![]() |
| TS. Luật sư Đào Ngọc Chuyền trao đổi tại Hội thảo tham vấn về mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư tại khu vực phía Bắc do Cục Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp tổ chức |
PV: Từ thực tiễn phát triển nghề luật sư hiện nay, Luật sư đánh giá như thế nào về những yêu cầu đặt ra đối với tổ chức hành nghề luật sư trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng?
TS. Luật sư Đào Ngọc Chuyền: Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, cùng với yêu cầu đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang đặt ra yêu cầu dịch vụ pháp lý phải đi trước rủi ro. Tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, cùng định hướng hội nhập quốc tế đã làm gia tăng nhu cầu tư vấn pháp lý trong các lĩnh vực như: Dự án, tài chính, công nghệ, dữ liệu, sở hữu trí tuệ, lao động, thuế, cạnh tranh và giải quyết tranh chấp. Trước yêu cầu này, các tổ chức hành nghề luật sư không chỉ cần nâng cao năng lực tham gia thị trường trong nước mà còn phải tăng cường hợp tác với các hãng luật, chuyên gia nước ngoài, đồng hành cùng doanh nghiệp Việt Nam đầu tư, kinh doanh ở nước ngoài và hỗ trợ nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Cùng với đó, hoạt động hành nghề luật sư ngày càng đòi hỏi chuyên môn hóa theo từng lĩnh vực, trong khi nhu cầu của khách hàng lại mang tính tổng hợp. Một dự án kinh tế tuần hoàn hoặc chuyển đổi xanh có thể đồng thời đặt ra các vấn đề pháp lý về đất đai, môi trường, tín chỉ carbon, công nghệ, hợp đồng trong chuỗi cung ứng, tín dụng, thuế và giải quyết tranh chấp. Đối với doanh nghiệp tư nhân, nhu cầu hỗ trợ pháp lý có thể phát sinh xuyên suốt quá trình từ thành lập, huy động vốn, quản trị, tuân thủ pháp luật đến tái cấu trúc hoặc mở rộng hoạt động ra nước ngoài. Điều này đòi hỏi các tổ chức hành nghề luật sư phải hình thành các nhóm chuyên môn có khả năng phối hợp liên ngành, đồng thời nâng cao năng lực quản trị hồ sơ, ngoại ngữ và hiểu biết về thông lệ quốc tế.
Theo văn bản góp ý ngày 01/6/2026 của Liên đoàn Luật sư Việt Nam, cả nước có hơn 6.000 tổ chức hành nghề luật sư, song phần lớn có quy mô nhỏ, phân tán; chỉ khoảng 30 - 40 tổ chức có từ 20 đến 100 luật sư. Từ thực tiễn này, vấn đề đặt ra không phải là định hướng tất cả tổ chức hành nghề phải phát triển theo mô hình quy mô lớn, mà cần tạo điều kiện để các văn phòng chuyên sâu, công ty luật, tổ chức hành nghề đa lĩnh vực, đủ năng lực tham gia các dự án lớn và giải quyết tranh chấp có yếu tố quốc tế đều cùng tồn tại.
PV: Thưa ông, việc phân định giữa trách nhiệm quản lý nhà nước và chế độ tự quản nghề nghiệp luật sư cần được thể hiện như thế nào trong dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) để tránh chồng chéo về thẩm quyền?
TS. Luật sư Đào Ngọc Chuyền: Theo tôi, mô hình kết hợp quản lý nhà nước và chế độ tự quản nghề nghiệp luật sư cần được xác lập trên cơ sở phân định rõ vai trò, trách nhiệm của từng chủ thể. Đảng lãnh đạo thông qua định hướng chủ trương, công tác tổ chức Đảng, giáo dục chính trị và giám sát việc thực hiện đường lối; bảo đảm hoạt động của luật sư phục vụ Nhà nước pháp quyền, chế độ và Nhân dân. Nhà nước thực hiện quản lý thông qua Chính phủ, Bộ Tư pháp và cơ quan có thẩm quyền ở địa phương, tập trung xây dựng tiêu chuẩn, quy định điều kiện hành nghề, đăng ký tổ chức hành nghề, thanh tra, xử lý vi phạm theo pháp luật và bảo đảm môi trường cạnh tranh công bằng. Đối với Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các Đoàn Luật sư, tự quản nghề nghiệp cần tập trung vào xây dựng, giám sát việc tuân thủ chuẩn mực đạo đức, bồi dưỡng chuyên môn, quản lý hội viên, hỗ trợ hành nghề, hòa giải và xử lý kỷ luật trong phạm vi thẩm quyền được pháp luật quy định.
Bên cạnh đó, quyền tự quản cần được quy định theo hướng thực chất, thay vì chỉ dừng ở việc ghi nhận về nguyên tắc. Các vấn đề thuộc trách nhiệm quản lý nghề nghiệp, trong đó có quản lý tư cách thành viên và Thẻ luật sư, cần được xem xét trao quyền phù hợp cho tổ chức hành nghề luật sư; đồng thời, cơ chế tự quản phải gắn với chia sẻ dữ liệu với Bộ Tư pháp, công khai thông tin, kiểm tra, khiếu nại và giám sát, qua đó tăng cường trách nhiệm giải trình và bảo đảm hoạt động tự quản được thực hiện đúng pháp luật.
Cùng với việc trao quyền, dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) cần thiết lập các cơ chế kiểm soát để nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm trong hoạt động tự quản, chú trọng minh bạch tài chính, bảo đảm dân chủ trong bầu cử, quy định giới hạn nhiệm kỳ phù hợp, phòng ngừa lợi ích nhóm và xử lý kỷ luật đúng trình tự, thủ tục. Đây là những điều kiện cần thiết để quyền tự quản được thực hiện thực chất, hạn chế nguy cơ lạm dụng quyền hạn hoặc phát sinh xung đột lợi ích trong tổ chức nghề nghiệp.
Liên đoàn Luật sư Việt Nam là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và thuộc nhóm hội được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ theo Quyết định số 118-QĐ/TW ngày 22/8/2023 của Ban Bí thư ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở Trung ương. Theo Chính sách 3 đã được Chính phủ thông qua, Mặt trận đóng vai trò giám sát, phối hợp quản lý, tham gia phản biện chính sách và kết nối dịch vụ pháp lý với người dân. Vì vậy, dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) cần quy định rõ phạm vi phối hợp, cơ chế trao đổi thông tin và trách nhiệm của các bên, bảo đảm hoạt động giám sát, phối hợp không làm phát sinh thêm tầng nấc cấp phép đối với từng hoạt động nghề nghiệp của luật sư.
PV: Chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi rõ nét trong hoạt động hành nghề luật sư. Theo ông, cần xây dựng hạ tầng và cơ chế liên thông dữ liệu như thế nào để vừa tạo thuận lợi cho luật sư trong quá trình hành nghề, vừa bảo đảm an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu?
TS. Luật sư Đào Ngọc Chuyền: Mỗi tổ chức hành nghề luật sư, nhất là các tổ chức hoạt động đa lĩnh vực, cần xây dựng bộ máy điều hành chuyên nghiệp, quy chế phân quyền rõ ràng, cơ chế quản lý chất lượng và hồ sơ, quy trình kiểm tra xung đột lợi ích trước khi tiếp nhận vụ việc, cùng các yêu cầu về bảo mật dữ liệu, hợp đồng dịch vụ và trách nhiệm bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
Hoạt động lãnh đạo chuyên môn cần do luật sư chịu trách nhiệm; các chuyên gia về tài chính, công nghệ và quản trị có thể tham gia hỗ trợ công tác điều hành trong phạm vi pháp luật cho phép; đồng thời, cần xác định rõ người phụ trách từng vụ việc, thiết lập cơ chế rà soát độc lập và quy trình tiếp nhận, giải quyết khiếu nại của khách hàng.
Trong quá trình chuyển đổi số, luật sư cần được tạo điều kiện tiếp cận hệ sinh thái số của Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan điều tra và cơ quan thi hành án phù hợp với địa vị tố tụng và yêu cầu bảo mật. Hệ thống cần hỗ trợ xác thực tư cách luật sư, đăng ký bào chữa, đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bằng phương thức điện tử, nộp và tiếp nhận tài liệu, theo dõi lịch làm việc, tiếp cận hồ sơ trong phạm vi được phép, sử dụng chữ ký số, lưu vết giao dịch và bảo vệ dữ liệu. Trên cơ sở đó, tôi cho rằng, có thể nghiên cứu thí điểm liên thông dữ liệu giữa Bộ Tư pháp, Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các cơ quan tiến hành tố tụng, đi kèm cơ chế phân quyền chặt chẽ, bảo đảm không làm ảnh hưởng đến quyền bào chữa.
Đối với nhu cầu của doanh nghiệp, dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) cần hướng tới xây dựng hệ sinh thái dịch vụ pháp lý xuyên suốt, từ phòng ngừa rủi ro, thẩm định giao dịch, tuân thủ pháp luật đến giải quyết tranh chấp. Các tổ chức hành nghề có thể kết nối luật sư với đội ngũ kế toán, kiểm toán, chuyên gia công nghệ, môi trường và các lĩnh vực liên quan, đồng thời phân định rõ trách nhiệm nghề nghiệp của từng chủ thể. Liên đoàn Luật sư Việt Nam có thể phát triển các chương trình bồi dưỡng chuyên sâu về đầu tư, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, chuyển đổi xanh và giải quyết tranh chấp quốc tế; đồng thời xây dựng danh mục năng lực chuyên môn trên cơ sở tự nguyện và có cơ chế kiểm chứng.
PV: Trân trọng cảm ơn TS. Luật sư Đào Ngọc Chuyền!