên cứu của Bộ Tư pháp cũng góp phần làm sáng tỏ hơn nội hàm, bản chất, phạm vi của quyền hành pháp, quyền tư pháp, đánh giá rõ hơn thực trạng cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ở Việt Nam hiện nay, từ đó, có nhiều kiến nghị để góp phần hoàn thiện cơ chế này, bảo đảm sự phân công rõ ràng, rành mạch và kiểm soát hiệu quả hơn giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Các nghiên cứu của Bộ Tư pháp luôn đề cao những giá trị pháp lý cao đẹp trong truyền thống pháp luật của dân tộc, đồng thời, tiếp thu có chọn lọc giá trị tiến bộ, phổ quát của nhân loại phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên trì thúc đẩy tinh thần thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trong xã hội. Đến nay, hầu hết các lĩnh vực công tác chủ chốt của Bộ Tư pháp, từ công tác xây dựng pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp, trợ giúp pháp lý, xây dựng ngành, đào tạo nhân lực pháp luật đều có những đề tài khoa học đặt nền tảng hoặc củng cố thêm nền tảng lý luận và thực tiễn để xây dựng, thực hiện.

Trong những năm qua, các cán bộ nghiên cứu của Bộ Tư pháp đã là chủ biên, tác giả hoặc đồng tác giả của hàng trăm đầu sách chuyên khảo và tham khảo. Trong đó, có nhiều công trình có độ lan tỏa cao, hàng nghìn bài nghiên cứu đã được đăng trên các tạp chí chuyên ngành có uy tín, cùng hơn 370 số thông tin khoa học pháp lý được gửi tới các cơ quan có thẩm quyền để kịp thời thông tin những kết quả nghiên cứu khoa học mới nhất của Bộ Tư pháp. Có thể khẳng định, với những công trình đã công bố, các thế hệ cán bộ đã và đang công tác tại Bộ Tư pháp cùng đội ngũ cộng tác viên rộng lớn là các chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành, đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng tri thức khoa học pháp lý ở Việt Nam những năm qua. Các tạp chí nghiên cứu trong lĩnh vực pháp luật thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp như Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tạp chí Luật học (Trường Đại học Luật Hà Nội), Tạp chí Nghề luật (Học viện Tư pháp) luôn là những tạp chí có uy tín hàng đầu trong giới luật ở Việt Nam.

Công tác quản lý khoa học được thực hiện bài bản, nền nếp, đúng quy định của Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, các văn bản hướng dẫn thi hành và quy chế quản lý khoa học của Bộ Tư pháp.

2. Những yêu cầu đặt ra

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm, “then chốt” mà các tổ chức nghiên cứu khoa học trong Bộ Tư pháp xác định trong thời gian tới chính là thực hiện thật tốt các hoạt động nghiên cứu để phục vụ việc triển khai Nghị quyết số 27-NQ/TW và Nghị quyết số 66-NQ/TW đạt chất lượng, hiệu quả cao nhất.

Thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục triển khai các chương trình, nhiệm vụ nghiên cứu tổng kết lý luận và thực tiễn xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, thực tiễn nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, từ đó, đúc rút những bài học kinh nghiệm cần thiết, tiếp tục hoàn thiện tầm nhìn, định hướng, giải pháp cho các vấn đề pháp luật, tư pháp phục vụ quá trình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển bứt phá của đất nước.

Cùng với tiến trình phát triển của đất nước, bên cạnh những cơ hội luôn có những khó khăn, thách thức mới đặt ra. Để giữ tâm thế chủ động, giới khoa học pháp lý, trong đó có những cán bộ nghiên cứu tại Bộ Tư pháp cần dự liệu và chuẩn bị sẵn sàng cho xử lý những vấn đề pháp lý mới phát sinh. Bên cạnh đó, thực tiễn cũng đặt ra yêu cầu bức thiết cần phải xây dựng, phát triển lý luận pháp luật mang bản sắc của nền pháp luật Việt Nam, xuất phát từ “mảnh đất thực tiễn Việt Nam”, phản ánh quy luật phát triển của xã hội Việt Nam hiện nay để quay trở lại soi sáng, dẫn đường về phương diện pháp lý cho tiến trình cải cách, đổi mới của đất nước, tránh sự “ngập ngừng” làm mất cơ hội và cũng tránh tình trạng du nhập thiếu chọn lọc những kinh nghiệm pháp lý không phù hợp. Mặt khác, tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng cũng đặt ra yêu cầu đẩy nhanh việc đưa tiếng nói của giới khoa học pháp lý Việt Nam trên các diễn đàn học thuật quốc tế để hòa chung vào dòng chủ lưu kiến tạo, định hình khuôn khổ luật lệ toàn cầu, tương xứng với vai trò, vị thế quốc tế ngày càng gia tăng của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Với những thành tựu đã đạt được và bề dày kinh nghiệm nhiều thập kỷ tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học, sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của Đảng ủy, Lãnh đạo Bộ Tư pháp, sự chung tay của các đơn vị trong và ngoài Bộ Tư pháp, cùng sự ủng hộ của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn, chắc chắn hoạt động nghiên cứu chiến lược, chính sách, khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong chặng đường sắp tới, góp phần xứng đáng vào sự phát triển của Bộ, ngành Tư pháp và nền khoa học pháp lý của Việt Nam./.

TS. Nguyễn Văn Cương

Viện trưởng Viện chiến lược và Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật ấn phẩm đặc biệt “Ngành Tư pháp - Tự hào truyền thống, vững bước tương lai”)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.

Theo dõi chúng tôi trên: