Thứ bảy 14/03/2026 23:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính - Một số vấn đề cần hoàn thiện

Bài viết bàn về đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính nhằm làm rõ những quy định hiện hành để bảo đảm quyền của người khởi kiện cũng như hiểu một cách thống nhất trong quá trình thụ lý, giải quyết các vụ án hành chính trong các cơ quan Tòa án.

1. Dẫn nhập

Thụ lý giải quyết các vụ án hành chính (VAHC) để đáp ứng nhu cầu điều chỉnh pháp luật là một nhiệm vụ quan trọng trong việc bảo đảm an ninh trật tự cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức trong đời sống xã hội. Pháp luật hành chính ra đời từ rất lâu, song hành cùng với sự tồn tại, phát triển của đất nước nhưng pháp luật tố tụng hành chính (TTHC) và cơ chế giải quyết các VAHC ra đời muộn hơn. Pháp lệnh Thủ tục giải quyết vụ án hành chính năm 1996 sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006 (Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính) được thay thế bởi Luật Tố tụng hành chính năm 2010 và Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Chỉ trong thời gian ngắn nhưng pháp luật TTHC đã có những thay đổi mang tính tích cực, đáp ứng nhu cầu điều chỉnh pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, để áp dụng pháp luật TTHC một cách hiệu quả trong việc thụ lý, giải quyết các vụ án liên quan đến hành vi hành chính (HVHC), quyết định hành chính (QĐHC) đòi hỏi phải có sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo trên cơ sở tôn trọng lợi ích nhà nước, lợi ích của tổ chức, cá nhân là đối tượng chịu sự điều chỉnh của pháp luật hành chính.

2. Đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết vụ án hành chính năm 1996, sau đó là Luật Tố tụng hành chính năm 2010 và Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đều không quy định giải thích từ ngữ hoặc sử dụng thuật ngữ “đối tượng khởi kiện”.

Thuật ngữ “đối tượng khởi kiện” chỉ xuất hiện từ Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Tố tụng hành chính năm 2010. Đến nay, trong các văn bản giải đáp của Tòa án nhân dân tối cao liên tiếp có những hướng dẫn về xác định đối tượng khởi kiện trong các VAHC[1].

Cùng quan điểm hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng có Công văn số 22/HD-VKSTC ngày 05/6/2020 hướng dẫn một số nội dung liên quan đến công tác kiểm sát việc giải quyết các VAHC trong lĩnh vực đất đai, trong đó có đề cập đến vấn đề xác định đối tượng khởi kiện.

Trên cơ sở nghiên cứu các văn bản trên cho thấy, đối tượng khởi kiện được hiểu là các QĐHC, HVHC bị kiện trong VAHC và một số đối tượng khác thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo loại việc quy định tại Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

2.1. Nhận diện đối tượng khởi kiện

Đối tượng khởi kiện VAHC được quy định tại Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 theo nhóm, không liệt kê như quy định tại Pháp lệnh Thủ tục giải quyết vụ án hành chính. Trong số các nhóm đối tượng khởi kiện được quy định thì nhóm đối tượng khởi kiện là QĐHC, HVHC có nhiều tranh luận trong thực tiễn tố tụng. Có ý kiến cho rằng: Việc mở rộng thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của Tòa án đồng nghĩa với việc cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện VAHC đối với QĐHC, HVHC ảnh hưởng đến quyền, lợi ích, nghĩa vụ của mình. Thậm chí, có ý kiến còn hiểu rằng, mọi QĐHC, HVHC đều trở thành đối tượng khởi kiện VAHC tại Tòa án. Những ý kiến còn lại thì xác định: Không phải mọi QĐHC, HVHC đều trở thành đối tượng khởi kiện VAHC mà chỉ những QĐHC, HVHC mang tính chất cá biệt mới là đối tượng khởi kiện VAHC. Ngoài ra, thực tế hoạt động quản lý hành chính của các chủ thể còn có những đặc thù và mỗi vụ án có thể xuất hiện nhiều QĐHC, HVHC. Vì vậy, việc xác định QĐHC, HVHC nào là đối tượng khởi kiện theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 là cần thiết, đòi hỏi chủ thể tiến hành tố tụng phải có kỹ năng đối chiếu, áp dụng quy định pháp luật, dựa vào lý do và yêu cầu của người khởi kiện để nhận định và đưa ra kết luận về đối tượng khởi kiện VAHC một cách chính xác.

Như vậy, nhận diện đối tượng khởi kiện trong VAHC là cách thức mà chủ thể tham gia tố tụng và chủ thể tiến hành tố tụng dựa trên hồ sơ vụ việc, yêu cầu khởi kiện, lý do khởi kiện và đối chiếu quy định pháp luật để đưa ra kết luận về đối tượng khởi kiện trong VAHC.

2.2. Quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện

Hiến pháp năm 2013 quy định, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Nhà nước muốn quản lý xã hội nói chung, nhất là trong lĩnh vực công thì phải thể hiện ý chí thông qua quyền lực của mình dưới hình thức là những quyết định pháp luật, trong đó có QĐHC. Có thể nói, trong quản lý nhà nước, QĐHC có vai trò đặc biệt quan trọng, được coi như một công cụ cơ bản, không thể thiếu của các chủ thể quản lý sử dụng để thực hiện các chức năng quản lý như tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra. QĐHC thể hiện ý chí quyền lực đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, của cơ quan, tổ chức khác hoặc người có chức vụ trong cơ quan, tổ chức đó được Nhà nước giao quyền thực hiện trên cơ sở và để thi hành pháp luật, theo trình tự và hình thức do pháp luật quy định hướng tới việc thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính. Do đó, QĐHC mang tính quyền lực nhà nước và tính pháp lý.

Quyền lực nhà nước được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động của bộ máy nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tính quyền lực nhà nước được thể hiện ở việc chủ thể ban hành là cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được quy định trong văn bản pháp luật. QĐHC đều phải được thi hành đối với chủ thể bị quản lý. Chủ thể bị quản lý có nghĩa vụ chấp hành, có nghĩa là quyết định sẽ được bảo đảm bằng biện pháp cưỡng chế của Nhà nước khi cần thiết. Ngoài ra, quyền lực nhà nước còn được thể hiện trong việc các chủ thể có thẩm quyền tiến hành những hoạt động cần thiết để bảo đảm thực hiện ý chí của Nhà nước như các biện pháp về kinh tế, giáo dục, thuyết phục…

QĐHC là kết quả của sự thể hiện ý chí của Nhà nước. Mặc dù khi ban hành quyết định, chủ thể quản lý hành chính có thể xem xét, lấy ý kiến của đối tượng tác động bởi quyết định nhưng ý kiến đó chỉ có giá trị tham khảo, nhằm tránh nhìn nhận có thể phiến diện từ phía cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Vì vậy, trong QĐHC, ý chí của Nhà nước thể hiện một cách tập trung nhất. Do vậy, các quyết định do Nhà nước ban hành đều có những giá trị về mặt pháp lý.

Theo đó, khoản 8 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định: QĐHC là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Quy định này cũng được đề cập tại khoản 1 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2010. Tuy nhiên, đến Luật Tố tụng hành chính năm 2015 có sự thay đổi về khái niệm QĐHC. Theo đó, tại khoản 1 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã quy định: “Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể”.

Có thể nói, qua hoạt động quản lý và thực tiễn xét xử thì khái niệm về QĐHC đã được pháp luật quy định bổ sung những đặc điểm, dấu hiệu phù hợp để nhận diện. Từ đó, các chủ thể TTHC xác định chính xác về đối tượng khởi kiện cũng như xác định đầy đủ phạm vi giải quyết VAHC, khắc phục được nhiều sai sót khi khởi kiện và thụ lý VAHC.

2.2.1. Những dấu hiệu để nhận diện quyết định hành chính

Từ quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và khoản 8 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 có thể xác định 3 dấu hiệu nhận diện QĐHC như sau:

Một là, hình thức của quyết định hành chính.

Theo khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết vụ án hành chính và khoản 10 Điều 2 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, thì QĐHC được thể hiện dưới hình thức quyết định bằng văn bản. Quy định này đóng khung về nhận thức khi xác định QĐHC trước tiên phải là quyết định bằng văn bản. Trong khi đó, thực tế các chủ thể thực hiện hoạt động quản lý đã ban hành nhiều QĐHC nhưng không theo hình thức của một quyết định mà dưới dạng công văn, thông báo, kết luận… dẫn đến việc áp dụng pháp luật khi xác định đối tượng khởi kiện gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến quyền khởi kiện của các chủ thể bị quản lý.

Tại khoản 8 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 và Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định về QĐHC phù hợp với thực tế. Theo đó, xác định QĐHC không chỉ dưới thể thức văn bản là quyết định mà còn dưới hình thức là những văn bản quản lý khác như công văn, thông báo, kết luận.

Trong trường hợp hình thức chưa bảo đảm quyết định theo quy định nêu trên thì để nhận diện về hình thức của đối tượng khởi kiện là QĐHC, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 có nội dung hướng dẫn đối tượng khởi kiện vụ án hành chính quy định tại Điều 28 của Luật Tố tụng hành chính năm 2010 như sau: QĐHC thuộc đối tượng khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết VAHC là văn bản được thể hiện dưới hình thức quyết định hoặc dưới hình thức khác như thông báo, kết luận, công văn do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành có chứa đựng nội dung của QĐHC được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính mà người khởi kiện cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (trừ những văn bản thông báo của cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức bổ sung, cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết, xử lý vụ việc cụ thể theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó).

Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao thì QĐHC có thể dưới hình thức là quyết định hoặc dạng văn bản khác như công văn, thông báo, kết luận …

Hai là, chủ thể ban hành quyết định hành chính.

Tiêu chí chủ thể ban hành quyết định hành chính cũng có sự thay đổi cho phù hợp với thực tiễn quản lý. Trước đây, theo quy định tại khoản 10 Điều 2 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 thì chủ thể ban hành QĐHC là cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành. Còn theo khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết vụ án hành chính thì chủ thể ban hành QĐHC là bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, cơ quan nhà nước ở địa phương, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp. Quy định về chủ thể thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước mang tính liệt kê như nêu trên dễ dẫn đến bỏ sót, lọt chủ thể quản lý. Thực tế chức năng quản lý còn do người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước và các cơ quan nhà nước, tổ chức khác cũng như người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó thực hiện. Do đó, cùng với Luật Tố tụng hành chính năm 2010 thì Luật Khiếu nại năm 2011 đã bổ sung về chủ thể ban hành QĐHC. Theo đó, chủ thể ban hành QĐHC gồm có cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành. Nội dung bổ sung này đáp ứng nhu cầu thực tiễn công tác cải cách hành chính giai đoạn từ 2010 đến nay.

Ba là, đối tượng và hình thức quản lý.

Theo quy định của pháp luật, QĐHC được áp dụng một lần về một vấn đề cụ thể trong lĩnh vực quản lý nhà nước đối với một hoặc một số đối tượng. Nội dung này thể hiện hình thức quản lý của QĐHC luôn mang tính mệnh lệnh, bắt buộc. Đối tượng bị quản lý phải phục tùng, phải chấp hành. Hình thức và đối tượng quản lý sẽ là cơ sở để xác định quyền khiếu nại, quyền khởi kiện vụ án hành chính.

Mỗi QĐHC mang sứ mệnh của mình về một lĩnh vực quản lý, một hoạt động quản lý của nhà nước nhằm bảo đảm cho sự ổn định, phát triển của đất nước. Xác định những hoạt động nào là quản lý nhà nước được quy định tại văn bản pháp luật chuyên ngành.

2.2.2. Những đặc điểm của quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện

Từ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cho thấy: Không phải mọi QĐHC đều là đối tượng khởi kiện trong VAHC. Sau khi xác định được QĐHC trong hoạt động quản lý thì chủ thể TTHC phải phân biệt để lựa chọn được tính cá biệt của các QĐHC là đối tượng khởi kiện. Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, QĐHC bị kiện (đối tượng khởi kiện) là quyết định quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 mà việc ban hành ra QĐHC đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, cá nhân. Theo đó, QĐHC là đối tượng khởi kiện phải đảm bảo 05 yếu tố:

- Về hình thức: Là văn bản.

- Về chủ thể ban hành: Do cơ quan hành chính, cơ quan, tổ chức khác hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó ban hành.

- Về hình thức, đối tượng điều chỉnh: Áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.

- Phạm vi điều chỉnh: Được thực hiện trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

- Ngoài ra, để trở thành đối tượng khởi kiện hành chính thì QĐHC đó phải mang tính cá biệt. Đây là đặc điểm để phân biệt giữa QĐHC, là đối tượng khởi kiện với các QĐHC khác.

Biểu hiện về tính cá biệt của QĐHC là đối tượng khởi kiện quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 là làm phát sinh, thay đổi quyền, lợi ích, nghĩa vụ của chủ thể phải chấp hành. Trong khi, QĐHC thông thường chỉ sẽ làm, chưa trực tiếp làm phát sinh, thay đổi quyền, lợi ích, nghĩa vụ của chủ thể có nghĩa vụ chấp hành.

Nhận thức về tính cá biệt của QĐHC có ý nghĩa quan trọng khi xác định đối tượng khởi kiện. Phần lớn những sai sót về đối tượng khởi kiện mà chủ thể tiến hành tố tụng và chủ thể tham gia tố tụng mắc phải là do đánh giá sự tác động trực tiếp, ảnh hưởng trực tiếp của QĐHC đến đối tượng quản lý.

3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hành chính về đối tượng khởi kiện

Để kịp thời hướng dẫn giải quyết các VAHC, đặc biệt là hướng dẫn xác định đối tượng khởi kiện VAHC liên quan đến các vấn đề tố tụng như phạm vi giải quyết vụ án, thẩm quyền xét xử, thời hiệu khởi kiện... tác giả xin đưa ra một số kiến nghị sau đây:

3.1. Về hoàn thiện pháp luật

Thứ nhất, thống nhất khái niệm QĐHC, HVHC được quy định trong Luật Khiếu nại và Luật Tố tụng hành chính năm 2015, đặc biệt là quy định về chủ thể ban hành QĐHC, thực hiện HVHC.

Thứ hai, cần rà soát, điều chỉnh một số văn bản quy định về thủ tục khiếu nại sau đó được khởi kiện VAHC không chính xác, dẫn đến nhận diện sai đối tượng khởi kiện.

3.2. Về hướng dẫn áp dụng pháp luật

Do một số văn bản hướng dẫn xác định QĐHC, HVHC chưa thực sự phù hợp với cơ sở lý luận cũng như quy định của pháp luật nên cần rà soát, điều chỉnh thống nhất, đó là:

Thứ nhất, xác định đối tượng xét xử hành chính của Tòa án là hoạt động quản lý hành chính nhà nước mà biểu hiện của hoạt động quản lý là QĐHC, HVHC.

Thứ hai, thống nhất về tính cá biệt của đối tượng khởi kiện. Đó là các QĐHC, HVHC phải làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và lợi ích; làm phát sinh nghĩa vụ của chủ thể bị ảnh hưởng trực tiếp bởi hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

Những QĐHC mang tính chỉ đạo, mang tính quy phạm thì không là đối tượng khởi kiện hành chính. Chỉ những QĐHC mang tính áp dụng quy phạm pháp luật làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và lợi ích; làm phát sinh nghĩa vụ của chủ thể liên quan đến hoạt động quản lý mới là đối tượng khởi kiện hành chính.

Quyết định giải quyết khiếu nại có nội dung giữ nguyên QĐHC cá biệt cũng không là đối tượng khởi kiện vì không trực tiếp làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và lợi ích; làm phát sinh nghĩa vụ của chủ thể bị ảnh hưởng trực tiếp bởi hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Trường hợp có các quyết định giải quyết khiếu nại liên quan đến QĐHC cá biệt bị kiện thì được đồng thời xem xét giải quyết theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

Thứ ba, phân biệt giữa quyết định hành chính bị kiện khác với các văn bản là thủ tục thực hiện hoạt động quản lý, văn bản là hệ quả của hoạt động quản lý.

Cần xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là QĐHC - đối tượng khởi kiện hành chính. Giấy tờ pháp lý này là hệ quả của hoạt động quản lý, tức là quyết định cấp hoặc hành vi cấp của cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp không đồng ý với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này thì phải xem xét:

- Trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu bằng hoạt động giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất hay cấp lại do bị hư hỏng thất lạc thì xác định đối tượng khởi kiện là quyết định hoặc hành vi của cơ quan có thẩm quyền.

- Trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thông qua các quan hệ pháp luật dân sự như nhận chuyển quyền sử dụng đất (tặng cho, chuyển nhượng, chuyển đổi, thừa kế…) thì:

+ Nếu lý do khởi kiện là do tư cách chủ thể cũng như nội dung giao dịch trái pháp luật thì xác định không có đối tượng khởi kiện hành chính. Đương sự cần khởi kiện hoặc yêu cầu về dân sự để giải quyết theo loại hình tố tụng dân sự. Kết quả giải quyết vụ việc dân sự sẽ là căn cứ để xác lập, thay đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp.

+ Nếu lý do khởi kiện là do hoạt động đăng ký biến động thông tin, sang tên chủ sử dụng đất không đúng thì xác định đối tượng khởi kiện là HVHC của cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng quản lý, đăng ký biến động.

Thực tiễn cho thấy, việc nhận diện đối tượng khởi kiện trong VAHC có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động tố tụng, đòi hỏi các chủ thể tố tụng phải có kiến thức áp dụng đúng pháp luật và kỹ năng xác định đối tượng khởi kiện. Thông qua nhận diện đối tượng khởi kiện, người tiến hành tố tụng xác định và người tham gia tố tụng kiểm tra tính đúng đắn của việc khởi kiện hành chính. Các chủ thể tố tụng sẽ kiểm tra, kiểm soát lẫn nhau trong xác định đối tượng khởi kiện theo quy định của Luật Tố tụng hành chính, từ đó sẽ chủ động nghiên cứu hồ sơ và có giải pháp tố tụng phù hợp. Thẩm phán, kiểm sát viên phải nắm được bản chất của hoạt động quản lý hành chính nhà nước phát sinh khiếu kiện, không để xác định sai, xác định thiếu về đối tượng khởi kiện. Người khởi kiện không thể vì ý chí chủ quan mà yêu cầu Tòa án giải quyết loại việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do đó, nhận diện, xác định đúng đối tượng khởi kiện sẽ nâng cao trách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm thi hành pháp luật, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của đương sự trong vụ án.

Nhận diện đối tượng khởi kiện là đòi hỏi tiên quyết đối với các chủ thể tố tụng, đóng vai trò quan trọng và tạo điều kiện để các chủ thể đó thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ của mình khi thực hiện, tham gia tố tụng. Từ những kết quả đạt được thông qua hoạt động nhận diện đối tượng khởi kiện có thể tổng kết, phân tích, đánh giá quy định pháp luật và tiếp tục hoàn thiện quy định pháp luật của Nhà nước về QĐHC, HVHC giữa Luật Khiếu nại và Luật Tố tụng hành chính. Qua đó, tạo cơ sở pháp lý để các chủ thể tham gia nhận diện đối tượng khởi kiện có cách hiểu và áp dụng thống nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ.

ThS. Lê Trí Cường

Chánh Tòa Dân sự, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội

[1]. Ví dụ như:

- Giải đáp số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao về một số vấn đề nghiệp vụ.

- Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề về nghiệp vụ.

- Công văn số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2018 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề về tố tụng hành chính.

- Công văn số 64/GĐ-TANDTC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vướng mắc về hình sự, dân sự, tố tụng hành chính.

- Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của Tòa án nhân dân tối cao thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng kính mời các chuyên gia, độc giả tham gia viết bài cho ấn phẩm chuyên đề chuyên sâu về truyền thông chính sách và góp ý vào dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.
Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Trong không khí xuân Bính Ngọ năm 2026, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tiếp tục được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm với nhiều chính sách mang tính đột phá. Ngày 09/9/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 72-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với sức khỏe của người dân hướng đến mục tiêu xây dựng nước Việt Nam khỏe mạnh, mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe, sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh, nâng cao thể chất, tinh thần và chủ động phòng ngừa bệnh tật trong toàn xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới. Đồng chí Đào Hồng Lan, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh, sức khỏe của người dân phải được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Những chia sẻ của Bộ trưởng mở ra bức tranh toàn diện về định hướng chăm sóc sức khỏe suốt đời, từ phòng bệnh chủ động, giảm chi phí y tế, đến xây dựng hệ thống y tế công bằng, bền vững cho mọi người dân.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là sự kiện chính trị trọng đại, là dấu mốc quan trọng trên con đường phát triển đất nước, khởi điểm lịch sử mới của dân tộc Việt Nam sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Để tạo nền tảng chính trị xác định tầm nhìn chiến lược và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Văn kiện Đại hội Đảng khóa XIV có nhiều điểm mới, đột phá.
Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Thể chế, pháp luật và lợi thế cạnh tranh quốc gia có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Hệ thống thể chế, pháp luật được xây dựng đồng bộ, thống nhất khả thi, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng và có sức cạnh tranh trong hội nhập. Đồng thời, để giữ lợi thế cạnh tranh quốc gia trong hội nhập, hệ thống thể chế, pháp luật phải được quan tâm hoàn thiện để “đánh thức” mọi tiềm năng, thế mạnh, khơi thông và thu hút nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện những giải pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia mình trong nền kinh tế toàn cầu. Trong suốt hành trình hơn 80 năm qua, Bộ Tư pháp xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, luôn được Đảng, Nhà nước giao trọng trách thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc nhận diện đầy đủ và phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập là rất cần thiết, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu cao về hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường pháp lý và thúc đẩy hội nhập, việc rà soát, đánh giá và hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bài viết phân tích mâu thuẫn hiện hành trong quy định pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, làm rõ nguyên nhân từ góc độ kỹ thuật lập pháp và tư duy điều chỉnh; đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả của pháp luật về hợp đồng, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển và tạo đột phá chiến lược được đặt ra với tính cấp thiết và chiều sâu chưa từng có. Đột phá thể chế không chỉ là yêu cầu cải cách quản lý, mà là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với năng lực phát triển, sức cạnh tranh và bản lĩnh tự chủ của nền kinh tế quốc gia trong giai đoạn mới. Trên cơ sở tiếp cận thể chế như hạ tầng mềm của phát triển, bài viết phân tích vai trò trung tâm của đột phá thể chế - đặc biệt là thể chế bảo đảm thực hiện pháp luật hiệu quả, nghiêm minh và nhất quán - đối với việc hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030. Thông qua làm rõ những điểm mới về thể chế trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết khẳng định: chỉ khi nâng cao thực chất hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật, thể chế mới thực sự trở thành nền móng cải cách và động lực nội sinh cho phát triển nhanh, bền vững.
Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an đã xây dựng hồ sơ đề nghị xây dựng Luật An ninh mạng theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Dự thảo Luật gồm 09 chương với 58 điều, đang được thảo luận tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV; đã có 70 lượt đại biểu phát biểu ý kiến tại tổ (ngày 31/10/2025), 15 lượt đại biểu phát biểu tại hội trường (ngày 06/11/2025) và 05 Đoàn đại biểu Quốc hội gửi ý kiến bằng văn bản.
Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia, phát triển kinh tế số, chuyển đổi số quốc gia, khắc phục sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) và Luật An ninh mạng năm 2018, dự án Luật An ninh mạng đã được xây dựng trên cơ sở hợp nhất 02 luật nêu trên và đang được Quốc hội khóa XV xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 10.
Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; đồng thời, bổ sung một số nội dung mới để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là một trong những hình thức hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, đồng thời, mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc.
Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó.
Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Việc xây dựng Luật Tương trợ tư pháp về dân sự là yêu cầu cấp thiết khách quan, nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay trong hoạt động TTTP nói chung và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 nói riêng, đáp ứng yêu cầu của công tác này trong tình hình mới.

Theo dõi chúng tôi trên: