Thứ bảy 02/05/2026 00:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đổi mới cơ chế quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng trong dự án Luật Đất đai (sửa đổi)

Vấn đề quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng là quản lý tiềm lực quốc phòng cần được nghiên cứu thấu đáo, làm rõ về cơ sở chính trị, pháp lý, thực tiễn để tham mưu, kiến nghị, đề xuất hoàn thiện chính sách này trong dự án Luật Đất đai (sửa đổi).

1. Cơ sở chính trị, pháp lý hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng

Chủ trương, quan điểm của Đảng về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai nói chung và đất quốc phòng nói riêng đã được xác định đầy đủ trong giai đoạn vừa qua, cụ thể:

- Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao đã xác định: (i) Phân công hợp lý giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương, đồng thời có sự phân cấp, phân quyền phù hợp, hiệu quả đối với địa phương và tăng cường kiểm ưa, giám sát, kiểm soát, xử lý vi phạm; (ii) Đất đai phải được quy hoạch sử dụng hiệu quả, hợp lý với tầm nhìn dài hạn, hài hòa lợi ích giữa các thế hệ, các vùng, miền, giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; (iii) Bổ sung, hoàn thiện các quy định đối với quản lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh.

- Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tình hình mới đã xác định: Hoàn thiện cơ chế thực thi quyền lực nhà nước, xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của mỗi cơ quan và mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước, giữa trung ương và địa phương.

- Khi kết luận về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Bộ Chính trị đã có Kết luận số 36-KL/TW ngày 06/9/2018, trong đó xác định: (i) Rà soát, hoàn thiện các quy định của pháp luật về đất quốc phòng, an ninh, để có cơ chế quản lý, sử dụng hiệu quả, đúng mục đích, vừa đáp ứng mục tiêu trực tiếp, thường xuyên, vừa bảo đảm sẵn sàng, dự trữ lâu dài nguồn lực đất đai, phục vụ quốc phòng, an ninh khi có tình huống xảy ra; (ii) Quy định rõ trách nhiệm của Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, các bộ, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân các cấp trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh.

- Khi cho chủ trương tháo gỡ vướng mắc, tồn đọng trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng tham gia vào hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội, Bộ Chính trị đã có Kết luận số 59-KL/TW ngày 16/9/2019: (i) Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm trực tiếp, toàn diện trước Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ trong quản lý đất quốc phòng; (ii) Đồng ý chủ trương sửa đổi Luật Đất đai năm 2013, trong đó bổ sung quy định đất quốc phòng sử dụng vào hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Quân đội; Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm quản lý toàn diện, chặt chẽ theo quy định của pháp luật.

Như vậy, chủ trương của Đảng tại các Nghị quyết, Kết luận nêu trên đã rõ, cần được thể chế hóa, quy phạm hóa đầy đủ trách nhiệm, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương trong quản lý nhà nước đối với đất đai nói chung và đất quốc phòng nói riêng.

Một trong những cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng đã được nêu tại Nghị quyết số 132/2020/QH14 ngày 17/11/2020 của Quốc hội khóa XIV về thí điểm tháo gỡ vướng mắc, tồn đọng trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế, trong đó quy định: (i) Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trình cơ quan, người có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất quốc phòng; (ii) Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định phê duyệt hoặc chấm dứt phương án sử dụng đất quốc phòng kết hợp với kinh tế trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực; (iii) Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tổ chức rà soát, lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng; (iv) Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tổ chức thu, nộp vào ngân sách nhà nước các khoản tiền sử dụng đất hằng năm khi sử dụng đất quốc phòng kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế.

Quốc hội quy định trách nhiệm, thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng như trên đã thể chế hóa chủ trương của Đảng về phân công, phân cấp trách nhiệm, thẩm quyền quản lý nhà nước về đất đai, thống nhất với quy định tại khoản 2 Điều 23 Luật Đất đai hiện hành. Chính sách này cần được tiếp tục thể chế hóa và kế thừa hợp lý để phân công, phân cấp trách nhiệm, thẩm quyền quản lý nhà nước về đất đai nói chung và đất quốc phòng nói riêng, để thống nhất, đồng bộ với nội tại giữa các điều khoản (khoản 4 Điều 21 và khoản 2 Điều 201) dự án Luật Đất đai (sửa đổi).

2. Cơ sở thực tiễn hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng

Hệ thống tổ chức Bộ Quốc phòng có đủ các cơ quan, đơn vị, bộ đội thường trực, bộ đội địa phương đảm nhiệm công tác tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quản lý nhà nước về quốc phòng. Khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 2 Luật Quốc phòng năm 2018 quy định: (i) Quốc phòng là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt; (ii) Quân sự là hoạt động đặc biệt của xã hội về xây dựng lực lượng vũ trang, đấu tranh vũ trang, trong đó Quân đội nhân dân làm nòng cốt; (iii) Tiềm lực quốc phòng là khả năng về nhân lực, vật lực, tài chính, tinh thần ở trong nước và ngoài nước có thể huy động để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng.

Đất quốc phòng thuộc tiềm lực quốc phòng, quản lý nhà nước về đất quốc phòng thuộc nội hàm của quản lý nhà nước về quốc phòng. Các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng có đủ nguồn lực và chuyên môn để giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng trong phạm vi cả nước, bảo đảm tính thống nhất của quy hoạch đất quốc phòng gắn với thế bố trí chiến lược đóng quân canh phòng trên từng địa bàn, từng hướng chiến lược trên các chiến trường miền Bắc, miền Trung, miền Nam.

Nghị định số 01/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022 của Chính phủ quy định: Bộ Quốc phòng quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng, khu quân sự, đất quốc phòng; quản lý việc bảo vệ bí mật nhà nước và quốc phòng theo quy định của pháp luật. Như vậy, tại Nghị định này, Chính phủ đã giao cho Bộ Quốc phòng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền quản lý đất quốc phòng. Quy định này phù hợp với nội dung của khoản 2 Điều 23 Luật Đất đai năm 2013. Tuy nhiên, cho đến nay, phạm vi, nội dung, phương thức quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng của các chủ thể quản lý chưa được quy định rõ ràng, chưa thể hiện tính đặc thù trong phân công, phân cấp, giao quyền quản lý nhà nước, mục đích, tính chất sử dụng đất quốc phòng và vị trí, vai trò, trách nhiệm của Bộ Quốc phòng trong quản lý các nguồn lực vật chất, trong đó có nguồn lực đất đai bảo đảm sẵn sàng chiến đấu, nâng cao tiềm lực quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và bảo đảm cho Quân đội thực hiện chức năng, nhiệm vụ: Đội quân chiến đấu, Đội quân công tác, Đội quân lao động sản xuất, cùng toàn dân xây dựng đất nước.

Thực tiễn cho thấy, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không thể quản lý toàn diện, tuyệt đối, trực tiếp về tất cả các nội dung quản lý nhà nước đối với đất đai nói chung và đất quốc phòng nói riêng. Nếu giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng với chính sách chung của Nhà nước và chính sách riêng của từng địa phương sẽ tác động lớn đến tính thống nhất, ổn định của đất quốc phòng; mặt khác, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng không đủ nguồn lực để tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng.

Hiện nay, trách nhiệm, thẩm quyền quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng chưa được rõ ràng trách nhiệm của các chủ thể quản lý, nhất là Bộ Quốc phòng và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng trong thời gian qua, dẫn đến còn lúng túng trong tham mưu, đề xuất và quyết định một số trường hợp cụ thể liên quan đến thay đổi mục đích sử dụng đất quốc phòng.

3. Kiến nghị, đề xuất

Thứ nhất, cần thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng, kế thừa các quy định còn phù hợp về quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng để đạt được mục tiêu quản lý nhà nước là: (i) Hoàn thiện cơ chế thực thi quyền lực nhà nước, rõ vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của mỗi cơ quan và mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước; có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, giữa Trung ương và địa phương; (ii) Khắc phục được tình trạng các địa phương ban hành chính sách riêng sẽ làm phá vỡ tính thống nhất của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng (quy hoạch ngành quốc gia); (iii) Tạo cơ sở pháp lý về cơ chế quản lý đặc thù, khác với cơ chế mang tính phổ biến để bảo vệ vị trí, diện tích, công trình, dự án, vật kiến trúc dưới lòng đất, trên mặt đất gắn liền với đất quốc phòng thuộc bí mật quân sự; phát huy vai trò của Bộ Quốc phòng với vị trí, vai trò là cơ quan nhà nước ở Trung ương, không bị đứt gãy trách nhiệm, thẩm quyền quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng trong phạm vi toàn lãnh thổ, quản lý chặt chẽ hơn, sử dụng có hiệu quả hơn; (iv) Bảo đảm kịp thời nguồn lực đất đai cho sẵn sàng chiến đấu, kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế, nâng cao tiềm lực quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và bảo đảm cho Quân đội thực hiện chức năng, nhiệm vụ: Đội quân chiến đấu, Đội quân công tác, Đội quân lao động sản xuất.

Về cơ chế quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng, an ninh trong dự án Luật Đất đai (sửa đổi), tác giả đề xuất sửa đổi, bổ sung như sau:

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước đối quốc phòng, an ninh thuộc địa bàn quản lý hành chính của địa phương.

- Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng, an ninh trong phạm vi cả nước; phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng, an ninh trong địa bàn quản lý hành chính của địa phương và thực hiện các nhiệm vụ cụ thể theo phân công, phân cấp của Thủ tướng Chính phủ.

Về phạm vi, nội dung quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng và trách nhiệm, quyền hạn của Bộ Quốc phòng, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thực hiện quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng, dự án Luật Đất đai (sửa đổi) cần được thiết kế kỹ thuật để Chính phủ quy định chi tiết chính sách này.

Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Đất đai (sửa đổi), Chính phủ ban hành nghị định quy định trách nhiệm, thẩm quyền, phạm vi nội dung quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của các chủ thể quản lý nhà nước về đất đai nói chung và đất quốc phòng và phù hợp với từng loại đất, mục đích sử dụng đất và mục tiêu quản lý nhà nước về đất đai (trong đó có nội dung, phạm vi quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng).

Thứ hai, quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng do nhiều chủ thể cùng có trách nhiệm, thẩm quyền quản lý ở tầm hoạch định chủ trương chính sách; tham mưu ban hành pháp luật; ban hành pháp luật theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách pháp luật, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, báo cáo việc thực hiện công tác quản lý nhà nước thuộc trách nhiệm của mình. Cần khoanh vùng, quy định rõ phạm vi, nội dung quản lý nhà nước đối với đất quốc phòng theo hướng:

- Đối với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: (i) Chỉ đạo và tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đất quốc phòng; (ii) Chỉ đạo bảo vệ đất quốc phòng; (iii) Phối hợp trong việc lập, điều chỉnh và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng; (iv) Giao đất cho người sử dụng đất là đơn vị vũ trang nhân dân; (v) Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất là đơn vị vũ trang nhân dân; (vi) Quyết định thu hồi đất quốc phòng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng; (vii) Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất quốc phòng; (viii) Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp, đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất quốc phòng; (ix) Giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất quốc phòng; (x) Phối hợp giải quyết tranh chấp về đất quốc phòng; (xi) Phối hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất quốc phòng; (xii) Xử lý vi phạm pháp luật về đất quốc phòng.

- Đối với Bộ Quốc phòng: (i) Chủ trì, phối hợp xây dựng, trình cơ quan, người có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất quốc phòng; (ii) Chủ trì, phối hợp lập quy hoạch, kế hoạch, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch, trình phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng; (iii) Chủ trì, phối hợp tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng; (iv) Quyết định trưng dụng, quản lý, sử dụng đất trưng dụng để thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; (v) Chủ trì, phối hợp trong thực hiện thống kê, kiểm kê đất quốc phòng; (vi) Chỉ đạo tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đất quốc phòng; (vii) Chỉ đạo quản lý, sử dụng, bảo vệ đất quốc phòng; (viii) Chỉ đạo khảo sát, đo đạc, xác định ranh giới, lập và quản lý hồ sơ, thống kê, kiểm kê, xây dựng hệ thống thông tin bản đồ đất quốc phòng; (ix) Chỉ đạo việc tiếp nhận đất, thu lại đất, chuyển mục đích sử dụng đất, điều chuyển đất, bàn giao đất quốc phòng; (x) Quản lý, chỉ đạo, quyết định phê duyệt phương án sử dụng đất quốc phòng kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế; (xi) Quản lý tài chính về đất quốc phòng sử dụng vào hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội; (xii) Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất quốc phòng thuộc Bộ Quốc phòng; (xiii) Chỉ đạo, quản lý công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật về đất quốc phòng; (xiv) Chỉ đạo, quản lý trong phối hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất quốc phòng.

Đại tá, ThS. Nguyễn Việt Dũng

Vụ Pháp chế Bộ Quốc phòng

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 392), tháng 11/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghip ln thtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, s nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, quyền tiếp cận thông tin là tiền đề quan trọng để người khuyết tật hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, “khoảng cách số” và những khoảng trống của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 làm tăng nguy cơ người khuyết tật bị “bỏ lại phía sau”. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu, nghiên cứu đánh giá thực trạng khung pháp lý cũng như thực tiễn thi hành quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật; từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba điểm nghẽn lớn là thiếu quy định bắt buộc về định dạng thông tin dễ tiếp cận; giới hạn về chủ thể cung cấp thông tin và thiếu cơ chế phối hợp hỗ trợ. Để giải quyết, nghiên cứu đề xuất ba giải pháp trọng tâm: (i) đa dạng hóa phương thức cung cấp qua nền tảng số và bắt buộc cung cấp định dạng chuyên biệt; (ii) mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thiết yếu, thiết lập cơ chế để hệ thống trợ giúp pháp lý trở thành đầu mối hỗ trợ, “phiên dịch” thông tin cho người khuyết tật; (iii) hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thông qua chính sách miễn phí tiếp cận thông tin và đầu tư hạ tầng công nghệ bao trùm.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ Nhất xem xét, thông qua đã quy định phân quyền, phân cấp bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, tạo cơ sở pháp lý cho công tác trợ giúp pháp lý phát triển theo hướng chuyên nghiệp, sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách, góp phần thực hiện chính sách “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa” và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt là nhóm “dễ bị tổn thương”.
Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí như người nghèo, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi… khi tham gia tố tụng với tư cách là đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích liên quan) có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc nhờ trợ giúp pháp lý tham gia bảo vệ theo quy định pháp luật.
Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Chính sách Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật thời gian qua, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã trình Chính phủ về hồ sơ chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Theo đó, việc sửa đổi toàn diện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, chuyển đổi số.
Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng kính mời các chuyên gia, độc giả tham gia viết bài cho ấn phẩm chuyên đề chuyên sâu về truyền thông chính sách và góp ý vào dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.

Theo dõi chúng tôi trên: