Thứ tư 20/05/2026 07:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính - Một số vấn đề cần hoàn thiện

Bài viết bàn về đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính nhằm làm rõ những quy định hiện hành để bảo đảm quyền của người khởi kiện cũng như hiểu một cách thống nhất trong quá trình thụ lý, giải quyết các vụ án hành chính trong các cơ quan Tòa án.

1. Dẫn nhập

Thụ lý giải quyết các vụ án hành chính (VAHC) để đáp ứng nhu cầu điều chỉnh pháp luật là một nhiệm vụ quan trọng trong việc bảo đảm an ninh trật tự cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức trong đời sống xã hội. Pháp luật hành chính ra đời từ rất lâu, song hành cùng với sự tồn tại, phát triển của đất nước nhưng pháp luật tố tụng hành chính (TTHC) và cơ chế giải quyết các VAHC ra đời muộn hơn. Pháp lệnh Thủ tục giải quyết vụ án hành chính năm 1996 sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006 (Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính) được thay thế bởi Luật Tố tụng hành chính năm 2010 và Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Chỉ trong thời gian ngắn nhưng pháp luật TTHC đã có những thay đổi mang tính tích cực, đáp ứng nhu cầu điều chỉnh pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, để áp dụng pháp luật TTHC một cách hiệu quả trong việc thụ lý, giải quyết các vụ án liên quan đến hành vi hành chính (HVHC), quyết định hành chính (QĐHC) đòi hỏi phải có sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo trên cơ sở tôn trọng lợi ích nhà nước, lợi ích của tổ chức, cá nhân là đối tượng chịu sự điều chỉnh của pháp luật hành chính.

2. Đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết vụ án hành chính năm 1996, sau đó là Luật Tố tụng hành chính năm 2010 và Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đều không quy định giải thích từ ngữ hoặc sử dụng thuật ngữ “đối tượng khởi kiện”.

Thuật ngữ “đối tượng khởi kiện” chỉ xuất hiện từ Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Tố tụng hành chính năm 2010. Đến nay, trong các văn bản giải đáp của Tòa án nhân dân tối cao liên tiếp có những hướng dẫn về xác định đối tượng khởi kiện trong các VAHC[1].

Cùng quan điểm hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng có Công văn số 22/HD-VKSTC ngày 05/6/2020 hướng dẫn một số nội dung liên quan đến công tác kiểm sát việc giải quyết các VAHC trong lĩnh vực đất đai, trong đó có đề cập đến vấn đề xác định đối tượng khởi kiện.

Trên cơ sở nghiên cứu các văn bản trên cho thấy, đối tượng khởi kiện được hiểu là các QĐHC, HVHC bị kiện trong VAHC và một số đối tượng khác thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo loại việc quy định tại Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

2.1. Nhận diện đối tượng khởi kiện

Đối tượng khởi kiện VAHC được quy định tại Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 theo nhóm, không liệt kê như quy định tại Pháp lệnh Thủ tục giải quyết vụ án hành chính. Trong số các nhóm đối tượng khởi kiện được quy định thì nhóm đối tượng khởi kiện là QĐHC, HVHC có nhiều tranh luận trong thực tiễn tố tụng. Có ý kiến cho rằng: Việc mở rộng thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của Tòa án đồng nghĩa với việc cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện VAHC đối với QĐHC, HVHC ảnh hưởng đến quyền, lợi ích, nghĩa vụ của mình. Thậm chí, có ý kiến còn hiểu rằng, mọi QĐHC, HVHC đều trở thành đối tượng khởi kiện VAHC tại Tòa án. Những ý kiến còn lại thì xác định: Không phải mọi QĐHC, HVHC đều trở thành đối tượng khởi kiện VAHC mà chỉ những QĐHC, HVHC mang tính chất cá biệt mới là đối tượng khởi kiện VAHC. Ngoài ra, thực tế hoạt động quản lý hành chính của các chủ thể còn có những đặc thù và mỗi vụ án có thể xuất hiện nhiều QĐHC, HVHC. Vì vậy, việc xác định QĐHC, HVHC nào là đối tượng khởi kiện theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 là cần thiết, đòi hỏi chủ thể tiến hành tố tụng phải có kỹ năng đối chiếu, áp dụng quy định pháp luật, dựa vào lý do và yêu cầu của người khởi kiện để nhận định và đưa ra kết luận về đối tượng khởi kiện VAHC một cách chính xác.

Như vậy, nhận diện đối tượng khởi kiện trong VAHC là cách thức mà chủ thể tham gia tố tụng và chủ thể tiến hành tố tụng dựa trên hồ sơ vụ việc, yêu cầu khởi kiện, lý do khởi kiện và đối chiếu quy định pháp luật để đưa ra kết luận về đối tượng khởi kiện trong VAHC.

2.2. Quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện

Hiến pháp năm 2013 quy định, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Nhà nước muốn quản lý xã hội nói chung, nhất là trong lĩnh vực công thì phải thể hiện ý chí thông qua quyền lực của mình dưới hình thức là những quyết định pháp luật, trong đó có QĐHC. Có thể nói, trong quản lý nhà nước, QĐHC có vai trò đặc biệt quan trọng, được coi như một công cụ cơ bản, không thể thiếu của các chủ thể quản lý sử dụng để thực hiện các chức năng quản lý như tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra. QĐHC thể hiện ý chí quyền lực đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, của cơ quan, tổ chức khác hoặc người có chức vụ trong cơ quan, tổ chức đó được Nhà nước giao quyền thực hiện trên cơ sở và để thi hành pháp luật, theo trình tự và hình thức do pháp luật quy định hướng tới việc thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính. Do đó, QĐHC mang tính quyền lực nhà nước và tính pháp lý.

Quyền lực nhà nước được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động của bộ máy nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tính quyền lực nhà nước được thể hiện ở việc chủ thể ban hành là cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được quy định trong văn bản pháp luật. QĐHC đều phải được thi hành đối với chủ thể bị quản lý. Chủ thể bị quản lý có nghĩa vụ chấp hành, có nghĩa là quyết định sẽ được bảo đảm bằng biện pháp cưỡng chế của Nhà nước khi cần thiết. Ngoài ra, quyền lực nhà nước còn được thể hiện trong việc các chủ thể có thẩm quyền tiến hành những hoạt động cần thiết để bảo đảm thực hiện ý chí của Nhà nước như các biện pháp về kinh tế, giáo dục, thuyết phục…

QĐHC là kết quả của sự thể hiện ý chí của Nhà nước. Mặc dù khi ban hành quyết định, chủ thể quản lý hành chính có thể xem xét, lấy ý kiến của đối tượng tác động bởi quyết định nhưng ý kiến đó chỉ có giá trị tham khảo, nhằm tránh nhìn nhận có thể phiến diện từ phía cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Vì vậy, trong QĐHC, ý chí của Nhà nước thể hiện một cách tập trung nhất. Do vậy, các quyết định do Nhà nước ban hành đều có những giá trị về mặt pháp lý.

Theo đó, khoản 8 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định: QĐHC là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Quy định này cũng được đề cập tại khoản 1 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2010. Tuy nhiên, đến Luật Tố tụng hành chính năm 2015 có sự thay đổi về khái niệm QĐHC. Theo đó, tại khoản 1 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã quy định: “Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể”.

Có thể nói, qua hoạt động quản lý và thực tiễn xét xử thì khái niệm về QĐHC đã được pháp luật quy định bổ sung những đặc điểm, dấu hiệu phù hợp để nhận diện. Từ đó, các chủ thể TTHC xác định chính xác về đối tượng khởi kiện cũng như xác định đầy đủ phạm vi giải quyết VAHC, khắc phục được nhiều sai sót khi khởi kiện và thụ lý VAHC.

2.2.1. Những dấu hiệu để nhận diện quyết định hành chính

Từ quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và khoản 8 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 có thể xác định 3 dấu hiệu nhận diện QĐHC như sau:

Một là, hình thức của quyết định hành chính.

Theo khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết vụ án hành chính và khoản 10 Điều 2 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, thì QĐHC được thể hiện dưới hình thức quyết định bằng văn bản. Quy định này đóng khung về nhận thức khi xác định QĐHC trước tiên phải là quyết định bằng văn bản. Trong khi đó, thực tế các chủ thể thực hiện hoạt động quản lý đã ban hành nhiều QĐHC nhưng không theo hình thức của một quyết định mà dưới dạng công văn, thông báo, kết luận… dẫn đến việc áp dụng pháp luật khi xác định đối tượng khởi kiện gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến quyền khởi kiện của các chủ thể bị quản lý.

Tại khoản 8 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 và Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định về QĐHC phù hợp với thực tế. Theo đó, xác định QĐHC không chỉ dưới thể thức văn bản là quyết định mà còn dưới hình thức là những văn bản quản lý khác như công văn, thông báo, kết luận.

Trong trường hợp hình thức chưa bảo đảm quyết định theo quy định nêu trên thì để nhận diện về hình thức của đối tượng khởi kiện là QĐHC, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 có nội dung hướng dẫn đối tượng khởi kiện vụ án hành chính quy định tại Điều 28 của Luật Tố tụng hành chính năm 2010 như sau: QĐHC thuộc đối tượng khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết VAHC là văn bản được thể hiện dưới hình thức quyết định hoặc dưới hình thức khác như thông báo, kết luận, công văn do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành có chứa đựng nội dung của QĐHC được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính mà người khởi kiện cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (trừ những văn bản thông báo của cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức bổ sung, cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết, xử lý vụ việc cụ thể theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó).

Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao thì QĐHC có thể dưới hình thức là quyết định hoặc dạng văn bản khác như công văn, thông báo, kết luận …

Hai là, chủ thể ban hành quyết định hành chính.

Tiêu chí chủ thể ban hành quyết định hành chính cũng có sự thay đổi cho phù hợp với thực tiễn quản lý. Trước đây, theo quy định tại khoản 10 Điều 2 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 thì chủ thể ban hành QĐHC là cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành. Còn theo khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết vụ án hành chính thì chủ thể ban hành QĐHC là bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, cơ quan nhà nước ở địa phương, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp. Quy định về chủ thể thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước mang tính liệt kê như nêu trên dễ dẫn đến bỏ sót, lọt chủ thể quản lý. Thực tế chức năng quản lý còn do người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước và các cơ quan nhà nước, tổ chức khác cũng như người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó thực hiện. Do đó, cùng với Luật Tố tụng hành chính năm 2010 thì Luật Khiếu nại năm 2011 đã bổ sung về chủ thể ban hành QĐHC. Theo đó, chủ thể ban hành QĐHC gồm có cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành. Nội dung bổ sung này đáp ứng nhu cầu thực tiễn công tác cải cách hành chính giai đoạn từ 2010 đến nay.

Ba là, đối tượng và hình thức quản lý.

Theo quy định của pháp luật, QĐHC được áp dụng một lần về một vấn đề cụ thể trong lĩnh vực quản lý nhà nước đối với một hoặc một số đối tượng. Nội dung này thể hiện hình thức quản lý của QĐHC luôn mang tính mệnh lệnh, bắt buộc. Đối tượng bị quản lý phải phục tùng, phải chấp hành. Hình thức và đối tượng quản lý sẽ là cơ sở để xác định quyền khiếu nại, quyền khởi kiện vụ án hành chính.

Mỗi QĐHC mang sứ mệnh của mình về một lĩnh vực quản lý, một hoạt động quản lý của nhà nước nhằm bảo đảm cho sự ổn định, phát triển của đất nước. Xác định những hoạt động nào là quản lý nhà nước được quy định tại văn bản pháp luật chuyên ngành.

2.2.2. Những đặc điểm của quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện

Từ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cho thấy: Không phải mọi QĐHC đều là đối tượng khởi kiện trong VAHC. Sau khi xác định được QĐHC trong hoạt động quản lý thì chủ thể TTHC phải phân biệt để lựa chọn được tính cá biệt của các QĐHC là đối tượng khởi kiện. Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, QĐHC bị kiện (đối tượng khởi kiện) là quyết định quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 mà việc ban hành ra QĐHC đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, cá nhân. Theo đó, QĐHC là đối tượng khởi kiện phải đảm bảo 05 yếu tố:

- Về hình thức: Là văn bản.

- Về chủ thể ban hành: Do cơ quan hành chính, cơ quan, tổ chức khác hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó ban hành.

- Về hình thức, đối tượng điều chỉnh: Áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.

- Phạm vi điều chỉnh: Được thực hiện trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

- Ngoài ra, để trở thành đối tượng khởi kiện hành chính thì QĐHC đó phải mang tính cá biệt. Đây là đặc điểm để phân biệt giữa QĐHC, là đối tượng khởi kiện với các QĐHC khác.

Biểu hiện về tính cá biệt của QĐHC là đối tượng khởi kiện quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 là làm phát sinh, thay đổi quyền, lợi ích, nghĩa vụ của chủ thể phải chấp hành. Trong khi, QĐHC thông thường chỉ sẽ làm, chưa trực tiếp làm phát sinh, thay đổi quyền, lợi ích, nghĩa vụ của chủ thể có nghĩa vụ chấp hành.

Nhận thức về tính cá biệt của QĐHC có ý nghĩa quan trọng khi xác định đối tượng khởi kiện. Phần lớn những sai sót về đối tượng khởi kiện mà chủ thể tiến hành tố tụng và chủ thể tham gia tố tụng mắc phải là do đánh giá sự tác động trực tiếp, ảnh hưởng trực tiếp của QĐHC đến đối tượng quản lý.

3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hành chính về đối tượng khởi kiện

Để kịp thời hướng dẫn giải quyết các VAHC, đặc biệt là hướng dẫn xác định đối tượng khởi kiện VAHC liên quan đến các vấn đề tố tụng như phạm vi giải quyết vụ án, thẩm quyền xét xử, thời hiệu khởi kiện... tác giả xin đưa ra một số kiến nghị sau đây:

3.1. Về hoàn thiện pháp luật

Thứ nhất, thống nhất khái niệm QĐHC, HVHC được quy định trong Luật Khiếu nại và Luật Tố tụng hành chính năm 2015, đặc biệt là quy định về chủ thể ban hành QĐHC, thực hiện HVHC.

Thứ hai, cần rà soát, điều chỉnh một số văn bản quy định về thủ tục khiếu nại sau đó được khởi kiện VAHC không chính xác, dẫn đến nhận diện sai đối tượng khởi kiện.

3.2. Về hướng dẫn áp dụng pháp luật

Do một số văn bản hướng dẫn xác định QĐHC, HVHC chưa thực sự phù hợp với cơ sở lý luận cũng như quy định của pháp luật nên cần rà soát, điều chỉnh thống nhất, đó là:

Thứ nhất, xác định đối tượng xét xử hành chính của Tòa án là hoạt động quản lý hành chính nhà nước mà biểu hiện của hoạt động quản lý là QĐHC, HVHC.

Thứ hai, thống nhất về tính cá biệt của đối tượng khởi kiện. Đó là các QĐHC, HVHC phải làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và lợi ích; làm phát sinh nghĩa vụ của chủ thể bị ảnh hưởng trực tiếp bởi hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

Những QĐHC mang tính chỉ đạo, mang tính quy phạm thì không là đối tượng khởi kiện hành chính. Chỉ những QĐHC mang tính áp dụng quy phạm pháp luật làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và lợi ích; làm phát sinh nghĩa vụ của chủ thể liên quan đến hoạt động quản lý mới là đối tượng khởi kiện hành chính.

Quyết định giải quyết khiếu nại có nội dung giữ nguyên QĐHC cá biệt cũng không là đối tượng khởi kiện vì không trực tiếp làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và lợi ích; làm phát sinh nghĩa vụ của chủ thể bị ảnh hưởng trực tiếp bởi hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Trường hợp có các quyết định giải quyết khiếu nại liên quan đến QĐHC cá biệt bị kiện thì được đồng thời xem xét giải quyết theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

Thứ ba, phân biệt giữa quyết định hành chính bị kiện khác với các văn bản là thủ tục thực hiện hoạt động quản lý, văn bản là hệ quả của hoạt động quản lý.

Cần xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là QĐHC - đối tượng khởi kiện hành chính. Giấy tờ pháp lý này là hệ quả của hoạt động quản lý, tức là quyết định cấp hoặc hành vi cấp của cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp không đồng ý với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này thì phải xem xét:

- Trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu bằng hoạt động giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất hay cấp lại do bị hư hỏng thất lạc thì xác định đối tượng khởi kiện là quyết định hoặc hành vi của cơ quan có thẩm quyền.

- Trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thông qua các quan hệ pháp luật dân sự như nhận chuyển quyền sử dụng đất (tặng cho, chuyển nhượng, chuyển đổi, thừa kế…) thì:

+ Nếu lý do khởi kiện là do tư cách chủ thể cũng như nội dung giao dịch trái pháp luật thì xác định không có đối tượng khởi kiện hành chính. Đương sự cần khởi kiện hoặc yêu cầu về dân sự để giải quyết theo loại hình tố tụng dân sự. Kết quả giải quyết vụ việc dân sự sẽ là căn cứ để xác lập, thay đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp.

+ Nếu lý do khởi kiện là do hoạt động đăng ký biến động thông tin, sang tên chủ sử dụng đất không đúng thì xác định đối tượng khởi kiện là HVHC của cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng quản lý, đăng ký biến động.

Thực tiễn cho thấy, việc nhận diện đối tượng khởi kiện trong VAHC có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động tố tụng, đòi hỏi các chủ thể tố tụng phải có kiến thức áp dụng đúng pháp luật và kỹ năng xác định đối tượng khởi kiện. Thông qua nhận diện đối tượng khởi kiện, người tiến hành tố tụng xác định và người tham gia tố tụng kiểm tra tính đúng đắn của việc khởi kiện hành chính. Các chủ thể tố tụng sẽ kiểm tra, kiểm soát lẫn nhau trong xác định đối tượng khởi kiện theo quy định của Luật Tố tụng hành chính, từ đó sẽ chủ động nghiên cứu hồ sơ và có giải pháp tố tụng phù hợp. Thẩm phán, kiểm sát viên phải nắm được bản chất của hoạt động quản lý hành chính nhà nước phát sinh khiếu kiện, không để xác định sai, xác định thiếu về đối tượng khởi kiện. Người khởi kiện không thể vì ý chí chủ quan mà yêu cầu Tòa án giải quyết loại việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do đó, nhận diện, xác định đúng đối tượng khởi kiện sẽ nâng cao trách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm thi hành pháp luật, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của đương sự trong vụ án.

Nhận diện đối tượng khởi kiện là đòi hỏi tiên quyết đối với các chủ thể tố tụng, đóng vai trò quan trọng và tạo điều kiện để các chủ thể đó thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ của mình khi thực hiện, tham gia tố tụng. Từ những kết quả đạt được thông qua hoạt động nhận diện đối tượng khởi kiện có thể tổng kết, phân tích, đánh giá quy định pháp luật và tiếp tục hoàn thiện quy định pháp luật của Nhà nước về QĐHC, HVHC giữa Luật Khiếu nại và Luật Tố tụng hành chính. Qua đó, tạo cơ sở pháp lý để các chủ thể tham gia nhận diện đối tượng khởi kiện có cách hiểu và áp dụng thống nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ.

ThS. Lê Trí Cường

Chánh Tòa Dân sự, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội

[1]. Ví dụ như:

- Giải đáp số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao về một số vấn đề nghiệp vụ.

- Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề về nghiệp vụ.

- Công văn số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2018 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề về tố tụng hành chính.

- Công văn số 64/GĐ-TANDTC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vướng mắc về hình sự, dân sự, tố tụng hành chính.

- Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của Tòa án nhân dân tối cao thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Đạo luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc ban hành Luật mới nhằm thay thế toàn bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, giải quyết triệt để những bất cập thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy chính quyền (02 cấp) và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, quyền tiếp cận thông tin là tiền đề quan trọng để người khuyết tật hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, “khoảng cách số” và những khoảng trống của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 làm tăng nguy cơ người khuyết tật bị “bỏ lại phía sau”. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu, nghiên cứu đánh giá thực trạng khung pháp lý cũng như thực tiễn thi hành quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật; từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba điểm nghẽn lớn là thiếu quy định bắt buộc về định dạng thông tin dễ tiếp cận; giới hạn về chủ thể cung cấp thông tin và thiếu cơ chế phối hợp hỗ trợ. Để giải quyết, nghiên cứu đề xuất ba giải pháp trọng tâm: (i) đa dạng hóa phương thức cung cấp qua nền tảng số và bắt buộc cung cấp định dạng chuyên biệt; (ii) mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thiết yếu, thiết lập cơ chế để hệ thống trợ giúp pháp lý trở thành đầu mối hỗ trợ, “phiên dịch” thông tin cho người khuyết tật; (iii) hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thông qua chính sách miễn phí tiếp cận thông tin và đầu tư hạ tầng công nghệ bao trùm.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ Nhất xem xét, thông qua đã quy định phân quyền, phân cấp bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, tạo cơ sở pháp lý cho công tác trợ giúp pháp lý phát triển theo hướng chuyên nghiệp, sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách, góp phần thực hiện chính sách “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa” và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt là nhóm “dễ bị tổn thương”.
Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí như người nghèo, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi… khi tham gia tố tụng với tư cách là đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích liên quan) có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc nhờ trợ giúp pháp lý tham gia bảo vệ theo quy định pháp luật.
Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Chính sách Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật thời gian qua, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã trình Chính phủ về hồ sơ chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Theo đó, việc sửa đổi toàn diện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, chuyển đổi số.
Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng kính mời các chuyên gia, độc giả tham gia viết bài cho ấn phẩm chuyên đề chuyên sâu về truyền thông chính sách và góp ý vào dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Theo dõi chúng tôi trên: