Thứ tư 04/03/2026 09:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điểm mới về xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại

Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích, làm rõ những điểm mới về xác minh điều kiện thi hành án của thừa phát lại theo nghị định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại; đồng thời, trao đổi thêm một số vấn đề liên quan đến nội dung này.


Nếu như việc tống đạt, lập vi bằng và tổ chức thi hành án là công việc truyền thống, xuất hiện ngay từ đầu với sự hình thành chế định thừa phát lại, thì xác minh điều kiện thi hành án là công việc được giao thêm cho thừa phát lại trong giai đoạn thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh và 12 tỉnh, thành trong cả nước (từ năm 2009 đến năm 2015) cũng như được áp dụng chính thức sau thí điểm. Đây là một trong những công việc độc lập của thừa phát lại được quy định tại Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại (Nghị định số 08/2020/NĐ-CP) thay thế cho Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh (Nghị định số 61/2009/NĐ-CP) và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP. Nghị định số 08/2020/NĐ-CP được ban hành trên cơ sở tổng kết thí điểm thừa phát lại được thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương trên cả nước và để thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về thực hiện chế định thừa phát lại.

Nghị định số 08/2020/NĐ-CP có sự kế thừa những quy định còn phù hợp, nhưng cũng có những điểm mới so với các nghị định trước đây về xác minh điều kiện thi hành án. Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định về xác minh điều kiện thi hành án dân sự gồm 08 điều (từ Điều 43 đến Điều 50), tăng 04 điều so với Nghị định số 61/2009/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2013), cụ thể:

Thứ nhất, về thẩm quyền, phạm vi xác minh điều kiện thi hành án (Điều 43)

Về cơ bản, giữ nguyên quy định của Điều 30 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2013), chỉ diễn đạt lại thành 02 khoản (khoản 1 và khoản 2) cho rõ ràng hơn.

Thứ hai, về thỏa thuận về xác minh điều kiện thi hành án (Điều 44)

Về cơ bản, giữ nguyên quy định của Điều 33 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2013), nhưng có bổ sung cụ thể hơn như:

- Khoản 1 Điều 44: Bổ sung việc đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án có quyền thỏa thuận với Văn phòng Thừa phát lại về việc xác minh điều kiện thi hành án “của người phải thi hành án kể cả trong trường hợp vụ việc đó đang do cơ quan thi hành án dân sự trực tiếp tổ chức thi hành”. Quy định này là cần thiết vì xác minh điều kiện thi hành án là một trong những công việc độc lập của thừa phát lại. Thừa phát lại không chỉ xác minh điều kiện thi hành án đối với các vụ việc do thừa phát lại trực tiếp tổ chức thi hành, mà còn có nhiệm vụ xác minh điều kiện thi hành án kể cả trong trường hợp vụ việc đó đang do cơ quan thi hành án dân sự trực tiếp tổ chức thi hành, nếu đương sự yêu cầu.

- Xác định thỏa thuận về xác minh điều kiện thi hành án giữa người yêu cầu và Văn phòng Thừa phát lại được ký kết dưới hình thức “hợp đồng dịch vụ”.

- Bổ sung các tài liệu cần phải có khi thỏa thuận về xác minh điều kiện thi hành án, như: Đương sự phải cung cấp bản án, quyết định của Tòa án và các tài liệu khác có liên quan (nếu có); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án phải cung cấp tài liệu chứng minh có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự. Quy định này nhằm đảm bảo tính khả thi và tạo thuận lợi cho thừa phát lại trong việc xác minh điều kiện thi hành án. Trên cơ sở bản án, quyết định của Tòa án do đương sự cung cấp, thừa phát lại biết được thông tin về nghĩa vụ của người phải thi hành án, nghĩa vụ thi hành một lần hay theo định kỳ, có tài sản bảo đảm hay không và nếu có thì nằm ở đâu...?

Thứ ba, về thủ tục xác minh điều kiện thi hành án (Điều 45)

Điều này được bổ sung nhiều nội dung mới như:

- Quy định thời hạn Trưởng Văn phòng Thừa phát lại phải ra quyết định xác minh điều kiện thi hành án là “03 ngày làm việc” kể từ ngày ký kết hợp đồng dịch vụ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác và được ghi vào “sổ xác minh” điều kiện thi hành án được lập theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định, thay vì “sổ thụ lý” như quy định trước. Đồng thời quy định: Quyết định xác minh phải được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở và cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành án. Đây là quy định mới, làm cơ sở để Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát hoạt động xác minh của thừa phát lại, đồng thời tạo điều kiện để cơ quan thi hành án dân sự kịp thời sử dụng, phối hợp trong tổ chức thi hành án.

- Quy định khi trực tiếp xác minh, ngoài việc xuất trình thẻ thừa phát lại, công bố quyết định xác minh, lập biên bản về việc xác minh như quy định trước, thừa phát lại còn phải xuất trình giấy giới thiệu của Văn phòng Thừa phát lại, các tài liệu có liên quan (tên bản án, quyết định; quyết định xác minh, bản sao văn bản thỏa thuận xác minh; quyết định thi hành án trong trường hợp Văn phòng Thừa phát lại tổ chức thi hành án) và phải công bố quyết định thi hành án trong trường hợp Văn phòng Thừa phát lại tổ chức thi hành án. Quy định rõ biên bản xác minh phải có chữ ký của thừa phát lại, người cung cấp thông tin, xác nhận của cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin. Nếu chưa thực hiện ngay được việc cung cấp thông tin thì phải ghi rõ lý do trong biên bản.

- Quy định cụ thể nội dung văn bản đề nghị cung cấp thông tin như: Căn cứ để đề nghị cung cấp thông tin (bản án, quyết định; quyết định xác minh, bản sao văn bản thỏa thuận xác minh…); thông tin về người phải thi hành án; các thông tin đề nghị cung cấp; thời điểm, thời hạn cung cấp thông tin và các thông tin khác có liên quan. Theo quy định mới thì văn bản đề nghị cung cấp thông tin kèm theo tài liệu liên quan được gửi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, đồng thời gửi Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở. Trường hợp thực hiện xác minh ngoài địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở thì phải đồng gửi cho Viện kiểm sát nhân dân cấp chuyện nơi thực hiện xác minh.

Thứ tư, về từ chối cung cấp thông tin (Điều 46)

Đây là điều mới bổ sung, quy định việc cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền từ chối cung cấp thông tin trong các trường hợp vụ việc không thuộc thẩm quyền xác minh của thừa phát lại; đề nghị cung cấp thông tin về cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là người có nghĩa vụ thi hành án thuộc thẩm quyền xác minh của thừa phát lại; hồ sơ đề nghị cung cấp không đầy đủ các tài liệu theo quy định; các tài liệu thuộc phạm vi bí mật nhà nước. Khi từ chối cung cấp thông tin, cơ quan, tổ chức, cá nhân phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Quy định này nhằm đảm bảo thực hiện đúng thẩm quyền, tính đúng đắn, xác thực và hợp pháp của việc xác minh điều kiện thi hành án.

Thứ năm, về bảo mật thông tin xác minh điều kiện thi hành án (Điều 47)

Đây là điều mới bổ sung, quy định thông tin xác minh không được sử dụng cho mục đích khác, ngoài mục đích thi hành án và phải được bảo quản theo chế độ mật theo quy định của pháp luật; trách nhiệm của thừa phát lại, Văn phòng Thừa phát lại, người yêu cầu và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc bảo mật thông tin được cung cấp; việc xử lý đối với hành vi vi phạm (nếu có). Điều bổ sung này là cần thiết nhằm đảm bảo an toàn, tránh việc lợi dụng dùng kết quả xác minh vào mục đích khác, gây thiệt hại cho quyền lợi của đương sự và các cá nhân, tổ chức có liên quan.

Thứ sáu, về sử dụng kết quả xác minh điều kiện thi hành án (Điều 48)

Về cơ bản, giữ nguyên Điều 32 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2013), chỉ bổ sung đối tượng là “người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” cũng có quyền sử dụng kết quả xác minh điều kiện thi hành án để yêu cầu thi hành án “hoặc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình”, như đối với người được thi hành án. Việc bổ sung này là hợp lý vì không chỉ có người được thi hành án, mà trong một số trường hợp nhất định, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng có quyền yêu cầu thi hành án hoặc sử dụng kết quả xác minh để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

Thứ bảy, về ủy quyền xác minh điều kiện thi hành án (Điều 49)

Đây là điều mới bổ sung, quy định Văn phòng Thừa phát lại có thể ủy quyền một phần hoặc toàn bộ nội dung xác minh cho Văn phòng Thừa phát lại khác thực hiện, nếu người yêu cầu đồng ý; việc ủy quyền phải được thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi Văn phòng Thừa phát lại ủy quyền, Văn phòng Thừa phát lại nhận ủy quyền đặt trụ sở để thực hiện việc kiểm sát theo quy định của pháp luật; việc xác minh thực hiện theo quy định của Nghị định này và pháp luật thi hành án dân sự. Đây là quy định nhằm thúc đẩy hoạt động xác minh điều kiện thi hành án của thừa phát lại, phục vụ tối đa nhu cầu, lợi ích của người dân trong hoạt động này.

Thứ tám, về phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xác minh điều kiện thi hành án (Điều 50)

Đây là điều mới bổ sung, phát triển trên cơ sở khoản 3 Điều 31 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2013), nhưng có sự bổ sung, thay đổi cho phù hợp. Điều này quy định nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, như công chức tư pháp - hộ tịch, địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường, cán bộ, công chức cấp xã khác, cơ quan bảo hiểm xã hội, tổ chức tín dụng, cơ quan đăng ký đất đai, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, tổ chức hành nghề công chứng và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác đang nắm giữ thông tin tài sản, tài khoản của người phải thi hành án “phối hợp, hỗ trợ” thừa phát lại trong việc xác minh điều kiện thi hành án, “phối hợp cung cấp” thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án và phải chịu trách nhiệm về các nội dung thông tin đã cung cấp

Ngoài ra, điều này cũng quy định: Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án ký vào biên bản khi thừa phát lại xác minh trực tiếp hoặc cung cấp thông tin bằng văn bản theo “đề nghị” của thừa phát lại trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị, trường hợp từ chối cung cấp thì phải trả lời bằng văn bản có nêu rõ lý do. Đồng thời, để tăng cường trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin, điều này cũng xác định: Nếu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin sai sự thật về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, thanh toán các chi phí phát sinh, bồi thường thiệt hại (nếu có) theo quy định của pháp luật.

Có thể nói, quy định trên đã được xây dựng theo hướng cụ thể, chi tiết hơn so với quy định trước, liệt kê khá đầy đủ tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện nền kinh tế, xã hội, cơ chế quản lý, công khai tài sản chưa được hoàn thiện, minh bạch, sự hỗ trợ của cơ quan, tổ chức, cá nhân để người được thi hành án tự thực hiện xác minh còn chưa hiệu quả, thì quy định mới đã tạo điều kiện thuận lợi nhất định cho thừa phát lại trong việc xác minh điều kiện thi hành án.

Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, mặc dù được quy định chi tiết, cụ thể hơn, nhưng quy định mới cũng có mặt hạn chế so với quy định trước, thể hiện ở chỗ: Nếu khoản 3 Điều 31 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2013) quy định cơ quan, tổ chức, các nhân có liên quan “phải” thực hiện “yêu cầu” của thừa phát lại, thì khoản 1 Điều 50 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP chỉ quy định nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan “phối hợp, hỗ trợ” thừa phát lại trong xác minh điều kiện thi hành án… Như vậy, Nghị định số 08/2020/NĐ-CP đã quy định theo hướng cơ quan, tổ chức, cá nhân chỉ “phối hợp”, “hỗ trợ” mà không bắt buộc phải có trách nhiệm cung cấp thông tin cho thừa phát lại trong việc xác minh điều kiện thi hành án. Điều này xuất phát từ quan điểm cho rằng, thừa phát lại là “tư nhân”, do đó, không có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức và cá nhân thực hiện phối hợp xác minh điều kiện thi hành án. Theo đó, các cơ quan, tổ chức, cá nhân không có nghĩa vụ bắt buộc phải cung cấp thông tin, thực hiện yêu cầu của thừa phát lại mà chỉ tạo điều kiện cho thừa phát lại thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án và tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật[1]. Tác giả cho rằng, hạn chế này cần được nghiên cứu, khắc phục trong quá trình xây dựng Luật Thừa phát lại, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả xác minh điều kiện thi hành án của thừa phát lại, phục vụ tốt hơn nhu cầu, lợi ích của người dân trong hoạt động này.

Như vậy, Nghị định số 08/2020/NĐ-CP có những ưu điểm và hạn chế nhất định cần phải tiếp tục được nghiên cứu, khắc phục trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự nói chung, về thừa phát lại nói riêng, nhất là khi xây dựng Luật Thừa phát lại. Tuy nhiên, Nghị định số 08/2020/NĐ-CP được ban hành sẽ góp phần tháo gỡ một số vướng mắc, khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi nhất định cho hoạt động của thừa phát lại trong việc xác minh tài sản trong thời gian tới.

TS. Nguyễn Thanh Thủy

Học viện Tư pháp

[1]. Kết luận của Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình tại cuộc họp ngày 16/11/2018 về dự thảo Nghị định về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại với sự tham gia của đại diện Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Ủy bản Tư pháp - Quốc hội…

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: