Thứ tư 26/08/2026 15:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành quyết định mới trong áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

Chính vì lý do đó, trong bối cảnh sửa đổi, bổ sung, thay thế các nghị định quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020 (sau đây gọi là Luật Xử lý vi phạm hành chính) được tiến hành một cách tổng thể, toàn diện để bảo đảm phù hợp với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020, Chính phủ đã bổ sung quy định về đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ quyết định trong áp dụng biện pháp GDTXPTT thành một quy định riêng trong Nghị định số 120/2021/NĐ-CP.

Trước khi được quy định tại Nghị định số 120/2021/NĐ-CP ngày 24/12/2021 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn (Nghị định số 120/2021/NĐ-CP), nội dung về đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ quyết định trong áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường thị trấn (GDTXPTT) được quy định chung trong các quy định về sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành mới quyết định về xử lý vi phạm hành chính tại Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính (Nghị định số 81/2013/NĐ-CP) (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ) trên cơ sở cụ thể hóa khoản 3 Điều 18 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, việc quy định chung theo hướng lồng ghép như vậy đã không bảo đảm được tính cụ thể, phù hợp với đặc thù riêng của các quyết định trong áp dụng các biện pháp xử lý hành chính nói chung và biện pháp GDTXPTT nói riêng, vì, các chủ thể, đối tượng thi hành, nội dung và tính chất của quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính, quyết định trong áp dụng các biện pháp xử lý hành chính là khác nhau. Chính vì lý do đó, trong bối cảnh sửa đổi, bổ sung, thay thế các nghị định quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020 (sau đây gọi là Luật Xử lý vi phạm hành chính) được tiến hành một cách tổng thể, toàn diện để bảo đảm phù hợp với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020, Chính phủ đã bổ sung quy định về đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ quyết định trong áp dụng biện pháp GDTXPTT thành một quy định riêng trong Nghị định số 120/2021/NĐ-CP[1].

1. Căn cứ để đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành quyết định mới trong áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

Các căn cứ để đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành quyết định mới trong áp dụng biện pháp GDTXPTT được quy định tại Điều 8 và Điều 9 Nghị định số 120/2021/NĐ-CP, cụ thể:

- Căn cứ để hủy bỏ toàn bộ nội dung quyết định áp dụng biện pháp GDTXPTT bao gồm: (i) Không đúng đối tượng áp dụng; (ii) Vi phạm quy định về thẩm quyền ban hành quyết định; (iii) Vi phạm quy định về thủ tục ban hành quyết định; (iv) Thuộc trường hợp “giữ lại vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử lý vi phạm hành chính” quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Xử lý vi phạm hành chính; (v) Thuộc trường hợp xác định hành vi vi phạm không đúng quy định tại khoản 6 Điều 12 Luật Xử lý vi phạm hành chính; (vi) Thuộc trường hợp giả mạo, làm sai lệch hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính GDTXPTT quy định tại khoản 10 Điều 12 Luật Xử lý vi phạm hành chính; (vii) Thuộc trường hợp đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính GDTXPTT, nếu sau đó phát hiện hành vi vi phạm của người bị áp dụng biện pháp này có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 116 Luật Xử lý vi phạm hành chính; (viii) Thuộc trường hợp hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định áp dụng biện pháp GDTXPTT quy định tại khoản 2 Điều 40 Nghị định số 120/2021/NĐ-CP (khoản 1 Điều 8).

- Trừ trường hợp thứ (vii) và (viii) nêu trên (điểm g và h khoản 1 Điều 8 Nghị định số 120/2021/NĐ-CP), nếu có căn cứ để ban hành quyết định mới trong áp dụng biện pháp GDTXPTT thì người đã ban hành quyết định phải ban hành quyết định mới hoặc chuyển người có thẩm quyền ban hành quyết định mới (khoản 2 Điều 8).

Khoản 1 Điều 9 Nghị định số 120/2021/NĐ-CP quy định 01 căn cứ duy nhất để đính chính quyết định trong áp dụng biện pháp GDTXPTT là quyết định có sai sót về kỹ thuật soạn thảo.

Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 120/2021/NĐ-CP không quy định các căn cứ cụ thể để sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần quyết định trong áp dụng biện pháp GDTXPTT mà quy định theo hướng loại trừ các quyết định có sai sót, vi phạm thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Nghị định số 120/2021/NĐ-CP, theo đó, người có thẩm quyền sẽ thực hiện việc sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ một phần quyết định có các sai sót, vi phạm không thuộc trường hợp hủy bỏ toàn bộ nội dung, ban hành mới hoặc đính chính quyết định.

Có thể thấy, việc quy định các căn cứ để tiến hành đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành quyết định mới trong áp dụng biện pháp GDTXPTT tại Nghị định số 120/2021/NĐ-CP đã có nhiều thay đổi so với Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 97/2017/NĐ-CP), thể hiện qua các điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, căn cứ để đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới quyết định đã được quy định theo hướng đầy đủ, phù hợp hơn với tính chất đặc thù của các quyết định trong áp dụng biện pháp xử lý hành chính GDTXPTT so với Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) trước đây.

Thứ hai, cách thức quy định các căn cứ để sửa đổi, bổ sung và hủy bỏ một phần quyết định đã có tính chất bao quát và linh hoạt hơn, thể hiện ở việc Nghị định số 120/2021/NĐ-CP đã quy định theo hướng liệt kê các căn cứ để hủy bỏ toàn bộ nội dung, ban hành mới và đính chính quyết định trong áp dụng biện pháp GDTXPTT, từ đó quy định các căn cứ để sửa đổi, bổ sung và hủy bỏ một phần quyết định trên cơ sở loại trừ các căn cứ hủy bỏ toàn bộ nội dung, ban hành mới hoặc đính chính quyết định đã được quy định trước đó.

Thứ ba, Nghị định số 120/2021/NĐ-CP không sử dụng các khái niệm có tính chất định tính, chưa rõ ràng, khó xác định và có thể dẫn đến việc khó áp dụng hoặc áp dụng không thống nhất trong thực tiễn (ví dụ các khái niệm: “Làm ảnh hưởng đến nội dung quyết định”, “không làm thay đổi cơ bản nội dung”, “làm thay đổi cơ bản nội dung”) như Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 97/2017/NĐ-CP).

Thứ tư, Nghị định số 120/2021/NĐ-CP không quy định việc ban hành quyết định mới trong trường hợp có căn cứ đối với quyết định đã bị hủy bỏ một phần mà chỉ ban hành mới trong trường hợp có căn cứ đối với quyết định đã bị hủy bỏ toàn bộ nội dung.

2. Thẩm quyền thực hiện việc đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành quyết định mới trong áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

Nghị định số 120/2021/NĐ-CP không có điều khoản cụ thể để quy định về thẩm quyền thực hiện việc đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành quyết định mới trong áp dụng biện pháp GDTXPTT. Tuy nhiên, tại mỗi điều khoản đều chỉ rõ “người đã ban hành quyết định” tự mình hoặc theo yêu cầu của những người quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật Xử lý vi phạm hành chính thẩm quyền thực hiện xử lý các quyết định có sai sót, vi phạm. Trong đó, đối với các quyết định trong áp dụng biện pháp GDTXPTT thì “người đã ban hành quyết định” được xác định là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.

Về cơ bản, có thể thấy quy định về thẩm quyền thực hiện đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành quyết định mới trong áp dụng biện pháp GDTXPTT không có nhiều sự thay đổi so với các quy định trước đây tại Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) về đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành quyết định mới các quyết định về xử lý vi phạm hành chính.

3. Thực hiện việc đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành quyết định mới trong áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

Các nội dung cơ bản liên quan đến thực hiện đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành quyết định mới trong áp dụng biện pháp GDTXPTT được quy định cụ thể tại Điều 10 Nghị định số 120/2021/NĐ-CP bao gồm: (i) Thời hạn thực hiện xử lý các quyết định có sai sót, vi phạm; (ii) Hiệu lực của quyết định đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, quyết định mới trong áp dụng biện pháp GDTXPTT; (iii) Thời hạn chấp hành biện pháp GDTXPTT sau khi thực hiện việc đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, quyết định mới trong áp dụng biện pháp GDTXPTT.

3.1. Về thời hạn thực hiện đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành quyết định mới trong áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

Nội dung về thời hạn thực hiện đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành quyết định mới trong áp dụng biện pháp GDTXPTT được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 10 Nghị định số 120/2021/NĐ-CP, cụ thể: “Việc đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ quyết định trong áp dụng biện pháp GDTXPTT được thực hiện khi còn thời hạn, thời hiệu áp dụng biện pháp” và “việc ban hành quyết định mới trong áp dụng biện pháp GDTXPTT được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 8 trong trường hợp còn thời hiệu áp dụng biện pháp”.

Khác với Điều 6c Nghị định số 97/2017/NĐ-CP quy định: “Thời hạn thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính là 01 năm, kể từ ngày ra quyết định, trừ trường hợp hết thời hiệu quy định tại điểm a khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính”, có thể thấy, Nghị định số 120/2021/NĐ-CP đã không quy định một thời hạn chung, cụ thể để thực hiện đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành quyết định mới trong áp dụng biện pháp GDTXPTT, mà việc thực hiện xử lý các quyết định có sai sót, vi phạm phụ thuộc hoàn toàn vào thời hạn, thời hiệu áp dụng biện pháp này.

Sở dĩ có sự thay đổi như trên là bởi vì, việc áp dụng thời hạn theo quy định của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) đối với các quyết định trong áp dụng biện pháp GDTXPTT hoàn toàn chưa phù hợp với tính chất biện pháp này, thể hiện ở chỗ: Thời hạn áp dụng biện pháp GDTXPTT là từ 03 đến 06 tháng, như vậy, trường hợp phát hiện quyết định có sai sót, vi phạm và vẫn trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày ra quyết định và còn thời hiệu áp dụng biện pháp GDTXPTT, nhưng đối tượng vi phạm đã chấp hành xong thời hạn áp dụng biện pháp GDTXPTT thì việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới trong áp dụng biện pháp GDTXPTT trong nhiều trường hợp sẽ không còn ý nghĩa. Khác với quyết định trong áp dụng biện pháp GDTXPTT, đối với quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót, vi phạm, nếu người vi phạm đã chấp hành xong quyết định về xử lý vi phạm hành chính mà quyết định đó có sai sót, vi phạm, thì đối tượng vi phạm bị thiệt hại vẫn có thể dễ dàng được hoàn trả hoặc bồi thường theo quy định pháp luật.

3.2. Hiệu lực của quyết định đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, quyết định mới trong áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định, quyết định xử phạt có hiệu lực kể từ ngày ký, trừ trường hợp trong quyết định quy định ngày có hiệu lực khác (khoản 4 Điều 67); quyết định áp dụng biện pháp GDTXPTT có hiệu lực kể từ ngày ký (khoản 4 Điều 98).

Trên cơ sở đó, khoản 1 Điều 6d Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) quy định có 02 thời điểm có hiệu lực của các quyết định sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính, văn bản đính chính quyết định về xử lý vi phạm hành chính là kể từ ngày ký hoặc thời điểm cụ thể ghi trong quyết định. Hay nói cách khác, thời điểm có hiệu lực của các quyết định đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, quyết định mới trong áp dụng biện pháp GDTXPTT có thể là kể từ ngày ký hoặc thời điểm ghi trong quyết định, điều này chưa hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 98 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Chính vì vậy, khoản 3 Điều 10 Nghị định số 120/2021/NĐ-CP đã chỉnh sửa lại nội dung nêu trên để phù hợp với các quyết định trong áp dụng biện pháp GDTXPTT, cụ thể: “Quyết định đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, quyết định mới trong áp dụng biện pháp GDTXPTT được ban hành có hiệu lực kể từ ngày ký”.

3.3. Về thời hạn chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn sau khi thực hiện việc đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, quyết định mới trong áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

Thời hạn chấp hành biện pháp GDTXPTT sau khi thực hiện việc đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, quyết định mới trong áp dụng biện pháp GDTXPTT là một quy định đặc thù, mới được quy định tại khoản 4 Điều 10 Nghị định số 120/2021/NĐ-CP, cụ thể:

- Trường hợp quyết định đính chính, sửa đổi, bổ sung, quyết định mới được ban hành có quy định thời hạn áp dụng biện pháp GDTXPTT và biện pháp quản lý tại gia đình ít hơn thời gian mà người vi phạm đã chấp hành tại quyết định cũ thì người vi phạm được chấm dứt chấp hành biện pháp và được coi là đã chấp hành xong biện pháp GDTXPTT và biện pháp quản lý tại gia đình.

- Trường hợp quyết định đính chính, sửa đổi, bổ sung, quyết định mới được ban hành có quy định thời hạn áp dụng biện pháp GDTXPTT và biện pháp quản lý tại gia đình dài hơn thời gian mà người vi phạm đã chấp hành tại quyết định cũ thì người vi phạm phải tiếp tục chấp hành thời gian còn lại, sau khi đã trừ đi phần thời gian đã chấp hành.

Quy định này tránh trường hợp nếu không quy định rõ ràng, khi một quyết định đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, quyết định mới trong áp dụng biện pháp GDTXPTT được ban hành có quy định thời hạn áp dụng khác với thời hạn ban đầu, đối tượng bị áp dụng biện pháp sẽ phải chấp hành cả 02 thời hạn theo quyết định cũ và quyết định mới, không bảo đảm quyền, lợi ích của đối tượng bị áp dụng biện pháp này.

Có thể thấy rằng, vấn đề đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần, hủy bỏ toàn bộ quyết định trong áp dụng biện pháp GDTXPTT tại Nghị định số 120/2021/NĐ-CP được quy định theo hướng cụ thể, rõ ràng và phù hợp hơn với tính chất đặc thù của các quyết định trong áp dụng biện pháp GDTXPTT, nhằm tạo điều kiện cho lực lượng thực thi công vụ được dễ dàng, thuận lợi, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng bị áp dụng biện pháp này cũng như góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nói chung và thi hành pháp luật trong áp dụng biện pháp GDTXPTT nói riêng.

ThS. Phạm Hồng Nhung
Cục Quản lý XLVPHC và TDTHPL, Bộ Tư pháp


[1]. Tách biệt với các quy định về đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ quyết định về xử phạt vi phạm hành chính tại Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.

Theo dõi chúng tôi trên: