Thứ ba 06/10/2026 12:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Chủ trương xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy trách nhiệm tự quản nghề nghiệp của luật sư. Bên cạnh đó, trong bối cảnh nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mô hình quản lý nhà nước và tự quản về luật sư cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Về vấn đề này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc phỏng vấn Tiến sĩ, Luật sư Đào Ngọc Chuyền, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam về mô hình quản lý và tự quản về luật sư.
Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới
TS. Luật sư Đào Ngọc Chuyền trao đổi tại Hội thảo tham vấn về mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư tại khu vực phía Bắc do Cục Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp tổ chức

PV: Từ thực tiễn phát triển nghề luật sư hiện nay, Luật sư đánh giá như thế nào về những yêu cầu đặt ra đối với tổ chức hành nghề luật sư trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng?

TS. Luật sư Đào Ngọc Chuyền: Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, cùng với yêu cầu đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang đặt ra yêu cầu dịch vụ pháp lý phải đi trước rủi ro. Tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, cùng định hướng hội nhập quốc tế đã làm gia tăng nhu cầu tư vấn pháp lý trong các lĩnh vực như: Dự án, tài chính, công nghệ, dữ liệu, sở hữu trí tuệ, lao động, thuế, cạnh tranh và giải quyết tranh chấp. Trước yêu cầu này, các tổ chức hành nghề luật sư không chỉ cần nâng cao năng lực tham gia thị trường trong nước mà còn phải tăng cường hợp tác với các hãng luật, chuyên gia nước ngoài, đồng hành cùng doanh nghiệp Việt Nam đầu tư, kinh doanh ở nước ngoài và hỗ trợ nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Cùng với đó, hoạt động hành nghề luật sư ngày càng đòi hỏi chuyên môn hóa theo từng lĩnh vực, trong khi nhu cầu của khách hàng lại mang tính tổng hợp. Một dự án kinh tế tuần hoàn hoặc chuyển đổi xanh có thể đồng thời đặt ra các vấn đề pháp lý về đất đai, môi trường, tín chỉ carbon, công nghệ, hợp đồng trong chuỗi cung ứng, tín dụng, thuế và giải quyết tranh chấp. Đối với doanh nghiệp tư nhân, nhu cầu hỗ trợ pháp lý có thể phát sinh xuyên suốt quá trình từ thành lập, huy động vốn, quản trị, tuân thủ pháp luật đến tái cấu trúc hoặc mở rộng hoạt động ra nước ngoài. Điều này đòi hỏi các tổ chức hành nghề luật sư phải hình thành các nhóm chuyên môn có khả năng phối hợp liên ngành, đồng thời nâng cao năng lực quản trị hồ sơ, ngoại ngữ và hiểu biết về thông lệ quốc tế.

Theo văn bản góp ý ngày 01/6/2026 của Liên đoàn Luật sư Việt Nam, cả nước có hơn 6.000 tổ chức hành nghề luật sư, song phần lớn có quy mô nhỏ, phân tán; chỉ khoảng 30 - 40 tổ chức có từ 20 đến 100 luật sư. Từ thực tiễn này, vấn đề đặt ra không phải là định hướng tất cả tổ chức hành nghề phải phát triển theo mô hình quy mô lớn, mà cần tạo điều kiện để các văn phòng chuyên sâu, công ty luật, tổ chức hành nghề đa lĩnh vực, đủ năng lực tham gia các dự án lớn và giải quyết tranh chấp có yếu tố quốc tế đều cùng tồn tại.

PV: Thưa ông, việc phân định giữa trách nhiệm quản lý nhà nước và chế độ tự quản nghề nghiệp luật sư cần được thể hiện như thế nào trong dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) để tránh chồng chéo về thẩm quyền?

TS. Luật sư Đào Ngọc Chuyền: Theo tôi, mô hình kết hợp quản lý nhà nước và chế độ tự quản nghề nghiệp luật sư cần được xác lập trên cơ sở phân định rõ vai trò, trách nhiệm của từng chủ thể. Đảng lãnh đạo thông qua định hướng chủ trương, công tác tổ chức Đảng, giáo dục chính trị và giám sát việc thực hiện đường lối; bảo đảm hoạt động của luật sư phục vụ Nhà nước pháp quyền, chế độ và Nhân dân. Nhà nước thực hiện quản lý thông qua Chính phủ, Bộ Tư pháp và cơ quan có thẩm quyền ở địa phương, tập trung xây dựng tiêu chuẩn, quy định điều kiện hành nghề, đăng ký tổ chức hành nghề, thanh tra, xử lý vi phạm theo pháp luật và bảo đảm môi trường cạnh tranh công bằng. Đối với Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các Đoàn Luật sư, tự quản nghề nghiệp cần tập trung vào xây dựng, giám sát việc tuân thủ chuẩn mực đạo đức, bồi dưỡng chuyên môn, quản lý hội viên, hỗ trợ hành nghề, hòa giải và xử lý kỷ luật trong phạm vi thẩm quyền được pháp luật quy định.

Bên cạnh đó, quyền tự quản cần được quy định theo hướng thực chất, thay vì chỉ dừng ở việc ghi nhận về nguyên tắc. Các vấn đề thuộc trách nhiệm quản lý nghề nghiệp, trong đó có quản lý tư cách thành viên và Thẻ luật sư, cần được xem xét trao quyền phù hợp cho tổ chức hành nghề luật sư; đồng thời, cơ chế tự quản phải gắn với chia sẻ dữ liệu với Bộ Tư pháp, công khai thông tin, kiểm tra, khiếu nại và giám sát, qua đó tăng cường trách nhiệm giải trình và bảo đảm hoạt động tự quản được thực hiện đúng pháp luật.

Cùng với việc trao quyền, dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) cần thiết lập các cơ chế kiểm soát để nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm trong hoạt động tự quản, chú trọng minh bạch tài chính, bảo đảm dân chủ trong bầu cử, quy định giới hạn nhiệm kỳ phù hợp, phòng ngừa lợi ích nhóm và xử lý kỷ luật đúng trình tự, thủ tục. Đây là những điều kiện cần thiết để quyền tự quản được thực hiện thực chất, hạn chế nguy cơ lạm dụng quyền hạn hoặc phát sinh xung đột lợi ích trong tổ chức nghề nghiệp.

Liên đoàn Luật sư Việt Nam là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và thuộc nhóm hội được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ theo Quyết định số 118-QĐ/TW ngày 22/8/2023 của Ban Bí thư ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở Trung ương. Theo Chính sách 3 đã được Chính phủ thông qua, Mặt trận đóng vai trò giám sát, phối hợp quản lý, tham gia phản biện chính sách và kết nối dịch vụ pháp lý với người dân. Vì vậy, dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) cần quy định rõ phạm vi phối hợp, cơ chế trao đổi thông tin và trách nhiệm của các bên, bảo đảm hoạt động giám sát, phối hợp không làm phát sinh thêm tầng nấc cấp phép đối với từng hoạt động nghề nghiệp của luật sư.

PV: Chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi rõ nét trong hoạt động hành nghề luật sư. Theo ông, cần xây dựng hạ tầng và cơ chế liên thông dữ liệu như thế nào để vừa tạo thuận lợi cho luật sư trong quá trình hành nghề, vừa bảo đảm an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu?

TS. Luật sư Đào Ngọc Chuyền: Mỗi tổ chức hành nghề luật sư, nhất là các tổ chức hoạt động đa lĩnh vực, cần xây dựng bộ máy điều hành chuyên nghiệp, quy chế phân quyền rõ ràng, cơ chế quản lý chất lượng và hồ sơ, quy trình kiểm tra xung đột lợi ích trước khi tiếp nhận vụ việc, cùng các yêu cầu về bảo mật dữ liệu, hợp đồng dịch vụ và trách nhiệm bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

Hoạt động lãnh đạo chuyên môn cần do luật sư chịu trách nhiệm; các chuyên gia về tài chính, công nghệ và quản trị có thể tham gia hỗ trợ công tác điều hành trong phạm vi pháp luật cho phép; đồng thời, cần xác định rõ người phụ trách từng vụ việc, thiết lập cơ chế rà soát độc lập và quy trình tiếp nhận, giải quyết khiếu nại của khách hàng.

Trong quá trình chuyển đổi số, luật sư cần được tạo điều kiện tiếp cận hệ sinh thái số của Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan điều tra và cơ quan thi hành án phù hợp với địa vị tố tụng và yêu cầu bảo mật. Hệ thống cần hỗ trợ xác thực tư cách luật sư, đăng ký bào chữa, đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bằng phương thức điện tử, nộp và tiếp nhận tài liệu, theo dõi lịch làm việc, tiếp cận hồ sơ trong phạm vi được phép, sử dụng chữ ký số, lưu vết giao dịch và bảo vệ dữ liệu. Trên cơ sở đó, tôi cho rằng, có thể nghiên cứu thí điểm liên thông dữ liệu giữa Bộ Tư pháp, Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các cơ quan tiến hành tố tụng, đi kèm cơ chế phân quyền chặt chẽ, bảo đảm không làm ảnh hưởng đến quyền bào chữa.

Đối với nhu cầu của doanh nghiệp, dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) cần hướng tới xây dựng hệ sinh thái dịch vụ pháp lý xuyên suốt, từ phòng ngừa rủi ro, thẩm định giao dịch, tuân thủ pháp luật đến giải quyết tranh chấp. Các tổ chức hành nghề có thể kết nối luật sư với đội ngũ kế toán, kiểm toán, chuyên gia công nghệ, môi trường và các lĩnh vực liên quan, đồng thời phân định rõ trách nhiệm nghề nghiệp của từng chủ thể. Liên đoàn Luật sư Việt Nam có thể phát triển các chương trình bồi dưỡng chuyên sâu về đầu tư, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, chuyển đổi xanh và giải quyết tranh chấp quốc tế; đồng thời xây dựng danh mục năng lực chuyên môn trên cơ sở tự nguyện và có cơ chế kiểm chứng.

PV: Trân trọng cảm ơn TS. Luật sư Đào Ngọc Chuyền!

Thùy Dung

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.
Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).
Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.
Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Tóm tắt: Trước yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức và khắc phục những bất cập trong thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, nghiên cứu phân tích dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước1 (dự thảo Luật), trên cơ sở so sánh với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 20172 và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghiên cứu đánh giá những điểm mới của dự thảo Luật, đồng thời, chỉ ra các nội dung cần tiếp tục hoàn thiện như phạm vi trách nhiệm bồi thường, căn cứ yêu cầu bồi thường, nghĩa vụ chứng minh, cơ chế giải quyết và quản trị dữ liệu, từ đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm cơ chế bồi thường của Nhà nước minh bạch, khách quan và khả thi.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng giúp người dân nói chung và các đối tượng đặc thù nói riêng biết, hiểu và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật. Nghiên cứu phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật), tập trung vào các quy định về đối tượng đặc thù, chính sách hỗ trợ, trách nhiệm của các chủ thể, chuyển đổi số, nguồn lực, cơ chế đánh giá và đội ngũ thực hiện. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và so sánh pháp luật. Kết quả cho thấy, dự thảo Luật có nhiều điểm mới như cụ thể hóa nhóm đối tượng đặc thù, phân định trách nhiệm của các chủ thể, bổ sung quy định về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, đồng thời, chú trọng bảo đảm nguồn lực và đánh giá hiệu quả thực hiện. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, một số nội dung dự thảo Luật cần tiếp tục hoàn thiện, gồm tiêu chí xác định đối tượng, chính sách hỗ trợ, chuẩn tiếp cận tối thiểu, cơ chế phối hợp, khả năng tiếp cận trong môi trường số, căn cứ phân bổ nguồn lực, tiêu chí đánh giá và yêu cầu về năng lực của đội ngũ thực hiện. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện dự thảo Luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm triển khai thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của Đảng về đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, thực hiện mô hình quyền địa phương hai cấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, nhiều quy định của Luật bộc lộ những hạn chế, bất cập cả về nội dung và phương thức tổ chức thực hiện. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc xây dựng dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) (dự thảo Luật), qua đó, khẳng định sự cần thiết phải sửa đổi toàn diện Luật nhằm hoàn thiện thể chế về phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường gắn kết giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, đẩy mạnh chuyển đổi số, huy động nguồn lực xã hội và bảo đảm nâng cao hiệu quả quyền tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Bài viết đề xuất hoàn thiện dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo hướng chuyển trọng tâm từ đánh giá kinh nghiệm hành nghề của từng giảng viên sang đánh giá năng lực của cơ sở giáo dục đại học trong việc tổ chức hoạt động đào tạo gắn với thực tiễn.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được Bộ Tư pháp nghiên cứu xây dựng với nhiều nội dung đổi mới quan trọng. Bên cạnh việc sửa đổi các quy định về nguyên tắc quản lý luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước…, dự thảo Luật còn quy định cam kết về tôn trọng tính bảo mật, bảo đảm quyền hành nghề của luật sư. Đây là những nội dung có ý nghĩa quan trọng, góp phần xây dựng môi trường hành nghề minh bạch, chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý và phát huy vai trò của luật sư trong bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Đạo luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc ban hành Luật mới nhằm thay thế toàn bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, giải quyết triệt để những bất cập thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy chính quyền (02 cấp) và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Theo dõi chúng tôi trên: