Thứ ba 08/09/2026 17:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đánh giá việc thực thi một số quy định của Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật[1]

Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 qua gần 17 năm thi hành đã bộc lộ những bất cập, vướng mắc cần thiết phải được đánh giá việc thực thi đối với một số quy định, từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật này cho phù hợp.

1. Tình hình thực thi một số quy định của Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

1.1. Quy định về quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác

Điều 5 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 quy định: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể của mình khi còn sống, sau khi chết và hiến xác”. Thời gian qua, việc thực thi quy định về độ tuổi hiến mô, bộ phận cơ thể người đã bộc lộ một số vướng mắc, bất cập cụ thể như sau:

- Về độ tuổi người hiến mô, bộ phận cơ thể người sau khi chết: Thời gian qua, có rất nhiều trường hợp người dưới 18 tuổi và gia đình của họ có nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể cho người dưới 18 tuổi sau khi chết não, tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa cho phép nên người dưới 18 tuổi chưa thể thực hiện được nguyện vọng này. Điều này dẫn đến hạn chế nguồn mô, bộ phận cơ thể từ người chết não cho người bệnh dưới 18 tuổi. Trong khi đó, tại Việt Nam, hiện nay, có hàng nghìn bệnh nhân là trẻ em bị suy mô, tạng đang chờ ghép tại các bệnh viện.

- Về độ tuổi hiến mô, bộ phận cơ thể người khi còn sống: Theo số liệu thống kê, tính từ khi bắt đầu ghép đến ngày 31/7/2023, tổng số ca ghép tạng thực hiện tại Việt Nam là 7.824 ca[2], trong đó, có hơn 450 ca ghép từ người cho chết não, chiếm tỷ lệ 5,8% và số ca ghép từ người cho sống ở nước ta đang rất cao với 7.360 ca, chiếm hơn 94%. Tỷ lệ người hiến sống đang chiếm chủ yếu trong các ca ghép tạng ở Việt Nam đang đi ngược lại so với xu hướng chung của thế giới và tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ về suy thận, gan, phổi cho người hiến trong tương lai, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, học lập, lao động và tốn kém các chi phí trong chăm sóc, theo dõi định kỳ sau khi hiến của người hiến sống. Trước thực trạng tỷ lệ người hiến sống đang chiếm chủ yếu sẽ tiềm ẩn nguy cơ rất lớn về mua bán mô, bộ phận cơ thể người, từ đó ảnh trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của người hiến.

Đồng thời, qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế cho thấy, việc quy định chung độ tuổi người hiến mô, bộ phận cơ thể người khi còn sống là chưa hợp lý, vì người hiến mô (tế bào gốc, tiểu cầu...) có thể dưới 18 tuổi do mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe từ việc hiến ít hơn so với hiến bộ phận cơ thể người, trong khi đó, người hiến bộ phận cơ thể người (thận, gan...) khi còn sống sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người hiến.

1.2. Quy định về thông tin, tuyên truyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác

Trong thời gian qua, các cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình đã tổ chức thực hiện các hoạt động thông tin, tuyên truyền về mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy, nghiên cứu khoa học và ý nghĩa của việc hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác. Trong đó, Trung tâm Điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người đã rất tích cực trong hoạt động thông tin, tuyên truyền, vận động hiến, ghép mô, bộ phận cơ thể người dưới nhiều hình thức khác nhau để tạo sự quan tâm của toàn xã hội, góp phần quan trọng vào việc nâng cao nhận thức, hiểu biết của người dân đối với hoạt động hiến, ghép mô, bộ phận cơ thể người ở nước ta.

Hoạt động thông tin, tuyên truyền về hiến mô, bộ phận cơ thể người trong những năm qua đã có những bước phát triển mạnh mẽ, bước đầu tạo được hiệu ứng tốt đẹp, được đa số người dân hưởng ứng. Theo đó, số lượng người đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể người sau khi chết, chết não đã tăng rất nhanh qua các năm (năm 2018: 19.985 người; năm 2019: 30.823 người; năm 2020: 40.257 người; năm 2021: 46.171 người; năm 2022: 63.552 người và tính đến ngày 22/8/2023, cả nước có 71.157 trường hợp)[3]. Việc thông tin về giá trị, ý nghĩa của việc hiến tặng mô, bộ phận cơ thể người vì mục đích nhân đạo, cũng như việc hướng dẫn về quyền, nghĩa vụ, quy trình, thủ tục đăng ký hiến tặng mô, bộ phận cơ thể người đã từng bước được phổ biến và cập nhật rộng rãi trong xã hội, giúp người dân hiểu rõ hơn ý nghĩa nhân văn của hoạt động này, góp phần đáng kể vào sự gia tăng mạnh mẽ số ca ghép mô, bộ phận cơ thể người trong thời gian vừa qua.

Tuy nhiên, quy định về thông tin, tuyên truyền về hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 còn một số bất cập như: Chưa có quy định về chức năng, nhiệm vụ cụ thể của các tổ chức, các cấp ngành, đoàn thể như vai trò nòng cốt của Hội Chữ thập đỏ các cấp và hệ thống truyền thông y tế trong công tác truyền thông, vận động hiến tặng mô, tạng; chưa có quy định về nội dung và các điều kiện bảo đảm cho công tác truyền thông, vận động hiến tặng mô, bộ phận cơ thể người. Do đó, trong quá trình tổ chức thực hiện hoạt động thông tin, tuyên truyền về hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác còn có sự tùy nghi, chưa được các cơ quan, tổ chức liên quan quan tâm đúng mức. Theo kết quả khảo sát tại 07 tỉnh, thành phố (Thái Nguyên, Phú Thọ, Thành phố Hà Nội, Thanh Hóa, Huế, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh) thì phần lớn công tác thông tin, tuyên truyền về hiến mô, bộ phận cơ thể người chưa được các tổ chức đoàn thể của tỉnh thực hiện, Sở Y tế các tỉnh, thành phố đi khảo sát cũng chưa có sự chỉ đạo, phối hợp trong công tác này mà chủ yếu được một số bệnh viện lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người trên địa bàn tỉnh thực hiện trong khuôn khổ cho đối tượng nhân viên, người bệnh tại bệnh viện.

1.3. Quy định về chết não

Thực tiễn triển khai quy định về chết não trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 và văn bản hướng dẫn thi hành còn tồn tại một số bất cập sau đây:

- Về chuyên gia xác định chết não: Theo quy định của Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006, để xác định được chết não phải có đủ 03 chuyên gia bao gồm bác sỹ hồi sức cấp cứu, bác sỹ thần kinh hoặc phẫu thuật thần kinh và chuyên gia giám định pháp y. Tuy nhiên, quy định về chuyên gia giám định pháp y trong Luật còn chưa phù hợp, bởi vì, về bản chất, các tiêu chuẩn cận lâm sàng của xác định chết não khác với tiêu chuẩn cận lâm sàng của người đã chết hẳn (tim ngừng đập), do đó, vừa không phát huy được chuyên môn của bác sỹ pháp y, vừa gây khó khăn cho các cơ sở y tế trong việc mời bác sỹ pháp y tham gia trong hội đồng xác định chết não. Đồng thời, quy định về thành phần chuyên gia xác định chết não theo Luật này còn thiếu chuyên gia của một số lĩnh vực liên quan đến đánh giá các tiêu chuẩn lâm sàng, cận lâm sàng trong chẩn đoán xác định chết não như chuyên gia về chẩn đoán hình ảnh.

- Về tổ chức xác định chết não: Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 quy định mô hình tổ chức xác định chết não là danh sách chuyên gia tham gia xác định chết não. Tuy nhiên, qua khảo sát, đánh giá thực tiễn cho thấy, mô hình tổ chức chẩn đoán xác định chết não hiện nay ở các cơ sở lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người là khác nhau, có cơ sở thì tổ chức theo mô hình hội đồng chẩn đoán xác định chết não và một số cơ sở tổ chức theo mô hình nhóm chuyên gia xác định chết não (đa phần hiện nay các cơ sở lấy, ghép đang tổ chức theo mô hình này). Mặc dù, Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 đã có quy định việc xác định chết não phải được thực hiện độc lập bởi 03 chuyên gia, tuy nhiên lại không có quy định về cơ chế giải quyết trong trường hợp các chuyên gia có ý kiến khác nhau.

Ngoài ra, do Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 chưa quy định rõ loại hình cơ sở y tế phải thành lập nhóm chuyên gia xác định chết não nên thực tiễn hiện nay vẫn còn nhiều bệnh viện, trong đó có cả những bệnh viện đã được cho phép lấy, ghép bộ phận cơ thể người cũng chưa thành lập được nhóm chuyên gia hoặc hội đồng xác định chết não. Bên cạnh đó, nhiều bệnh viện mặc dù đã thành lập được nhóm chuyên gia hoặc hội đồng chẩn đoán xác định chết não nhưng thực tiễn cũng chưa đi vào hoạt động, chưa thực hiện xác định chết não được trường hợp nào.

1.4. Quy định về chế độ bảo hiểm y tế và viện phí đối với người được ghép mô, bộ phận cơ thể người

Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 chỉ có 01 điều duy nhất quy định liên quan đến viện phí và chi trả viện phí cho người được ghép mô, bộ phận cơ thể người tại Điều 33, theo đó chỉ quy định chung khi người được ghép có thẻ bảo hiểm y tế thì được cơ quan bảo hiểm y tế thanh toán viện phí theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế và trường hợp người được ghép không có thẻ bảo hiểm y tế thì phải tự thanh toán chi phí.

Hiện nay, chưa có quy định về danh mục các chi phí về hiến, ghép mô, bộ phận cơ thể người, chưa ban hành được giá dịch vụ kỹ thuật lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người nên dẫn đến thực trạng mỗi một cơ sở lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người xây dựng một giá dịch vụ khác nhau, không thống nhất và nhiều cơ sở chưa công khai giá dịch vụ hiến, ghép mô, bộ phận cơ thể người, từ đó, ảnh hưởng đến quyền lợi người hiến và khó khăn trong công tác quản lý nhà nước.

Việc chi trả các chi phí cho người hiến, người ghép mô, bộ phận cơ thể người cũng còn những bất cập nhất định: Hiện nay, theo danh mục kỹ thuật được bảo hiểm y tế thanh toán mới chỉ có thanh toán đối với phẫu thuật ghép thận tự thân mà chưa có quy định về thanh toán bảo hiểm y tế đối với phẫu thuật ghép bộ phận cơ thể người (ghép thận, ghép gan, ghép tim…) từ người này cho người kia. Đối với các chi phí liên quan đến người hiến tặng như chi phí đánh giá, kiểm tra sức khỏe, chi phí cho việc xác định chết não, đánh giá chức năng mô, bộ phận cơ thể người hiến, chi phí cho việc lấy mô, bộ phận cơ thể người (thận, gan, tim…) chưa quy định việc chi trả từ nguồn nào và do ai chi trả.

1.5. Quy định về hiến xác và việc tiếp nhận, sử dụng xác của người hiến

Hoạt động về hiến, lấy xác hiện nay vẫn còn một số hạn chế, cụ thể như sau:

- Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 chưa có quy định cụ thể về việc đăng ký hiến xác (người được phép quyết định hiến xác), thủ tục đăng ký, vận chuyển xác và việc giải quyết xác của người hiến khi không còn giá trị sử dụng. Vì vậy, trong quá trình thực hiện, nhiều cơ sở đào tạo khối ngành sức khỏe rất khó khăn trong việc tiếp nhận xác của người hiến để phục vụ việc giảng dạy. Ngoài ra, một số cơ sở đào tạo hiện nay cũng gặp khó khăn trong việc giải quyết đối với những xác được tiếp nhận từ rất lâu, không còn giá trị sử dụng do chưa có cơ sở pháp lý để thực hiện.

- Hiện nay, do vấn đề về nhận thức, quan niệm, tâm linh của người Việt Nam cho nên số lượng người đăng ký hiến xác rất ít, như năm 2017 là 208 trường hợp, năm 2018 là 274 trường hợp, năm 2019 là 319 trường hợp và trung bình mỗi năm chỉ có từ 01 - 03 trường hợp thực hiện hiến xác. Vì vậy, thực tế hiện nay chỉ có các trường đại học y dược công lập lớn là có xác của người hiến để phục vụ giảng dạy, nghiên cứu, còn hầu hết các cơ sở đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng khối ngành sức khỏe và một số trường đại học y dược ở các tỉnh là chưa có xác của người hiến trong giảng dạy, nghiên cứu.

3. Kiến nghị, đề xuất

Thứ nhất, sửa đổi quy định về độ tuổi người hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác tại Điều 5 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 theo hướng:

- Về độ tuổi người hiến sau khi chết: Không giới hạn về độ tuổi. Trường hợp người dưới 18 tuổi hiến mô, bộ phận cơ thể của mình sau khi chết phải có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật hoặc người giám hộ hợp pháp.

- Về độ tuổi người hiến mô, bộ phận cơ thể người khi còn sống: Tách quy định về độ tuổi người hiến mô và hiến bộ phận cơ thể người, cụ thể:

(i) Độ tuổi người hiến mô khi còn sống: Người từ đủ 16 tuổi trở lên được thực hiện việc hiến mô của mình khi còn sống. Đối với người từ đủ mười sáu tuổi đến dưới mười tám tuổi khi thực hiện việc hiến mô của mình phải có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật hoặc người giám hộ hợp pháp.

(ii) Độ tuổi người hiến bộ phận cơ thể người khi còn sống: Quy định tách biệt độ tuổi người hiến bộ phận cơ thể người khi còn sống cùng huyết thống và không cùng huyết thống. Đối với độ tuổi người hiến bộ phận cơ thể người khi còn sống cùng huyết thống (cha, mẹ, anh, chị em, con ruột) quy định người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; đối với độ tuổi người hiến bộ phận cơ thể người khi còn sống không cùng huyết thống quy định từ đủ 25 tuổi trở lên và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

Thứ hai, về thông tin, tuyên truyền, vận động về hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác: Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 9 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 theo hướng, quy định cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, đoàn thể, đặc biệt là các tổ chức đoàn thể như Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, tổ chức tôn giáo; bổ sung quy định cụ thể về nội dung thông tin, tuyên truyền, vận động về hiến mô, bộ phận cơ thể người, trong đó cần tập trung vào nội dung tuyên truyền, vận động về hiến mô, bộ phận cơ thể người từ người cho chết não; bổ sung quy định về nguồn lực bảo đảm thực hiện công tác tuyên truyền, vận động về hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác như nguồn nhân lực, kinh phí thực hiện.

Thứ ba, sửa đổi quy định về xác định chết não tại Điều 27 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 theo hướng, quy định thống nhất mô hình tổ chức xác định chết não là nhóm chuyên gia chẩn đoán xác định chết não do thủ trưởng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến tỉnh trở lên quyết định thành lập. Quy định về thành phần nhóm chuyên gia xác định chết não phải có chuyên gia về hồi sức cấp cứu, thần kinh hoặc phẫu thuật thần kinh, chuyên gia về chẩn đoán hình ảnh. Các chuyên gia khác do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quyết định. Đồng thời, bổ sung quy định về tiêu chuẩn chuyên gia xác định chết não và quy định cơ chế hoạt động của nhóm chuyên gia xác định chết não.

Thứ tư, sửa đổi, bổ sung quy định về chi phí hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và nguồn chi trả tại Điều 33 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 theo hướng, quy định danh mục các nhóm chi phí đối với người hiến mô, bộ phận cơ thể người khi còn sống, sau khi chết và chi phí ghép mô, bộ phận cơ thể người; nguồn chi trả và giao Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết các nội dung này.

Thứ năm, về hiến xác, tiếp nhận, bảo quản và sử dụng xác người hiến: Cần có quy định cụ thể về quy trình đăng ký hiến xác theo hướng đơn giản cho người hiến và cơ sở tiếp nhận; bổ sung quy định về các vấn đề liên quan đến vận chuyển, bảo quản, sử dụng xác và việc giải quyết xác người hiến khi không còn giá trị sử dụng trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 và văn bản hướng dẫn để tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, minh bạch trong việc triển khai thực hiện, góp phần tăng nguồn hiến xác để bảo đảm cho các cơ sở đào tạo y dược dần có đủ số lượng xác người hiến phục vụ cho hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học.

Nhóm nghiên cứu đề án

[1]. Đề án khoa học và công nghệ cấp Bộ về “Nghiên cứu khoa học và thực tiễn về đánh giá tác động một số đề xuất chính sách pháp luật về hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác” do TS. Nguyễn Huy Quang - Nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Y tế làm Chủ nhiệm; ThS. Trần Thị Trang, Quyền Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm y tế, Bộ Y tế - Nghiên cứu viên chính; CN. Phạm Thị Hảo, Chuyên viên Vụ Pháp chế, Bộ Y tế - Thư ký.

[2]. Số liệu do Trung tâm Điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người cung cấp.

[3]. Số liệu do Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người cung cấp ngày 22/8/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 392), tháng 11/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.
Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).
Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.
Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Tóm tắt: Trước yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức và khắc phục những bất cập trong thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, nghiên cứu phân tích dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước1 (dự thảo Luật), trên cơ sở so sánh với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 20172 và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghiên cứu đánh giá những điểm mới của dự thảo Luật, đồng thời, chỉ ra các nội dung cần tiếp tục hoàn thiện như phạm vi trách nhiệm bồi thường, căn cứ yêu cầu bồi thường, nghĩa vụ chứng minh, cơ chế giải quyết và quản trị dữ liệu, từ đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm cơ chế bồi thường của Nhà nước minh bạch, khách quan và khả thi.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng giúp người dân nói chung và các đối tượng đặc thù nói riêng biết, hiểu và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật. Nghiên cứu phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật), tập trung vào các quy định về đối tượng đặc thù, chính sách hỗ trợ, trách nhiệm của các chủ thể, chuyển đổi số, nguồn lực, cơ chế đánh giá và đội ngũ thực hiện. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và so sánh pháp luật. Kết quả cho thấy, dự thảo Luật có nhiều điểm mới như cụ thể hóa nhóm đối tượng đặc thù, phân định trách nhiệm của các chủ thể, bổ sung quy định về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, đồng thời, chú trọng bảo đảm nguồn lực và đánh giá hiệu quả thực hiện. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, một số nội dung dự thảo Luật cần tiếp tục hoàn thiện, gồm tiêu chí xác định đối tượng, chính sách hỗ trợ, chuẩn tiếp cận tối thiểu, cơ chế phối hợp, khả năng tiếp cận trong môi trường số, căn cứ phân bổ nguồn lực, tiêu chí đánh giá và yêu cầu về năng lực của đội ngũ thực hiện. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện dự thảo Luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm triển khai thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của Đảng về đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, thực hiện mô hình quyền địa phương hai cấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, nhiều quy định của Luật bộc lộ những hạn chế, bất cập cả về nội dung và phương thức tổ chức thực hiện. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc xây dựng dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) (dự thảo Luật), qua đó, khẳng định sự cần thiết phải sửa đổi toàn diện Luật nhằm hoàn thiện thể chế về phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường gắn kết giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, đẩy mạnh chuyển đổi số, huy động nguồn lực xã hội và bảo đảm nâng cao hiệu quả quyền tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Bài viết đề xuất hoàn thiện dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo hướng chuyển trọng tâm từ đánh giá kinh nghiệm hành nghề của từng giảng viên sang đánh giá năng lực của cơ sở giáo dục đại học trong việc tổ chức hoạt động đào tạo gắn với thực tiễn.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được Bộ Tư pháp nghiên cứu xây dựng với nhiều nội dung đổi mới quan trọng. Bên cạnh việc sửa đổi các quy định về nguyên tắc quản lý luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước…, dự thảo Luật còn quy định cam kết về tôn trọng tính bảo mật, bảo đảm quyền hành nghề của luật sư. Đây là những nội dung có ý nghĩa quan trọng, góp phần xây dựng môi trường hành nghề minh bạch, chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý và phát huy vai trò của luật sư trong bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Đạo luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc ban hành Luật mới nhằm thay thế toàn bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, giải quyết triệt để những bất cập thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy chính quyền (02 cấp) và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.

Theo dõi chúng tôi trên: