Chủ nhật 19/04/2026 06:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đánh giá việc thực thi một số quy định của Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật[1]

Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 qua gần 17 năm thi hành đã bộc lộ những bất cập, vướng mắc cần thiết phải được đánh giá việc thực thi đối với một số quy định, từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật này cho phù hợp.

1. Tình hình thực thi một số quy định của Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

1.1. Quy định về quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác

Điều 5 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 quy định: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể của mình khi còn sống, sau khi chết và hiến xác”. Thời gian qua, việc thực thi quy định về độ tuổi hiến mô, bộ phận cơ thể người đã bộc lộ một số vướng mắc, bất cập cụ thể như sau:

- Về độ tuổi người hiến mô, bộ phận cơ thể người sau khi chết: Thời gian qua, có rất nhiều trường hợp người dưới 18 tuổi và gia đình của họ có nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể cho người dưới 18 tuổi sau khi chết não, tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa cho phép nên người dưới 18 tuổi chưa thể thực hiện được nguyện vọng này. Điều này dẫn đến hạn chế nguồn mô, bộ phận cơ thể từ người chết não cho người bệnh dưới 18 tuổi. Trong khi đó, tại Việt Nam, hiện nay, có hàng nghìn bệnh nhân là trẻ em bị suy mô, tạng đang chờ ghép tại các bệnh viện.

- Về độ tuổi hiến mô, bộ phận cơ thể người khi còn sống: Theo số liệu thống kê, tính từ khi bắt đầu ghép đến ngày 31/7/2023, tổng số ca ghép tạng thực hiện tại Việt Nam là 7.824 ca[2], trong đó, có hơn 450 ca ghép từ người cho chết não, chiếm tỷ lệ 5,8% và số ca ghép từ người cho sống ở nước ta đang rất cao với 7.360 ca, chiếm hơn 94%. Tỷ lệ người hiến sống đang chiếm chủ yếu trong các ca ghép tạng ở Việt Nam đang đi ngược lại so với xu hướng chung của thế giới và tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ về suy thận, gan, phổi cho người hiến trong tương lai, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, học lập, lao động và tốn kém các chi phí trong chăm sóc, theo dõi định kỳ sau khi hiến của người hiến sống. Trước thực trạng tỷ lệ người hiến sống đang chiếm chủ yếu sẽ tiềm ẩn nguy cơ rất lớn về mua bán mô, bộ phận cơ thể người, từ đó ảnh trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của người hiến.

Đồng thời, qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế cho thấy, việc quy định chung độ tuổi người hiến mô, bộ phận cơ thể người khi còn sống là chưa hợp lý, vì người hiến mô (tế bào gốc, tiểu cầu...) có thể dưới 18 tuổi do mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe từ việc hiến ít hơn so với hiến bộ phận cơ thể người, trong khi đó, người hiến bộ phận cơ thể người (thận, gan...) khi còn sống sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người hiến.

1.2. Quy định về thông tin, tuyên truyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác

Trong thời gian qua, các cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình đã tổ chức thực hiện các hoạt động thông tin, tuyên truyền về mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy, nghiên cứu khoa học và ý nghĩa của việc hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác. Trong đó, Trung tâm Điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người đã rất tích cực trong hoạt động thông tin, tuyên truyền, vận động hiến, ghép mô, bộ phận cơ thể người dưới nhiều hình thức khác nhau để tạo sự quan tâm của toàn xã hội, góp phần quan trọng vào việc nâng cao nhận thức, hiểu biết của người dân đối với hoạt động hiến, ghép mô, bộ phận cơ thể người ở nước ta.

Hoạt động thông tin, tuyên truyền về hiến mô, bộ phận cơ thể người trong những năm qua đã có những bước phát triển mạnh mẽ, bước đầu tạo được hiệu ứng tốt đẹp, được đa số người dân hưởng ứng. Theo đó, số lượng người đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể người sau khi chết, chết não đã tăng rất nhanh qua các năm (năm 2018: 19.985 người; năm 2019: 30.823 người; năm 2020: 40.257 người; năm 2021: 46.171 người; năm 2022: 63.552 người và tính đến ngày 22/8/2023, cả nước có 71.157 trường hợp)[3]. Việc thông tin về giá trị, ý nghĩa của việc hiến tặng mô, bộ phận cơ thể người vì mục đích nhân đạo, cũng như việc hướng dẫn về quyền, nghĩa vụ, quy trình, thủ tục đăng ký hiến tặng mô, bộ phận cơ thể người đã từng bước được phổ biến và cập nhật rộng rãi trong xã hội, giúp người dân hiểu rõ hơn ý nghĩa nhân văn của hoạt động này, góp phần đáng kể vào sự gia tăng mạnh mẽ số ca ghép mô, bộ phận cơ thể người trong thời gian vừa qua.

Tuy nhiên, quy định về thông tin, tuyên truyền về hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 còn một số bất cập như: Chưa có quy định về chức năng, nhiệm vụ cụ thể của các tổ chức, các cấp ngành, đoàn thể như vai trò nòng cốt của Hội Chữ thập đỏ các cấp và hệ thống truyền thông y tế trong công tác truyền thông, vận động hiến tặng mô, tạng; chưa có quy định về nội dung và các điều kiện bảo đảm cho công tác truyền thông, vận động hiến tặng mô, bộ phận cơ thể người. Do đó, trong quá trình tổ chức thực hiện hoạt động thông tin, tuyên truyền về hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác còn có sự tùy nghi, chưa được các cơ quan, tổ chức liên quan quan tâm đúng mức. Theo kết quả khảo sát tại 07 tỉnh, thành phố (Thái Nguyên, Phú Thọ, Thành phố Hà Nội, Thanh Hóa, Huế, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh) thì phần lớn công tác thông tin, tuyên truyền về hiến mô, bộ phận cơ thể người chưa được các tổ chức đoàn thể của tỉnh thực hiện, Sở Y tế các tỉnh, thành phố đi khảo sát cũng chưa có sự chỉ đạo, phối hợp trong công tác này mà chủ yếu được một số bệnh viện lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người trên địa bàn tỉnh thực hiện trong khuôn khổ cho đối tượng nhân viên, người bệnh tại bệnh viện.

1.3. Quy định về chết não

Thực tiễn triển khai quy định về chết não trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 và văn bản hướng dẫn thi hành còn tồn tại một số bất cập sau đây:

- Về chuyên gia xác định chết não: Theo quy định của Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006, để xác định được chết não phải có đủ 03 chuyên gia bao gồm bác sỹ hồi sức cấp cứu, bác sỹ thần kinh hoặc phẫu thuật thần kinh và chuyên gia giám định pháp y. Tuy nhiên, quy định về chuyên gia giám định pháp y trong Luật còn chưa phù hợp, bởi vì, về bản chất, các tiêu chuẩn cận lâm sàng của xác định chết não khác với tiêu chuẩn cận lâm sàng của người đã chết hẳn (tim ngừng đập), do đó, vừa không phát huy được chuyên môn của bác sỹ pháp y, vừa gây khó khăn cho các cơ sở y tế trong việc mời bác sỹ pháp y tham gia trong hội đồng xác định chết não. Đồng thời, quy định về thành phần chuyên gia xác định chết não theo Luật này còn thiếu chuyên gia của một số lĩnh vực liên quan đến đánh giá các tiêu chuẩn lâm sàng, cận lâm sàng trong chẩn đoán xác định chết não như chuyên gia về chẩn đoán hình ảnh.

- Về tổ chức xác định chết não: Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 quy định mô hình tổ chức xác định chết não là danh sách chuyên gia tham gia xác định chết não. Tuy nhiên, qua khảo sát, đánh giá thực tiễn cho thấy, mô hình tổ chức chẩn đoán xác định chết não hiện nay ở các cơ sở lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người là khác nhau, có cơ sở thì tổ chức theo mô hình hội đồng chẩn đoán xác định chết não và một số cơ sở tổ chức theo mô hình nhóm chuyên gia xác định chết não (đa phần hiện nay các cơ sở lấy, ghép đang tổ chức theo mô hình này). Mặc dù, Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 đã có quy định việc xác định chết não phải được thực hiện độc lập bởi 03 chuyên gia, tuy nhiên lại không có quy định về cơ chế giải quyết trong trường hợp các chuyên gia có ý kiến khác nhau.

Ngoài ra, do Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 chưa quy định rõ loại hình cơ sở y tế phải thành lập nhóm chuyên gia xác định chết não nên thực tiễn hiện nay vẫn còn nhiều bệnh viện, trong đó có cả những bệnh viện đã được cho phép lấy, ghép bộ phận cơ thể người cũng chưa thành lập được nhóm chuyên gia hoặc hội đồng xác định chết não. Bên cạnh đó, nhiều bệnh viện mặc dù đã thành lập được nhóm chuyên gia hoặc hội đồng chẩn đoán xác định chết não nhưng thực tiễn cũng chưa đi vào hoạt động, chưa thực hiện xác định chết não được trường hợp nào.

1.4. Quy định về chế độ bảo hiểm y tế và viện phí đối với người được ghép mô, bộ phận cơ thể người

Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 chỉ có 01 điều duy nhất quy định liên quan đến viện phí và chi trả viện phí cho người được ghép mô, bộ phận cơ thể người tại Điều 33, theo đó chỉ quy định chung khi người được ghép có thẻ bảo hiểm y tế thì được cơ quan bảo hiểm y tế thanh toán viện phí theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế và trường hợp người được ghép không có thẻ bảo hiểm y tế thì phải tự thanh toán chi phí.

Hiện nay, chưa có quy định về danh mục các chi phí về hiến, ghép mô, bộ phận cơ thể người, chưa ban hành được giá dịch vụ kỹ thuật lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người nên dẫn đến thực trạng mỗi một cơ sở lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người xây dựng một giá dịch vụ khác nhau, không thống nhất và nhiều cơ sở chưa công khai giá dịch vụ hiến, ghép mô, bộ phận cơ thể người, từ đó, ảnh hưởng đến quyền lợi người hiến và khó khăn trong công tác quản lý nhà nước.

Việc chi trả các chi phí cho người hiến, người ghép mô, bộ phận cơ thể người cũng còn những bất cập nhất định: Hiện nay, theo danh mục kỹ thuật được bảo hiểm y tế thanh toán mới chỉ có thanh toán đối với phẫu thuật ghép thận tự thân mà chưa có quy định về thanh toán bảo hiểm y tế đối với phẫu thuật ghép bộ phận cơ thể người (ghép thận, ghép gan, ghép tim…) từ người này cho người kia. Đối với các chi phí liên quan đến người hiến tặng như chi phí đánh giá, kiểm tra sức khỏe, chi phí cho việc xác định chết não, đánh giá chức năng mô, bộ phận cơ thể người hiến, chi phí cho việc lấy mô, bộ phận cơ thể người (thận, gan, tim…) chưa quy định việc chi trả từ nguồn nào và do ai chi trả.

1.5. Quy định về hiến xác và việc tiếp nhận, sử dụng xác của người hiến

Hoạt động về hiến, lấy xác hiện nay vẫn còn một số hạn chế, cụ thể như sau:

- Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 chưa có quy định cụ thể về việc đăng ký hiến xác (người được phép quyết định hiến xác), thủ tục đăng ký, vận chuyển xác và việc giải quyết xác của người hiến khi không còn giá trị sử dụng. Vì vậy, trong quá trình thực hiện, nhiều cơ sở đào tạo khối ngành sức khỏe rất khó khăn trong việc tiếp nhận xác của người hiến để phục vụ việc giảng dạy. Ngoài ra, một số cơ sở đào tạo hiện nay cũng gặp khó khăn trong việc giải quyết đối với những xác được tiếp nhận từ rất lâu, không còn giá trị sử dụng do chưa có cơ sở pháp lý để thực hiện.

- Hiện nay, do vấn đề về nhận thức, quan niệm, tâm linh của người Việt Nam cho nên số lượng người đăng ký hiến xác rất ít, như năm 2017 là 208 trường hợp, năm 2018 là 274 trường hợp, năm 2019 là 319 trường hợp và trung bình mỗi năm chỉ có từ 01 - 03 trường hợp thực hiện hiến xác. Vì vậy, thực tế hiện nay chỉ có các trường đại học y dược công lập lớn là có xác của người hiến để phục vụ giảng dạy, nghiên cứu, còn hầu hết các cơ sở đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng khối ngành sức khỏe và một số trường đại học y dược ở các tỉnh là chưa có xác của người hiến trong giảng dạy, nghiên cứu.

3. Kiến nghị, đề xuất

Thứ nhất, sửa đổi quy định về độ tuổi người hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác tại Điều 5 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 theo hướng:

- Về độ tuổi người hiến sau khi chết: Không giới hạn về độ tuổi. Trường hợp người dưới 18 tuổi hiến mô, bộ phận cơ thể của mình sau khi chết phải có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật hoặc người giám hộ hợp pháp.

- Về độ tuổi người hiến mô, bộ phận cơ thể người khi còn sống: Tách quy định về độ tuổi người hiến mô và hiến bộ phận cơ thể người, cụ thể:

(i) Độ tuổi người hiến mô khi còn sống: Người từ đủ 16 tuổi trở lên được thực hiện việc hiến mô của mình khi còn sống. Đối với người từ đủ mười sáu tuổi đến dưới mười tám tuổi khi thực hiện việc hiến mô của mình phải có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật hoặc người giám hộ hợp pháp.

(ii) Độ tuổi người hiến bộ phận cơ thể người khi còn sống: Quy định tách biệt độ tuổi người hiến bộ phận cơ thể người khi còn sống cùng huyết thống và không cùng huyết thống. Đối với độ tuổi người hiến bộ phận cơ thể người khi còn sống cùng huyết thống (cha, mẹ, anh, chị em, con ruột) quy định người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; đối với độ tuổi người hiến bộ phận cơ thể người khi còn sống không cùng huyết thống quy định từ đủ 25 tuổi trở lên và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

Thứ hai, về thông tin, tuyên truyền, vận động về hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác: Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 9 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 theo hướng, quy định cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, đoàn thể, đặc biệt là các tổ chức đoàn thể như Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, tổ chức tôn giáo; bổ sung quy định cụ thể về nội dung thông tin, tuyên truyền, vận động về hiến mô, bộ phận cơ thể người, trong đó cần tập trung vào nội dung tuyên truyền, vận động về hiến mô, bộ phận cơ thể người từ người cho chết não; bổ sung quy định về nguồn lực bảo đảm thực hiện công tác tuyên truyền, vận động về hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác như nguồn nhân lực, kinh phí thực hiện.

Thứ ba, sửa đổi quy định về xác định chết não tại Điều 27 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 theo hướng, quy định thống nhất mô hình tổ chức xác định chết não là nhóm chuyên gia chẩn đoán xác định chết não do thủ trưởng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến tỉnh trở lên quyết định thành lập. Quy định về thành phần nhóm chuyên gia xác định chết não phải có chuyên gia về hồi sức cấp cứu, thần kinh hoặc phẫu thuật thần kinh, chuyên gia về chẩn đoán hình ảnh. Các chuyên gia khác do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quyết định. Đồng thời, bổ sung quy định về tiêu chuẩn chuyên gia xác định chết não và quy định cơ chế hoạt động của nhóm chuyên gia xác định chết não.

Thứ tư, sửa đổi, bổ sung quy định về chi phí hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và nguồn chi trả tại Điều 33 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 theo hướng, quy định danh mục các nhóm chi phí đối với người hiến mô, bộ phận cơ thể người khi còn sống, sau khi chết và chi phí ghép mô, bộ phận cơ thể người; nguồn chi trả và giao Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết các nội dung này.

Thứ năm, về hiến xác, tiếp nhận, bảo quản và sử dụng xác người hiến: Cần có quy định cụ thể về quy trình đăng ký hiến xác theo hướng đơn giản cho người hiến và cơ sở tiếp nhận; bổ sung quy định về các vấn đề liên quan đến vận chuyển, bảo quản, sử dụng xác và việc giải quyết xác người hiến khi không còn giá trị sử dụng trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 và văn bản hướng dẫn để tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, minh bạch trong việc triển khai thực hiện, góp phần tăng nguồn hiến xác để bảo đảm cho các cơ sở đào tạo y dược dần có đủ số lượng xác người hiến phục vụ cho hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học.

Nhóm nghiên cứu đề án

[1]. Đề án khoa học và công nghệ cấp Bộ về “Nghiên cứu khoa học và thực tiễn về đánh giá tác động một số đề xuất chính sách pháp luật về hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác” do TS. Nguyễn Huy Quang - Nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Y tế làm Chủ nhiệm; ThS. Trần Thị Trang, Quyền Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm y tế, Bộ Y tế - Nghiên cứu viên chính; CN. Phạm Thị Hảo, Chuyên viên Vụ Pháp chế, Bộ Y tế - Thư ký.

[2]. Số liệu do Trung tâm Điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người cung cấp.

[3]. Số liệu do Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người cung cấp ngày 22/8/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 392), tháng 11/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghip ln thtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, s nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ Nhất xem xét, thông qua đã quy định phân quyền, phân cấp bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, tạo cơ sở pháp lý cho công tác trợ giúp pháp lý phát triển theo hướng chuyên nghiệp, sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách, góp phần thực hiện chính sách “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa” và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt là nhóm “dễ bị tổn thương”.
Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí như người nghèo, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi… khi tham gia tố tụng với tư cách là đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích liên quan) có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc nhờ trợ giúp pháp lý tham gia bảo vệ theo quy định pháp luật.
Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Chính sách Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật thời gian qua, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã trình Chính phủ về hồ sơ chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Theo đó, việc sửa đổi toàn diện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, chuyển đổi số.
Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng kính mời các chuyên gia, độc giả tham gia viết bài cho ấn phẩm chuyên đề chuyên sâu về truyền thông chính sách và góp ý vào dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.
Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Trong không khí xuân Bính Ngọ năm 2026, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tiếp tục được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm với nhiều chính sách mang tính đột phá. Ngày 09/9/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 72-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với sức khỏe của người dân hướng đến mục tiêu xây dựng nước Việt Nam khỏe mạnh, mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe, sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh, nâng cao thể chất, tinh thần và chủ động phòng ngừa bệnh tật trong toàn xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới. Đồng chí Đào Hồng Lan, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh, sức khỏe của người dân phải được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Những chia sẻ của Bộ trưởng mở ra bức tranh toàn diện về định hướng chăm sóc sức khỏe suốt đời, từ phòng bệnh chủ động, giảm chi phí y tế, đến xây dựng hệ thống y tế công bằng, bền vững cho mọi người dân.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là sự kiện chính trị trọng đại, là dấu mốc quan trọng trên con đường phát triển đất nước, khởi điểm lịch sử mới của dân tộc Việt Nam sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Để tạo nền tảng chính trị xác định tầm nhìn chiến lược và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Văn kiện Đại hội Đảng khóa XIV có nhiều điểm mới, đột phá.

Theo dõi chúng tôi trên: