Thứ tư 26/08/2026 14:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đo lường chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của các cơ quan thuộc Bộ Tư pháp

Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2010 - 2020 đã khẳng định rõ từ nay đến năm 2020, Chính phủ, các Bộ, ban, ngành cần tiếp tục đổi mới phương thức làm việc của cơ quan hành chính nhà nước; bảo đảm sự hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước đạt mức trên 80% vào năm 2020; hầu hết các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến trên Mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ ở mức độ III và IV, đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau.

1. Đôi nét về chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước

Để có cơ sở đo lường, xác định mức độ hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước một cách cụ thể, định lượng như đã đề ra tại Nghị quyết số 30c/NQ-CP, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ban hành Quyết định số 1383/QĐ-BNV phê duyệt Đề án xây dựng Phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước. Đề án được xây dựng nhằm đánh giá khách quan chất lượng cung cấp dịch vụ hành chính công của cơ quan hành chính nhà nước. Thông qua đó, các cơ quan hành chính nhà nước nắm bắt được yêu cầu, mong muốn của người dân, tổ chức để có những biện pháp cải thiện chất lượng phục vụ và cung cấp dịch vụ của mình nhằm nâng cao sự hài lòng và lợi ích của người dân, tổ chức.

Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính (tên viết tắt tiếng Anh là SIPAS) là kết quả mang tính định hướng của việc đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước. Chỉ số SIPAS là thước đo mang tính khách quan, phản ánh trung thực kết quả đánh giá của người dân, tổ chức về sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước thông qua việc cung cấp các dịch vụ hành chính công cụ thể. Chỉ số SIPAS được đo lường thông qua điều tra xã hội học đối với người dân, tổ chức đã giải quyết thủ tục hành chính (đã hoàn thành và nhận kết quả) ở các dịch vụ hành chính công được lựa chọn khảo sát. Thông tin điều tra xã hội học được thu thập trên các Phiếu hỏi, được phát tới người dân, tổ chức, gồm khoảng 20 câu hỏi khảo sát trên 04 tiêu chí: (1) Tiếp cận dịch vụ; (2) Thủ tục hành chính; (3) Sự phục vụ của công chức và (4) Kết quả giải quyết công của cơ quan hành chính nhà nước. Với mỗi tiêu chí, người dân, tổ chức đưa ra đánh giá về sự hài lòng và đánh giá chung về sự hài lòng đối với tàn bộ dịch vụ theo thang đánh giá 5 mức: (1) Rất hài lòng, (2) Không hài lòng, (3) Bình thường, (4) Hài lòng và (5) Rất hài lòng. Chỉ số SIPAS được tính toán dựa trên tỷ lệ phần trăm số người dân, tổ chức có câu trả lời ở mức hài lòng và rất hài lòng đối với câu hỏi hài lòng chung về toàn bộ dịch vụ. Bên cạnh đó, phương pháp đo lường này cung cấp các chỉ số thành phần theo từng tiêu chí của dịch vụ, các chỉ số đánh giá chất lượng phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước theo từng yếu tố của dịch vụ, giúp cơ quan quản lý phân tích, xác định cụ thể mức độ hài lòng của người dân, tổ chức đối với dịch vụ được tiến hành khảo sát.

Được sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới, năm 2014, các tỉnh Bình Định, Thanh Hóa và Phú Thọ đã tiến hành khảo sát, lấy ý kiến đối tượng sử dụng dịch vụ công. Qua khảo sát cho thấy bức tranh rõ nét về chất lượng dịch vụ công, mức độ hài lòng và mong muốn của người sử dụng dịch vụ.

Theo đánh giá của Bộ Nội vụ và các địa phương trên, việc khảo sát phản hồi của người sử dụng dịch vụ công được triển khai khách quan, chính xác, phản ánh đúng tình trạng giải quyết thủ tục hành chính của cơ quan hành chính nhà nước đối với tổ chức, cá nhân. Để bảo đảm cuộc khảo sát hoàn toàn khách quan, các địa phương giao cho một cơ quan độc lập tiến hành khảo sát. Sở Nội vụ tỉnh chỉ chịu trách nhiệm quản lí và giám sát quá trình khảo sát.

Ông Soren Davidsen, chuyên gia của Ngân hàng Thế giới, cho rằng chính quyền có trách nhiệm phục vụ người dân và để làm được điều này, chính quyền cần biết mọi người nghĩ gì. Khảo sát mức độ hài lòng của người dân, tổ chức sẽ giúp các địa phương xác định lĩnh vực và vấn đề trong cung cấp dịch vụ cần quan tâm đặc biệt để cải cách hoặc cần xây dựng năng lực, đề ra những giải pháp khắc phục khả thi để nâng cao chất lượng dịch vụ, nâng cao sự hài lòng của người dân, tổ chức; đồng thời đưa ra phản hồi chính sách cho các cấp cao hơn.

Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Tiến Dĩnh cho biết: Việt Nam đã đạt những tiến bộ ấn tượng trong cung cấp dịch vụ, nhưng chất lượng một số lĩnh vực còn kém; còn tồn tại khoảng cách trong cung cấp dịch vụ có chất lượng giữa các địa phương, giữa các vùng trong cả nước; khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản đối với người dân ở vùng sâu, vùng xa cải thiện chưa nhiều, còn có sự khác biệt lớn so với thành thị… Cải cách hành chính nhà nước cần đẩy mạnh hơn nữa để khắc phục những vấn đề này. Cải cách hành chính nhà nước còn phải đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người dân khi mức sống và trình độ dân trí cao hơn. Nền hành chính phải hiệu quả, minh bạch và đáp ứng được nhu cầu của người dân, xã hội. Người dân cần được tham gia vào quá trình ban hành và giám sát việc thực thi chính sách, chương trình, kế hoạch của Chính phủ. Phải bảo đảm mọi người có khả năng tiếp cận và có quyền được sử dụng công bằng và đầy đủ các dịch vụ có chất lượng tốt.

Bộ Nội vụ đã xây dựng phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính. Đây là lần đầu tiên Chính phủ Việt Nam có một công cụ đánh giá khách quan chất lượng dịch vụ công từ đối tượng sử dụng và cũng là lần đầu tiên Chính phủ mang đến cho người dân, tổ chức một công cụ để yêu cầu phục vụ tốt hơn từ các cơ quan nhà nước, nhất là những đối tượng người nghèo, dân tộc thiểu số, người khuyết tật… bởi họ phụ thuộc vào các dịch vụ thiết yếu và sự hỗ trợ của Chính phủ nhiều hơn là những người thuộc tầng lớp trung lưu hay giàu có – những người có khả năng lựa chọn nhiều cơ hội hơn.

Với công cụ này, Bộ Nội vụ sẽ tiến hành điều tra, khảo sát trong phạm vi cả nước. 30.000 mẫu phiếu khảo sát 6 lĩnh vực dịch vụ, ở 70 quận huyện và 210 xã, phường tại 20 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Các bộ, ngành, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương triển khai điều tra khảo sát, xác định chỉ số hài lòng trên cơ sở sử dụng phương pháp mà Bộ Nội vụ đã ban hành với những bổ sung cho phù hợp với nhu cầu và đặc thù của lĩnh vực, ngành hay địa phương.

2. Các dịch vụ hành chính công của Bộ Tư pháp được triển khai trong thời gian qua

Hiện nay, Bộ Tư pháp có khoảng 27 nhóm dịch vụ hành chính công trên 05 lĩnh vực lớn thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp: Nuôi con nuôi, đăng ký giao dịch bảo đảm, bổ trợ tư pháp, lý lịch tư pháp, hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp. Hầu hết tất cả các dịch vụ công trực tuyến của Bộ đều được cung cấp trực tuyến ở mức độ I, II và III, được đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Tư pháp. Các nhóm dịch vụ hành chính công tiêu biểu: Giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; Cấp, gia hạn, sửa đổi giấy phép hoạt động tại Việt Nam của tổ chức con nuôi nước ngoài; Đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm; Chấp nhận khách hàng thường xuyên; Cấp chứng chỉ hành nghề luật sư; Cấp giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam cho luật sư nước ngoài; Cấp giấy phép thành lập công ty luật nước ngoài; Bổ nhiệm công chứng viên; Cấp thẻ công chứng viên; Cấp chứng chỉ hành nghề đấu giá; Cấp giấy phép thành lập trung tâm trọng tài; Cấp phiếu lý lịch tư pháp cho người nước ngoài đã cư trú tại Việt Nam;…

Nhiều đơn vị cung cấp dịch vụ hành chính công của Bộ đã mạnh dạn ứng dụng công nghệ thông tin, áp dụng cá sáng kiến, cải cách hành chính. Điển hình như hệ thống đăng ký trực tuyến giao dịch bảo đảm bằng động sản (trừ tàu bay, tàu biểu) của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm chính thức đi vào hoạt động từ ngày 19/3/2012 đến nay đã tạo một bước ngoặt quan trọng trong việc cải cách thủ tục hành chính. Phần mềm đăng ký trực tuyến mạng lại cho người yêu cầu đăng ký những tính năng ưu việt như: Tự đăng ký trực tuyến, tự tra cứu thông tin miễn phí, nhanh chóng trong 03 giây; Giao diện đăng ký được thiết kế đơn giản, dễ thao tác; Việc đăng ký được thực hiện trong suốt 24/24 giờ mà không phụ thuộc vào giờ làm việc của các Trung tâm đăng ký. Phần mềm mang đến những tính năng tiện ích lớn nhất là công khai và minh bạch hóa tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm, tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí cũng như tạo điều kiện tối đa cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu tìm hiểu thông tin được kịp thời, nhanh chóng. Hiện nay, hệ thống đăng ký trực tuyến đã triển khai ở cấp độ III về cung cấp dịch vụ công trực tuyến.

Trong lĩnh vực nuôi con nuôi, hiện nay, chuyên mục nuôi con nuôi trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Tư pháp đã đăng tải đầy đủ thủ tục hành chính đăng ký việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, bao gồm trình tự thực hiện, các thức thực hiện cũng như thành phần hồ sơ kèm theo: Mẫu đơn, mẫu tờ khai xin nhận con nuôi cho phép người nhận con nuôi tải về để khai báo hoàn thiện hồ sơ, tạo thuận lợi cho người dân, tổ chức trong việc xin nhận con nuôi.

Trong lĩnh vực cấp phiếu lý lịch tư pháp, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã triển khai thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong việc cấp phiếu như triển khai xây dựng phần mềm phục vụ việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Hiện nay, việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp tại Trung tâm đáp ứng mức độ II của dịch vụ hành chính công trực tuyến, cụ thể: Thủ tục yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp và Biểu mẫu tờ khai yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp đã được đăng tải công khai trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Tư pháp. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp có thể truy cập Cổng Thông tin điện tử của Bộ để sử dụng hoặc đề nghị Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia cung cấp để sử dụng miễn phí khi đến làm thủ tục.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả nêu trên, có thể nhận thấy rằng hầu hết các dịch vụ công trực tuyến của Bộ Tư pháp mới chỉ dừng lại ở mức độ II. Vì vậy, các cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng dịch vụ công vẫn phải trực tiếp đến trụ sở cơ quan Bộ Tư pháp để nộp hồ sơ và nhận kết quả đã phần nào gây khó khăn, tốn kém cả về mặt chi phí và thời gian cho người dân. Hơn nữa, về phía người dân, do một bộ phận người dân chưa biết và chưa thực sự quan tâm nhiều đến các dịch vụ công trực tuyến của các cơ quan nhà nước, chưa biết phương thức truy cập vào Cổng Thông tin điện tử của Bộ Tư pháp để tra cứu thông tin về các dịch vụ công do Bộ Tư pháp cung cấp. Thậm chí, khi cán bộ tiếp công dân hướng dẫn công dân truy cập vào Cổng Thông tin điện tử của Bộ Tư pháp để tải mẫu đơn về và điền các thông tin thì nhiều người không hiểu và không biết cách làm, cán bộ tiếp công dân đã phải in và trực tiếp hướng dẫn cho người dân để họ kê khai. Đây là một thực tế mà nhiều chuyên viên pháp lý làm việc với dân gặp phải. Điều này đã làm hạn chế phần nào tính hiệu quả của dịch vụ hành chính công trực tuyến mà các đơn vị thuộc Bộ đang áp dụng. Nguyên nhân của thực trạng trên xuất phát chủ yếu từ trình độ và điều kiện thiết bị công nghệ thông tin của người dân, đặc biệt là khu vực nông thôn còn rất nhiều thiếu thốn gây khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ công trực tuyến.

3. Một số nội dung đề xuất khi tiến hành đo lường chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của các cơ quan thuộc Bộ Tư pháp

Khi tiến hành đo lường chỉ số hành lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của các cơ quan có cung cấp dịch vụ công thuộc Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới (2015-2020), chúng tôi xin đề xuất một số điểm như sau:

Thứ nhất, về phương pháp tiến hành đo lường. Công văn số 1159/BNV-CCHC ngày 10/4/2014 của Bộ Nội vụ hướng dẫn triển khai phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước đã nêu rõ phương pháp tiến hành đo lường là sử dụng các phương pháp điều tra xã hội học. Tổ chức điều tra xã hội học được thực hiện dưới hình thức phát phiếu hỏi để người dân, tổ chức tự nghiên cứu và trả lời. Các cơ quan thuộc Bộ có thể áp dụng một trong những phương thức sau đây tùy thuộc vào điều kiện và nguồn lực của từng đơn vị: Gặp trực tiếp người dân, tổ chức; Gửi phiếu qua đường bưu điện; Tập trung người dân (hoặc đại diện tổ chức) đến một địa điểm để trả lời phiếu; Điều tra trực tuyến trên mạng điện tử. Trong các phương thức kể trên thì phương thức điều tra trực tuyến trên mạng điện tử là phù hợp với hầu hết các lĩnh vực hành chính công mà các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp cung cấp. Phương pháp này đảm bảo tính nhanh chóng, thuận tiện, tiết kiệm thời gian, chi phí. Tuy nhiên, muốn thực hiện được phương pháp này đòi hỏi các đơn vị cần chú trọng đầu tư cho việc ứng dụng công nghệ thông tin, cải thiện việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở cấp độ III và IV để có điều kiện kết hợp giữa cung cấp dịch vụ với điều tra xã hội học.

Thứ hai, về việc lựa chọn dịch vụ công. Do đối tượng điều tra xã hội học để đo lường, xác định chỉ số SIPAS là những người dân, tổ chức đã giải quyết thủ tục hành chính (đã hoàn thành và nhận kết quả) ở dịch vụ công được lựa chọn, nên để đảm bảo việc điều tra xã hội học là tin cậy, phản ánh đúng mức độ hài lòng của người dân, tổ chức thụ hưởng dịch vụ công, cần lựa chọn dịch vụ công có số lượng lớn người dân, tổ chức tham gia sử dụng dịch vụ (100 lượt giải quyết/năm trở lên); không nên tiến hành khảo sát đối với các dịch vụ công mang tính đặc thù, cá biệt, không hướng tới đông đảo người dân, tổ chức (như Cấp giấy phép hoạt động tại Việt Nam của tổ chức con nuôi nước ngoài; Cấp giấy phép thành lập trung tâm trọng tài;…).

Thứ ba, về thời gian tiến hành. Để việc đo lường chỉ số SIPAS được chính xác, các đơn vị có cung cấp dịch vụ hành chính công thuộc Bộ cần có thời gian để hoàn thiện việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc cung cấp các dịch vụ công trực tuyến, chuẩn bị bộ câu hỏi và các phương án trả lời, cũng như các điều kiện cần thiết khác để tiến hành cuộc điều tra. Trong quá trình tiến hành, cần lựa chọn một số dịch vụ công tiêu biểu để tiến hành đo lường trước, sau đó cần có thời gian để sơ kết, rút kinh nghiệm và áp dụng cho các dịch vụ công khác. Theo chu kỳ 2-3 năm, Bộ Tư pháp cần tổ chức đo lường, xác định Chỉ số SIPAS đối với các dịch vụ công đã được đo lường, khảo sát trước đó để có cơ sở đánh giá thực tế mức độ cải thiện chất lượng phục vụ và cung cấp dịch vụ của các đơn vị thuộc Bộ, biểu dương, khen ngợi các đơn vị đã có giải pháp thay đổi, cải tiến chất lượng phục vụ, đồng thời quán triệt, đôn đốc, theo dõi sát các dịch vụ công vẫn chưa đáp ứng nhu cầu của người dân.

Thứ tư, về việc lựa chọn tổ chức tiến hành. Để đảm bảo việc đo lường sự hài lòng của người dân cho kết quả đánh giá khách quan, trung thực, chính xác, cần lựa chọn các tổ chức bên ngoài Bộ Tư pháp. Các tổ chức đạt tiêu chuẩn tham gia đo lường như: Công ty cổ phần chứng nhận WCERT, Công ty cổ phần chứng nhận quốc tế, Công ty TNHH chứng nhận BVQA,…là những tổ chức được cấp phép hoạt động và có đội ngũ chuyên gia đánh giá chuyên nghiệp, sẽ giúp cho việc đo lường chỉ số SIPAS được khách quan và khoa học.

Bảo Hân

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.

Theo dõi chúng tôi trên: