Thứ sáu 13/03/2026 00:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đổi mới cơ chế quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng trong dự án Luật Đất đai (sửa đổi)

Vấn đề quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng là quản lý tiềm lực quốc phòng cần được nghiên cứu thấu đáo, làm rõ về cơ sở chính trị, pháp lý, thực tiễn để tham mưu, kiến nghị, đề xuất hoàn thiện chính sách này trong dự án Luật Đất đai (sửa đổi).

1. Cơ sở chính trị, pháp lý hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng

Chủ trương, quan điểm của Đảng về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai nói chung và đất quốc phòng nói riêng đã được xác định đầy đủ trong giai đoạn vừa qua, cụ thể:

- Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao đã xác định: (i) Phân công hợp lý giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương, đồng thời có sự phân cấp, phân quyền phù hợp, hiệu quả đối với địa phương và tăng cường kiểm ưa, giám sát, kiểm soát, xử lý vi phạm; (ii) Đất đai phải được quy hoạch sử dụng hiệu quả, hợp lý với tầm nhìn dài hạn, hài hòa lợi ích giữa các thế hệ, các vùng, miền, giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; (iii) Bổ sung, hoàn thiện các quy định đối với quản lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh.

- Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tình hình mới đã xác định: Hoàn thiện cơ chế thực thi quyền lực nhà nước, xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của mỗi cơ quan và mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước, giữa trung ương và địa phương.

- Khi kết luận về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Bộ Chính trị đã có Kết luận số 36-KL/TW ngày 06/9/2018, trong đó xác định: (i) Rà soát, hoàn thiện các quy định của pháp luật về đất quốc phòng, an ninh, để có cơ chế quản lý, sử dụng hiệu quả, đúng mục đích, vừa đáp ứng mục tiêu trực tiếp, thường xuyên, vừa bảo đảm sẵn sàng, dự trữ lâu dài nguồn lực đất đai, phục vụ quốc phòng, an ninh khi có tình huống xảy ra; (ii) Quy định rõ trách nhiệm của Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, các bộ, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân các cấp trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh.

- Khi cho chủ trương tháo gỡ vướng mắc, tồn đọng trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng tham gia vào hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội, Bộ Chính trị đã có Kết luận số 59-KL/TW ngày 16/9/2019: (i) Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm trực tiếp, toàn diện trước Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ trong quản lý đất quốc phòng; (ii) Đồng ý chủ trương sửa đổi Luật Đất đai năm 2013, trong đó bổ sung quy định đất quốc phòng sử dụng vào hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Quân đội; Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm quản lý toàn diện, chặt chẽ theo quy định của pháp luật.

Như vậy, chủ trương của Đảng tại các Nghị quyết, Kết luận nêu trên đã rõ, cần được thể chế hóa, quy phạm hóa đầy đủ trách nhiệm, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương trong quản lý nhà nước đối với đất đai nói chung và đất quốc phòng nói riêng.

Một trong những cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng đã được nêu tại Nghị quyết số 132/2020/QH14 ngày 17/11/2020 của Quốc hội khóa XIV về thí điểm tháo gỡ vướng mắc, tồn đọng trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế, trong đó quy định: (i) Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trình cơ quan, người có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất quốc phòng; (ii) Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định phê duyệt hoặc chấm dứt phương án sử dụng đất quốc phòng kết hợp với kinh tế trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực; (iii) Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tổ chức rà soát, lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng; (iv) Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tổ chức thu, nộp vào ngân sách nhà nước các khoản tiền sử dụng đất hằng năm khi sử dụng đất quốc phòng kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế.

Quốc hội quy định trách nhiệm, thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng như trên đã thể chế hóa chủ trương của Đảng về phân công, phân cấp trách nhiệm, thẩm quyền quản lý nhà nước về đất đai, thống nhất với quy định tại khoản 2 Điều 23 Luật Đất đai hiện hành. Chính sách này cần được tiếp tục thể chế hóa và kế thừa hợp lý để phân công, phân cấp trách nhiệm, thẩm quyền quản lý nhà nước về đất đai nói chung và đất quốc phòng nói riêng, để thống nhất, đồng bộ với nội tại giữa các điều khoản (khoản 4 Điều 21 và khoản 2 Điều 201) dự án Luật Đất đai (sửa đổi).

2. Cơ sở thực tiễn hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng

Hệ thống tổ chức Bộ Quốc phòng có đủ các cơ quan, đơn vị, bộ đội thường trực, bộ đội địa phương đảm nhiệm công tác tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quản lý nhà nước về quốc phòng. Khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 2 Luật Quốc phòng năm 2018 quy định: (i) Quốc phòng là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt; (ii) Quân sự là hoạt động đặc biệt của xã hội về xây dựng lực lượng vũ trang, đấu tranh vũ trang, trong đó Quân đội nhân dân làm nòng cốt; (iii) Tiềm lực quốc phòng là khả năng về nhân lực, vật lực, tài chính, tinh thần ở trong nước và ngoài nước có thể huy động để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng.

Đất quốc phòng thuộc tiềm lực quốc phòng, quản lý nhà nước về đất quốc phòng thuộc nội hàm của quản lý nhà nước về quốc phòng. Các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng có đủ nguồn lực và chuyên môn để giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng trong phạm vi cả nước, bảo đảm tính thống nhất của quy hoạch đất quốc phòng gắn với thế bố trí chiến lược đóng quân canh phòng trên từng địa bàn, từng hướng chiến lược trên các chiến trường miền Bắc, miền Trung, miền Nam.

Nghị định số 01/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022 của Chính phủ quy định: Bộ Quốc phòng quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng, khu quân sự, đất quốc phòng; quản lý việc bảo vệ bí mật nhà nước và quốc phòng theo quy định của pháp luật. Như vậy, tại Nghị định này, Chính phủ đã giao cho Bộ Quốc phòng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền quản lý đất quốc phòng. Quy định này phù hợp với nội dung của khoản 2 Điều 23 Luật Đất đai năm 2013. Tuy nhiên, cho đến nay, phạm vi, nội dung, phương thức quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng của các chủ thể quản lý chưa được quy định rõ ràng, chưa thể hiện tính đặc thù trong phân công, phân cấp, giao quyền quản lý nhà nước, mục đích, tính chất sử dụng đất quốc phòng và vị trí, vai trò, trách nhiệm của Bộ Quốc phòng trong quản lý các nguồn lực vật chất, trong đó có nguồn lực đất đai bảo đảm sẵn sàng chiến đấu, nâng cao tiềm lực quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và bảo đảm cho Quân đội thực hiện chức năng, nhiệm vụ: Đội quân chiến đấu, Đội quân công tác, Đội quân lao động sản xuất, cùng toàn dân xây dựng đất nước.

Thực tiễn cho thấy, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không thể quản lý toàn diện, tuyệt đối, trực tiếp về tất cả các nội dung quản lý nhà nước đối với đất đai nói chung và đất quốc phòng nói riêng. Nếu giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng với chính sách chung của Nhà nước và chính sách riêng của từng địa phương sẽ tác động lớn đến tính thống nhất, ổn định của đất quốc phòng; mặt khác, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng không đủ nguồn lực để tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng.

Hiện nay, trách nhiệm, thẩm quyền quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng chưa được rõ ràng trách nhiệm của các chủ thể quản lý, nhất là Bộ Quốc phòng và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng trong thời gian qua, dẫn đến còn lúng túng trong tham mưu, đề xuất và quyết định một số trường hợp cụ thể liên quan đến thay đổi mục đích sử dụng đất quốc phòng.

3. Kiến nghị, đề xuất

Thứ nhất, cần thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng, kế thừa các quy định còn phù hợp về quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng để đạt được mục tiêu quản lý nhà nước là: (i) Hoàn thiện cơ chế thực thi quyền lực nhà nước, rõ vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của mỗi cơ quan và mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước; có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, giữa Trung ương và địa phương; (ii) Khắc phục được tình trạng các địa phương ban hành chính sách riêng sẽ làm phá vỡ tính thống nhất của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng (quy hoạch ngành quốc gia); (iii) Tạo cơ sở pháp lý về cơ chế quản lý đặc thù, khác với cơ chế mang tính phổ biến để bảo vệ vị trí, diện tích, công trình, dự án, vật kiến trúc dưới lòng đất, trên mặt đất gắn liền với đất quốc phòng thuộc bí mật quân sự; phát huy vai trò của Bộ Quốc phòng với vị trí, vai trò là cơ quan nhà nước ở Trung ương, không bị đứt gãy trách nhiệm, thẩm quyền quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng trong phạm vi toàn lãnh thổ, quản lý chặt chẽ hơn, sử dụng có hiệu quả hơn; (iv) Bảo đảm kịp thời nguồn lực đất đai cho sẵn sàng chiến đấu, kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế, nâng cao tiềm lực quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và bảo đảm cho Quân đội thực hiện chức năng, nhiệm vụ: Đội quân chiến đấu, Đội quân công tác, Đội quân lao động sản xuất.

Về cơ chế quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng, an ninh trong dự án Luật Đất đai (sửa đổi), tác giả đề xuất sửa đổi, bổ sung như sau:

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước đối quốc phòng, an ninh thuộc địa bàn quản lý hành chính của địa phương.

- Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng, an ninh trong phạm vi cả nước; phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng, an ninh trong địa bàn quản lý hành chính của địa phương và thực hiện các nhiệm vụ cụ thể theo phân công, phân cấp của Thủ tướng Chính phủ.

Về phạm vi, nội dung quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng và trách nhiệm, quyền hạn của Bộ Quốc phòng, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thực hiện quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng, dự án Luật Đất đai (sửa đổi) cần được thiết kế kỹ thuật để Chính phủ quy định chi tiết chính sách này.

Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Đất đai (sửa đổi), Chính phủ ban hành nghị định quy định trách nhiệm, thẩm quyền, phạm vi nội dung quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của các chủ thể quản lý nhà nước về đất đai nói chung và đất quốc phòng và phù hợp với từng loại đất, mục đích sử dụng đất và mục tiêu quản lý nhà nước về đất đai (trong đó có nội dung, phạm vi quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng).

Thứ hai, quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng do nhiều chủ thể cùng có trách nhiệm, thẩm quyền quản lý ở tầm hoạch định chủ trương chính sách; tham mưu ban hành pháp luật; ban hành pháp luật theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách pháp luật, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, báo cáo việc thực hiện công tác quản lý nhà nước thuộc trách nhiệm của mình. Cần khoanh vùng, quy định rõ phạm vi, nội dung quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng theo hướng:

- Đối với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: (i) Chỉ đạo và tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đất quốc phòng; (ii) Chỉ đạo bảo vệ đất quốc phòng; (iii) Phối hợp trong việc lập, điều chỉnh và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng; (iv) Giao đất cho người sử dụng đất là đơn vị vũ trang nhân dân; (v) Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất là đơn vị vũ trang nhân dân; (vi) Quyết định thu hồi đất quốc phòng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng; (vii) Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất quốc phòng; (viii) Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp, đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất quốc phòng; (ix) Giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất quốc phòng; (x) Phối hợp giải quyết tranh chấp về đất quốc phòng; (xi) Phối hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất quốc phòng; (xii) Xử lý vi phạm pháp luật về đất quốc phòng.

- Đối với Bộ Quốc phòng: (i) Chủ trì, phối hợp xây dựng, trình cơ quan, người có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất quốc phòng; (ii) Chủ trì, phối hợp lập quy hoạch, kế hoạch, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch, trình phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng; (iii) Chủ trì, phối hợp tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng; (iv) Quyết định trưng dụng, quản lý, sử dụng đất trưng dụng để thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; (v) Chủ trì, phối hợp trong thực hiện thống kê, kiểm kê đất quốc phòng; (vi) Chỉ đạo tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đất quốc phòng; (vii) Chỉ đạo quản lý, sử dụng, bảo vệ đất quốc phòng; (viii) Chỉ đạo khảo sát, đo đạc, xác định ranh giới, lập và quản lý hồ sơ, thống kê, kiểm kê, xây dựng hệ thống thông tin bản đồ đất quốc phòng; (ix) Chỉ đạo việc tiếp nhận đất, thu lại đất, chuyển mục đích sử dụng đất, điều chuyển đất, bàn giao đất quốc phòng; (x) Quản lý, chỉ đạo, quyết định phê duyệt phương án sử dụng đất quốc phòng kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế; (xi) Quản lý tài chính về đất quốc phòng sử dụng vào hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội; (xii) Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất quốc phòng thuộc Bộ Quốc phòng; (xiii) Chỉ đạo, quản lý công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật về đất quốc phòng; (xiv) Chỉ đạo, quản lý trong phối hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất quốc phòng.

Đại tá, ThS. Nguyễn Việt Dũng

Vụ Pháp chế Bộ Quốc phòng

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 392), tháng 11/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.
Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Trong không khí xuân Bính Ngọ năm 2026, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tiếp tục được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm với nhiều chính sách mang tính đột phá. Ngày 09/9/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 72-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với sức khỏe của người dân hướng đến mục tiêu xây dựng nước Việt Nam khỏe mạnh, mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe, sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh, nâng cao thể chất, tinh thần và chủ động phòng ngừa bệnh tật trong toàn xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới. Đồng chí Đào Hồng Lan, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh, sức khỏe của người dân phải được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Những chia sẻ của Bộ trưởng mở ra bức tranh toàn diện về định hướng chăm sóc sức khỏe suốt đời, từ phòng bệnh chủ động, giảm chi phí y tế, đến xây dựng hệ thống y tế công bằng, bền vững cho mọi người dân.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là sự kiện chính trị trọng đại, là dấu mốc quan trọng trên con đường phát triển đất nước, khởi điểm lịch sử mới của dân tộc Việt Nam sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Để tạo nền tảng chính trị xác định tầm nhìn chiến lược và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Văn kiện Đại hội Đảng khóa XIV có nhiều điểm mới, đột phá.
Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Thể chế, pháp luật và lợi thế cạnh tranh quốc gia có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Hệ thống thể chế, pháp luật được xây dựng đồng bộ, thống nhất khả thi, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng và có sức cạnh tranh trong hội nhập. Đồng thời, để giữ lợi thế cạnh tranh quốc gia trong hội nhập, hệ thống thể chế, pháp luật phải được quan tâm hoàn thiện để “đánh thức” mọi tiềm năng, thế mạnh, khơi thông và thu hút nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện những giải pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia mình trong nền kinh tế toàn cầu. Trong suốt hành trình hơn 80 năm qua, Bộ Tư pháp xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, luôn được Đảng, Nhà nước giao trọng trách thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc nhận diện đầy đủ và phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập là rất cần thiết, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu cao về hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường pháp lý và thúc đẩy hội nhập, việc rà soát, đánh giá và hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bài viết phân tích mâu thuẫn hiện hành trong quy định pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, làm rõ nguyên nhân từ góc độ kỹ thuật lập pháp và tư duy điều chỉnh; đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả của pháp luật về hợp đồng, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển và tạo đột phá chiến lược được đặt ra với tính cấp thiết và chiều sâu chưa từng có. Đột phá thể chế không chỉ là yêu cầu cải cách quản lý, mà là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với năng lực phát triển, sức cạnh tranh và bản lĩnh tự chủ của nền kinh tế quốc gia trong giai đoạn mới. Trên cơ sở tiếp cận thể chế như hạ tầng mềm của phát triển, bài viết phân tích vai trò trung tâm của đột phá thể chế - đặc biệt là thể chế bảo đảm thực hiện pháp luật hiệu quả, nghiêm minh và nhất quán - đối với việc hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030. Thông qua làm rõ những điểm mới về thể chế trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết khẳng định: chỉ khi nâng cao thực chất hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật, thể chế mới thực sự trở thành nền móng cải cách và động lực nội sinh cho phát triển nhanh, bền vững.
Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an đã xây dựng hồ sơ đề nghị xây dựng Luật An ninh mạng theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Dự thảo Luật gồm 09 chương với 58 điều, đang được thảo luận tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV; đã có 70 lượt đại biểu phát biểu ý kiến tại tổ (ngày 31/10/2025), 15 lượt đại biểu phát biểu tại hội trường (ngày 06/11/2025) và 05 Đoàn đại biểu Quốc hội gửi ý kiến bằng văn bản.
Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia, phát triển kinh tế số, chuyển đổi số quốc gia, khắc phục sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) và Luật An ninh mạng năm 2018, dự án Luật An ninh mạng đã được xây dựng trên cơ sở hợp nhất 02 luật nêu trên và đang được Quốc hội khóa XV xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 10.
Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; đồng thời, bổ sung một số nội dung mới để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là một trong những hình thức hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, đồng thời, mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc.
Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó.
Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Việc xây dựng Luật Tương trợ tư pháp về dân sự là yêu cầu cấp thiết khách quan, nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay trong hoạt động TTTP nói chung và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 nói riêng, đáp ứng yêu cầu của công tác này trong tình hình mới.
Bàn về việc sử dụng thuật ngữ “tương trợ tư pháp” thay thế thuật ngữ “ủy thác tư pháp” trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự

Bàn về việc sử dụng thuật ngữ “tương trợ tư pháp” thay thế thuật ngữ “ủy thác tư pháp” trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự

Hiện, Bộ Tư pháp đang dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự (dự thảo Luật). Trong chế định tương trợ tư pháp về dân sự, thuật ngữ “ủy thác tư pháp” được sử dụng tương đối phổ biến. Nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng thuật ngữ “ủy thác tư pháp” để thiết lập các quy phạm điều chỉnh lĩnh vực tương trợ tư pháp về dân sự là không phù hợp và dự thảo Luật không sử dụng thuật ngữ này là hợp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: