![]() |
| Các đại biểu dự Hội thảo Tham vấn về mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư tại khu vực phía Bắc |
Nghiên cứu, hoàn thiện mô hình quản lý nhà nước và tự quản về tổ chức và hoạt động luật sư là yêu cầu cần thiết
Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) đã tạo hành lang pháp lý thông thoáng để tổ chức xã hội - nghề nghiệp có thể phát huy vai trò tự quản, tự chịu trách nhiệm của mình; Nhà nước thực hiện chức năng định hướng, điều tiết và hỗ trợ phát triển nghề luật sư; cơ quan quản lý nhà nước ở cấp Trung ương tập trung xây dựng và hoạch định chính sách phát triển nghề luật sư, hoàn thiện thể chế, đào tạo nghề luật sư, kiểm tra, thanh tra, tranh thủ nguồn lực hỗ trợ phát triển nghề luật sư.
Bên cạnh những kết quả nổi bật đạt được sau 20 năm triển khai thi hành Luật, hoạt động quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư, cũng như cơ chế tự quản của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư còn bộc lộ hạn chế, bất cập như: Chất lượng luật sư chưa đồng đều, chưa tương xứng với yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn; phẩm chất đạo đức, ý thức tuân thủ pháp luật, quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của một số luật sư còn hạn chế; trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư chưa đáp ứng được yêu cầu; các chủ trương, định hướng mới của Đảng và Nhà nước liên quan đến tổ chức và hoạt động của luật sư trong thời gian gần đây chưa được thể chế hóa đầy đủ trong các quy định của pháp luật về luật sư…
Trên cơ sở đó, việc nghiên cứu, hoàn thiện mô hình quản lý nhà nước và tự quản về tổ chức và hoạt động luật sư là yêu cầu cần thiết, góp phần khắc phục những tồn tại, hạn chế, nâng cao hiệu quả quản lý, phát huy vai trò tự quản của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư; đồng thời tạo điều kiện cho nghề luật sư ở Việt Nam phát triển đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới.
Phát huy hiệu quả cơ chế tự quản của Đoàn Luật sư
Theo Luật sư Nguyễn Trí Dưỡng, Đoàn Luật sư thành phố Bắc Ninh, để vai trò tự quản của Đoàn Luật sư phát huy hiệu quả trong giai đoạn mới, cần quan tâm một số điều kiện và định hướng sau:
Thứ nhất, cần thống nhất chính sách và sự quan tâm của chính quyền địa phương đối với Đoàn Luật sư, từ xác định vị trí, chức năng, giao nhiệm vụ đến quản lý, phối hợp và bố trí nguồn lực; trong đó cần xem xét thống nhất việc công nhận Đoàn là hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ. Mức hỗ trợ có thể phù hợp với quy mô, điều kiện từng địa phương nhưng cần tránh chênh lệch chính sách làm ảnh hưởng đến khả năng thực hiện nhiệm vụ tự quản.
![]() |
| Luật sư Nguyễn Trí Dưỡng, Đoàn Luật sư thành phố Bắc Ninh trao đổi về phát huy hiệu quả vai trò tự quản của Đoàn Luật sư trong giai đoạn mới |
Thứ hai, cần bảo đảm điều kiện tối thiểu cho các Đoàn chưa đủ khả năng tự chủ, nhất là trụ sở, tài chính và nhân sự giúp việc. Cùng với hỗ trợ của Nhà nước, có thể khuyến khích mô hình kết nghĩa, phối hợp tự nguyện giữa Đoàn có điều kiện thuận lợi và Đoàn còn khó khăn để chia sẻ kinh nghiệm, bồi dưỡng, công nghệ và nguồn lực phù hợp.
Thứ ba, cần hoàn thiện nội quy, quy chế, quy định và tổ chức thực hiện nghiêm túc. Văn bản phải quy định rõ quyền, nghĩa vụ của thành viên; trách nhiệm của Ban Chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng, kỷ luật và Văn phòng; cách tiếp nhận, giải quyết công việc, công khai tài chính, kiểm tra và giám sát. Mỗi việc cần rõ người chủ trì, người phối hợp, thời hạn và chế độ báo cáo.
Thứ tư, cần tăng vai trò đại diện, bảo vệ và hỗ trợ thành viên song hành với quản lý, giám sát. Đoàn phải thường xuyên nắm bắt khó khăn, nguyện vọng; tiếp nhận và trả lời kiến nghị; hỗ trợ bảo vệ quyền hành nghề hợp pháp; cung cấp thông tin, bồi dưỡng theo nhu cầu, kết nối và trao đổi kinh nghiệm. Luật sư cần thấy Đoàn là nơi có thể tìm đến khi cần hỗ trợ, không chỉ là nơi thực hiện nghĩa vụ hoặc chịu kiểm tra.
Thứ năm, cần sử dụng dữ liệu để quản lý tốt hơn và đánh giá bằng kết quả thực hiện nhiệm vụ. Chuyển đổi số trước hết phục vụ hồ sơ luật sư, tổ chức hành nghề, tập sự, bồi dưỡng, vụ án được phân công theo yêu cầu, trợ giúp pháp lý, phản ánh và kỷ luật. Qua đó, có thể theo dõi tiến độ, thời gian giải quyết, kết quả hòa giải, bảo vệ quyền hành nghề, công khai tài chính và phục vụ cộng đồng.
Thứ sáu, cần tăng trách nhiệm hai chiều giữa Đoàn Luật sư và thành viên, đồng thời phát huy sự phối hợp song hành của tổ chức hành nghề. Luật sư thực hiện nghĩa vụ, chủ động tham gia, góp ý và giám sát; Đoàn Luật sư lắng nghe, đại diện, bảo vệ và hỗ trợ. Tổ chức hành nghề trực tiếp quản lý, sử dụng luật sư nên phối hợp thường xuyên với Đoàn trong việc cung cấp thông tin, bồi dưỡng, giám sát đạo đức, hỗ trợ hành nghề và thực hiện trách nhiệm xã hội. Ngoài ra, cần quy định rõ đầu mối, nội dung, cách phối hợp và giữ đúng thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi bên.
Xây dựng hệ thống quản lý chung, thống nhất đối với luật sư, tổ chức hành nghề luật sư và hoạt động hành nghề
Theo Luật sư Trần Thị Thùy Liên, Đoàn Luật sư thành phố Hải Phòng, các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước đối với luật sư và hành nghề luật sư hiện cơ bản đã tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, trong bối cảnh hoạt động quản lý nhà nước đang có nhiều thay đổi theo hướng số hóa, chuyên nghiệp hóa, công tác quản lý đối với luật sư cũng cần được đổi mới tương ứng.
![]() |
| Luật sư Trần Thị Thùy Liên, Đoàn Luật sư thành phố Hải Phòng cho rằng, các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước đối với luật sư và hành nghề luật sư hiện cơ bản đã tương đối đầy đủ |
Từ thực tiễn hành nghề, Luật sư Trần Thị Thùy Liên đề xuất xây dựng hệ thống quản lý chung, thống nhất đối với luật sư, tổ chức hành nghề luật sư và hoạt động hành nghề. Hệ thống này cần được kết nối, liên thông giữa Bộ Tư pháp, cơ quan chuyên môn, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Đoàn Luật sư và các cơ quan có liên quan. Trong đó, có thể nghiên cứu cơ chế đăng ký, cấp số quản lý đối với luật sư và liên thông thông tin giữa các cơ quan nhằm nhận diện, quản lý chính xác chủ thể hành nghề.
Mặt khác, giải pháp số hóa không chỉ phục vụ quản lý hoạt động hành nghề mà còn góp phần hạn chế tình trạng cá nhân, tổ chức không đủ điều kiện nhưng nhân danh luật sư hoặc tổ chức hành nghề luật sư để cung cấp dịch vụ pháp lý, làm ảnh hưởng đến uy tín và hình ảnh chung của đội ngũ luật sư. Một hệ thống quản lý thống nhất cũng có thể hỗ trợ quản lý thông tin về tổ chức hành nghề luật sư và các hoạt động nghề nghiệp một cách đồng bộ, minh bạch hơn.
Về chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, Luật sư Trần Thị Thùy Liên nhấn mạnh, không nên hiểu tự quản chỉ là trách nhiệm của từng luật sư, Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư hoặc Liên đoàn Luật sư Việt Nam, mà cần được tổ chức theo hướng phân cấp, xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể. Đối với luật sư hoạt động tại các tổ chức hành nghề, cần nghiên cứu giao một số nhiệm vụ quản lý trực tiếp cho tổ chức hành nghề luật sư. Chẳng hạn, tổ chức hành nghề có thể chịu trách nhiệm đôn đốc luật sư thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến đóng phí, tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ và tuân thủ các quy định của pháp luật, quy định nghề nghiệp. Cách phân định này sẽ giảm áp lực cho Đoàn Luật sư trong việc theo dõi, đôn đốc từng thành viên, đồng thời xác lập trách nhiệm cụ thể của người đứng đầu tổ chức hành nghề đối với luật sư thuộc tổ chức mình.
Ngoài ra, Luật sư Trần Thị Thùy Liên nhận định, mối quan hệ giữa Đoàn Luật sư và các tổ chức hành nghề hiện còn chưa chặt chẽ. Trong khi các tổ chức hành nghề chủ yếu tập trung phát triển hoạt động của đơn vị mình, sự phối hợp vì mục tiêu phát triển chung của nghề luật sư chưa được thể hiện rõ. Vì vậy, cần quy định cụ thể hơn về cơ chế phối hợp, trách nhiệm và phương thức kết nối giữa Đoàn Luật sư với tổ chức hành nghề luật sư; đồng thời làm rõ vai trò kết nối của Đoàn Luật sư với cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội doanh nghiệp và các tổ chức có liên quan.
Đại diện Đoàn Luật sư thành phố Hải Phòng cũng cho rằng, cần xác định tổ chức hành nghề luật sư là một đầu mối quan trọng trong quản lý hoạt động nghề nghiệp. Đây là chủ thể trực tiếp ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng, đồng thời quản lý luật sư đăng ký hành nghề tại tổ chức. Vì vậy, bên cạnh trách nhiệm quản lý của cơ quan nhà nước và vai trò của Đoàn Luật sư, cần phát huy trách nhiệm quản lý trực tiếp của tổ chức hành nghề, trên cơ sở phân quyền, phân cấp rõ ràng.
Chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật
Nhấn mạnh quản lý nhà nước và tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư là hai vấn đề có ý nghĩa trọng yếu đối với quá trình tổ chức, phát triển nghề luật sư, bà Đỗ Hoàng Yến, nguyên Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp (Bộ Tư pháp) cho rằng, việc xác định đúng phạm vi, vai trò của quản lý nhà nước và trách nhiệm tự quản là cơ sở để hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng nghề luật sư và đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
![]() |
| Bà Đỗ Hoàng Yến, nguyên Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp (Bộ Tư pháp) cho rằng, việc xác định đúng phạm vi, vai trò của quản lý nhà nước và trách nhiệm tự quản là cơ sở để hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng nghề luật sư và đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới |
Theo bà Đỗ Hoàng Yến, quản lý nhà nước đối với nghề luật sư trước hết nhằm bảo đảm tính pháp quyền và trật tự công cộng. Luật sư hoạt động trong lĩnh vực tư pháp, trực tiếp liên quan đến pháp luật, công lý và quyền con người. Vì vậy, sự quản lý của Nhà nước là cần thiết nhằm bảo đảm trật tự pháp luật, trật tự xã hội, đồng thời xác lập vị trí pháp lý của nghề luật sư trong xã hội.
Quản lý nhà nước còn có vai trò bảo vệ quyền và lợi ích của khách hàng, cộng đồng thông qua việc thiết lập các tiêu chuẩn đối với người hành nghề, từ đào tạo, tập sự đến cấp chứng chỉ hành nghề, chuẩn hóa hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý. Cùng với đó, Nhà nước có trách nhiệm ghi nhận, bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của luật sư trong quá trình hành nghề, trong đó có các quyền tham gia thủ tục pháp lý, tranh tụng theo quy định.
Về chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, nguyên Cục trưởng cho rằng, đây là việc các tổ chức như Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Đoàn Luật sư các địa phương được trao quyền tổ chức, điều hành, quản lý các công việc nội bộ của nghề luật sư trong khuôn khổ pháp luật và điều lệ. Nội dung tự quản bao gồm xây dựng, giám sát thực hiện quy tắc đạo đức nghề nghiệp; xử lý kỷ luật, giải quyết khiếu nại; giám sát tập sự hành nghề; tổ chức bồi dưỡng chuyên môn và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của luật sư thành viên.
Nghề luật sư có yêu cầu về mức độ tự quản tương đối cao do tính chất đặc thù của nghề tự do cung cấp dịch vụ pháp lý và hoạt động trong lĩnh vực pháp luật. Đặc biệt, tổ chức nghề nghiệp và những người hành nghề có khả năng nhận diện rõ các yêu cầu về kỹ thuật chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp để xây dựng chuẩn mực ứng xử, giám sát và nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp. Thực hiện tốt cơ chế tự quản sẽ góp phần nâng cao chất lượng và uy tín của nghề luật sư.
Đề cập mối quan hệ giữa quản lý nhà nước và chế độ tự quản nghề nghiệp, bà Đỗ Hoàng Yến cho rằng, cần có cách hiểu phù hợp về nguyên tắc “quản lý nhà nước kết hợp với chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư”. Tự quản không đồng nghĩa với việc đứng ngoài quản lý nhà nước mà phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật. Nhà nước thực hiện quản lý đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong khi tổ chức xã hội - nghề nghiệp thực hiện chức năng tự quản trong phạm vi thẩm quyền được pháp luật quy định.
Từ góc độ này, cơ quan chủ trì soạn thảo cần phân định rõ hơn vai trò của cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức tự quản. Cơ quan nhà nước tập trung thực hiện chức năng quản lý, kiểm soát tính hợp pháp và hỗ trợ phát triển; tổ chức xã hội - nghề nghiệp đảm nhận vai trò quản lý chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và đại diện cho luật sư. Việc xác định chưa rõ phạm vi, trách nhiệm của từng chủ thể có thể dẫn đến cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất trong thực tiễn.
Dự án án Luật Luật sư (sửa đổi) sẽ được trình Quốc hội cho ý kiến và xem xét thông qua tại Kỳ họp thứ hai trong tháng 10 - tháng 11/2026.