Thứ hai 07/09/2026 04:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đón đầu cơ hội, các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp bán dẫn chuẩn bị động lực để “cất cánh”

Ngành công nghiệp bán dẫn, với vai trò then chốt trong nền kinh tế số, đang ngày càng khẳng định vị thế quan trọng trong bối cảnh thế giới bước vào kỷ nguyên cách mạng Công nghiệp lần thứ tư. Sản phẩm bán dẫn đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong nhiều hoạt động khác nhau của đời sống kinh tế, xã hội. Việt Nam có lợi thế địa chính trị, nhân lực về công nghiệp bán dẫn. Đây là cơ hội cho Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng bán dẫn toàn cầu.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt cho biết: Chip bán dẫn nói riêng, ngành bán dẫn nói chung được ví như “hạt gạo” bởi nó nuôi sống toàn bộ các lĩnh vực khác nhau trong kỷ nguyên công nghệ, là chìa khóa cho các công nghệ số trong tương lai[1].

Thủ tướng Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia về phát triển ngành công nghiệp bán dẫn chủ trì phiên họp lần thứ nhất của Ban Chỉ đạo trong buổi làm việc ngày 14/12/2024 đã khẳng định: phát triển ngành công nghiệp bán dẫn là nhu cầu, đòi hỏi tất yếu, là đột phá chiến lược và cũng là nhiệm vụ trọng tâm của chúng ta trong thời gian tới; là việc cần làm, phải làm và quyết tâm làm bằng được[2].

1. Việt Nam có đầy đủ tiềm năng để thúc đẩy ngành công nghiệp bán dẫn, tạo ra hệ sinh thái cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực bán dẫn phát triển

Hiện nay, Việt Nam đã hội tụ đủ các điều kiện sẵn sàng trở thành điểm đến hấp dẫn cho các doanh nghiệp bán dẫn trong và ngoài nước, cụ thể[3]:

Thứ nhất, Việt Nam có nền chính trị ổn định và quyết tâm mạnh mẽ trong thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển các ngành công nghệ tiên tiến. Đảng, Chính phủ nhận thức rõ, Việt Nam hiện ở thời điểm quan trọng cho sự chuyển đổi hướng tới nền kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; ưu tiên lựa chọn khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo là một trong những đột phá chiến lược.

Thứ hai, Việt Nam có vị trí địa lý tự nhiên thuận lợi để phát triển công nghiệp bán dẫn, nhất là trong giai đoạn hiện nay đang phải cạnh tranh gay gắt với các ngành công nghệ trên thế giới. Là quốc gia nằm ở trung tâm của Đông Nam Á giúp dễ dàng kết nối Việt Nam với các thị trường lớn trong khu vực như Singapore, Malaysia, Thái Lan và Indonesia. Điều này làm cho Việt Nam trở thành điểm lý tưởng để thiết lập cơ sở sản xuất và phân phối bán dẫn cho khu vực. Ngoài ra, với vị trí địa lý tiếp giáp với Trung Quốc và gần Ấn Độ - 02 thị trường lớn với nhu cầu cao về sản phẩm công nghệ, Việt Nam có thể tận dụng để mở rộng xuất khẩu và thu hút đầu tư từ các công ty muốn tiếp cận những thị trường này. Trong bối cảnh chuỗi giá trị bán dẫn đang dần dịch chuyển sang các nước Đông Nam Á, Việt Nam có đầy đủ điều kiện và yếu tố cần thiết để phát triển công nghiệp bán dẫn. Về vị trí, về địa chính trị, Việt Nam hiện nay được đánh giá là quốc gia có lợi thế nhất trong các nước ASEAN. Sự quan tâm, hiện diện của của các doanh nghiệp Hoa Kỳ và Nhật Bản trong lĩnh vực công nghiệp bán dẫn đã chứng tỏ rằng, các quốc gia này đang đánh giá cao vai trò của Việt Nam trong chuỗi giá trị ngành[4].

Thứ ba, Việt Nam có dân số đông, nguồn nhân lực trẻ đam mê công nghệ, có khả năng tiếp cận nhanh với các ngành khoa học, công nghệ và STEM hứa hẹn trở thành nguồn nhân lực cho thị trường các ngành công nghệ cao đầy tiềm năng. Với nguồn lao động kỹ thuật dồi dào và nhiều đơn vị nghiên cứu, đào tạo uy tín trong lĩnh vực bán dẫn. Các trường đại học như Đại học Bách khoa Hà Nội (HUST), Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (VNU-HCM), Đại học Quốc gia Hà Nội (VNU), Đại học Đà Nẵng đã, đang đào tạo và phát triển một mạng lưới chuyên gia rộng lớn trong và ngoài nước. Các cơ sở đào tạo này sẵn sàng kết nối cùng các đối tác doanh nghiệp trong nước như Viettel, Vingroup, FPT, VNPT, VNG, Momo để phát triển nguồn nhân lực có tay nghề cao trong các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ và điện tử.

Thứ tư, nguồn nguyên liệu dồi dào với trữ lượng đất hiếm đứng thứ 02 thế giới, Việt Nam có nhiều lợi thế trong phát triển ngành công nghiệp bán dẫn. Đất hiếm đóng vai trò không thể thay thế trong sản xuất thiết bị công nghệ cao, công nghệ hóa chất, bán dẫn, pin xe điện, tua bin điện gió, điện thoại, máy bay... Theo số liệu thống kê do Cục Khảo sát địa chất Mỹ năm 2022 công bố, trữ lượng đất hiếm của Việt Nam chiếm 18% tổng trữ lượng đất hiếm trên toàn thế giới, khoảng 22 triệu tấn, chỉ sau Trung Quốc với trữ lượng 44 triệu tấn[5]. Do đó, Việt Nam đang trở nên “hấp dẫn” trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài và đã thu hút được lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này.

Thứ năm, Việt Nam đã hình thành hệ sinh thái công nghiệp bán dẫn với sự tham gia của nhiều đối tác và doanh nghiệp công nghệ cao. Chính phủ Hoa Kỳ đã lựa chọn Việt Nam là một trong 06 quốc gia trên thế giới để tham gia Quỹ Đổi mới sáng tạo và An ninh công nghệ (ITSI). Việt Nam cũng đang là một “khách hàng, đối tác” lớn của các tập đoàn công nghệ trên thế giới như Google, Meta, Amazone với thị phần không ngừng mở rộng.

Thứ sáu, Việt Nam đã xây dựng môi trường kinh doanh hấp dẫn với nhiều ưu đãi cho doanh nghiệp công nghệ cao, các công ty, tập đoàn ngành bán dẫn; ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ bán dẫn. Theo đó, công nghệ bán dẫn được đưa vào danh sách các ngành, lĩnh vực được hưởng các ưu đãi cao nhất theo pháp luật về đầu tư từ chính sách thuế đến các hỗ trợ đầu tư chuyên biệt, như: vi mạch được xếp vào danh mục các sản phẩm công nghệ cao được ưu tiên khuyến khích phát triển theo Quyết định số 38/QĐ-TTg ngày 30/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển; phát triển vi mạch được nêu tại Quyết định số 127/QĐ-TTg ngày 26/01/2021 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng Trí tuệ nhân tạo đến năm 2030; Quyết định số 2117/QĐ-TTg ngày 16/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Danh mục công nghệ ưu tiên nghiên cứu, phát triển và ứng dụng để chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0; Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Chỉ thị số 16/ CT-TTg ngày 04/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”…

Thứ bảy, Việt Nam đã thành lập Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia cùng với 03 khu công nghệ cao tại các thành phố lớn là Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng và nhiều khu công nghiệp với hạ tầng hiện đại sẵn sàng đón nhận các nhà đầu tư ngành bán dẫn với cơ chế ưu đãi, hỗ trợ thuận lợi.

2. Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn 2050 (ban hành kèm theo Quyết định số 1018/QĐ-TTg) - cơ chế pháp lý vững chắc tạo động lực cho các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp bán dẫn phát triển

Ngày 21/9/2024, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1018/QĐ-TTg ban hành Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn 2050 (Chiến lược). Đây là cơ sở pháp lý vững chắc để thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp bán dẫn nói riêng và ngành bán dẫn nói chung. Theo đó, Chiến lược vạch ra lộ trình 03 giai đoạn phát triển với các nội dung sau[6]:

Giai đoạn 1 (2024 - 2030): (i) thu hút đầu tư FDI có chọn lọc, hình thành ít nhất 100 doanh nghiệp thiết kế, 01 nhà máy chế tạo chip bán dẫn quy mô nhỏ và 10 nhà máy đóng gói, kiểm thử sản phẩm bán dẫn; phát triển một số sản phẩm bán dẫn chuyên dụng trong một số ngành lĩnh vực; (ii) quy mô doanh thu công nghiệp bán dẫn tại Việt Nam đạt trên 25 tỷ USD/năm, giá trị gia tăng tại Việt Nam đạt từ 10 - 15%; quy mô doanh thu công nghiệp điện tử tại Việt Nam đạt trên 225 tỷ USD/năm, giá trị gia tăng tại Việt Nam đạt từ 10 - 15%; (iii) quy mô nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn Việt Nam đạt trên 50.000 kỹ sư, cử nhân có cơ cấu, số lượng phù hợp, đáp ứng nhu cầu phát triển.

Giai đoạn 2 (2030 - 2040): (i) phát triển công nghiệp bán dẫn kết hợp giữa tự cường và FDI, hình thành ít nhất 200 doanh nghiệp thiết kế, 02 nhà máy chế tạo chip bán dẫn, 15 nhà máy đóng gói, kiểm thử sản phẩm bán dẫn, từng bước tự chủ về công nghệ thiết kế, sản xuất sản phẩm bán dẫn chuyên dụng; (ii) quy mô doanh thu công nghiệp bán dẫn tại Việt Nam đạt trên 50 tỷ USD/năm, giá trị gia tăng tại Việt Nam đạt từ 15 - 20%; quy mô doanh thu công nghiệp điện tử tại Việt Nam đạt trên 485 tỷ USD/năm, giá trị gia tăng tại Việt Nam đạt từ 15 - 20%; (iii) quy mô nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn Việt Nam đạt trên 100.000 kỹ sư, cử nhân có cơ cấu, số lượng phù hợp, đáp ứng nhu cầu phát triển.

Giai đoạn 3 (2040 - 2050): (i) hình thành ít nhất 300 doanh nghiệp thiết kế, 03 nhà máy chế tạo chip bán dẫn, 20 nhà máy đóng gói, kiểm thử sản phẩm bán dẫn, làm chủ nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực bán dẫn; (ii) quy mô doanh thu công nghiệp bán dẫn tại Việt Nam đạt trên 100 tỷ USD/năm, giá trị gia tăng tại Việt Nam đạt từ 20 - 25%; quy mô doanh thu công nghiệp điện tử tại Việt Nam đạt trên 1.045 tỷ USD/năm, giá trị gia tăng tại Việt Nam đạt từ 20 - 25%; (iii) quy mô nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn Việt Nam có cơ cấu, số lượng phù hợp, đáp ứng nhu cầu phát triển; (iv) hoàn thiện hệ sinh thái công nghiệp bán dẫn Việt Nam tự chủ, có năng lực dẫn đầu ở một số công đoạn, phân khúc của chuỗi sản xuất.

Chiến lược cũng đã đặt ra 05 nhiệm vụ và giải pháp cụ thể như:

Thứ nhất, phát triển chip chuyên dụng.

- Nghiên cứu và phát triển công nghệ lõi, sản phẩm chip chuyên dụng đột phá thế hệ mới thông qua đầu tư vào các trung tâm nghiên cứu công nghệ lõi về bán dẫn, tập trung vào các lĩnh vực như chip AI, chip IoT; có cơ chế hỗ trợ cùng chia sẻ, dùng chung một số cơ sở hạ tầng phòng thí nghiệm, cơ sở nghiên cứu; mở rộng nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ ở cấp quốc gia, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp trong lĩnh vực bán dẫn.

- Phát triển hệ sinh thái công nghiệp bán dẫn trong nước, kết nối với hệ sinh thái công nghiệp bán dẫn của các đối tác chiến lược; xây dựng nền tảng, công cụ dùng chung phục vụ khởi nghiệp sáng tạo, đào tạo chuyên gia, thiết kế, phát triển chip bán dẫn; thúc đẩy phát triển, sử dụng chip chuyên dụng trong một số ngành, lĩnh vực: nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp tự động hóa, điện tử tiêu dùng, công nghiệp chuyển đổi số…

- Xây dựng cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, tài chính đặc biệt của Nhà nước để đầu tư xây dựng 01 nhà máy chế tạo chip bán dẫn quy mô nhỏ, công nghệ cao phục vụ nhu cầu nghiên cứu, thiết kế, sản xuất chip bán dẫn.

- Hỗ trợ doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu đào tạo đặt hàng sản xuất chip bán dẫn theo mô hình tập trung (Multi Project Wafer) để tiết kiệm thời gian, chi phí chế tạo, khuyến khích các dự án nghiên cứu, khởi nghiệp trong lĩnh vực bán dẫn

Thứ hai, phát triển công nghiệp điện tử.

- Hỗ trợ, thúc đẩy các tập đoàn, doanh nghiệp lớn trong nước sản xuất thiết bị điện tử thế hệ mới hướng tới phát triển thành doanh nghiệp đa quốc gia nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu và phát triển thị trường quốc tế; có cơ chế ưu đãi, khuyến khích các doanh nghiệp công nghệ số mở rộng sang đầu tư, sản xuất thiết bị điện tử thế hệ mới; hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực bán dẫn, điện tử.

- Phát triển hệ sinh thái công nghiệp phụ trợ, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đẩy mạnh liên doanh, liên kết với doanh nghiệp nước ngoài phục vụ sản xuất thiết bị điện tử dân dụng, chuyên dụng thế hệ mới.

- Hỗ trợ, thúc đẩy doanh nghiệp bán dẫn, điện tử Việt Nam tham gia Chương trình phát triển thương hiệu quốc gia, hướng đến thị trường trong nước, khu vực và quốc tế; xúc tiến thương mại, đầu tư công nghiệp bán dẫn, điện tử tại các thị trường trọng điểm; lựa chọn một số sản phẩm bán dẫn, điện tử vào Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia.

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực và thu hút nhân tài trong lĩnh vực bán dẫn.

- Xây dựng và tổ chức triển khai Đề án phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2050. Chú trọng, ưu tiên đào tạo lại, đào tạo nâng cao, đào tạo chuyển tiếp từ nguồn nhân lực sẵn có dồi dào là các kỹ sư điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin, công nghệ số, cùng với lợi thế nguồn nhân lực có năng lực về STEM dựa trên dự báo, tầm nhìn dài hạn, bám sát nhu cầu thị trường.

- Hỗ trợ kinh phí cho hoạt động đào tạo, xây dựng giáo trình và nghiên cứu cấp đại học và sau đại học; đầu tư, mua sắm trang thiết bị hiện đại cho các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu; phát triển các trung tâm dữ liệu, các hệ thống siêu máy tính phục vụ hoạt động nghiên cứu, đào tạo, phát triển trong lĩnh vực bán dẫn, điện tử và các công nghệ số mới như trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây...

- Xây dựng cơ chế, chính sách đột phá để thu hút và nuôi dưỡng nhân tài, các chuyên gia cao cấp hàng đầu thế giới trong lĩnh vực bán dẫn, điện tử trong và ngoài nước; kết nối chuyên gia đầu ngành trong nước và quốc tế, đặc biệt là các chuyên gia Việt Nam đang làm việc tại nước ngoài để hình thành Mạng lưới đổi mới sáng tạo Việt Nam trong lĩnh vực bán dẫn.

- Hợp tác quốc gia về cung cấp nhân lực trong lĩnh vực bán dẫn với một số quốc gia đang thiếu hụt nhân lực; thúc đẩy ký kết các cam kết về nhu cầu nhân lực giữa các cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp bán dẫn, điện tử trong và ngoài nước, để tạo đầu ra bảo đảm cho đào tạo thành công.

Thứ tư, thu hút đầu tư trong lĩnh vực bán dẫn.

- Xây dựng cơ chế ưu đãi cao nhất để thu hút có chọn lọc dự án đầu tư nước ngoài có hàm lượng công nghệ cao trong công nghiệp bán dẫn, điện tử từ nguồn ngân sách trung ương và địa phương; xây dựng cơ chế một cửa hành chính đối với các dự án đầu tư trong công nghiệp bán dẫn, điện tử.

- Nghiên cứu, thành lập Quỹ hỗ trợ đầu tư để giảm thiểu ảnh hưởng của thuế thu nhập tối thiểu toàn cầu.

- Có chính sách ưu tiên các doanh nghiệp nước ngoài trong lĩnh vực bán dẫn, điện tử có hoạt động nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam, sử dụng công nghiệp phụ trợ Việt Nam, liên doanh, liên kết với doanh nghiệp Việt Nam; tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa liên doanh với doanh nghiệp nước ngoài trong lĩnh vực bán dẫn, điện tử.

- Thiết lập cơ chế “làn xanh” và các cơ chế khác để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp phụ trợ, doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng hóa, nguyên liệu, vật tư, linh kiện liên quan đến công nghiệp bán dẫn, thiết bị điện tử dân dụng, chuyên dụng thế hệ mới.

- Đầu tư phát triển hạ tầng số, hạ tầng điện, hạ tầng cấp thoát nước, áp dụng cơ chế hỗ trợ giá điện, nước đáp ứng yêu cầu của các nhà máy sản xuất bán dẫn, thiết bị điện tử tại các khu vực đã được quy hoạch; ưu tiên phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng xanh phục vụ cho công nghiệp bán dẫn, điện tử.

Thứ năm, một số nhiệm vụ và giải pháp khác.

- Thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia về phát triển ngành công nghiệp bán dẫn (Ban Chỉ đạo), do Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng Ban Chỉ đạo. Ban Chỉ đạo là tổ chức phối hợp liên ngành, có chức năng giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo, phối hợp giải quyết những công việc quan trọng, liên ngành liên quan đến thúc đẩy phát triển công nghiệp bán dẫn tại Việt Nam.

- Thành lập Tổ Chuyên gia tư vấn chuyên môn về công nghiệp bán dẫn (Tổ Chuyên gia). Tổ Chuyên gia là cơ quan tham mưu, tư vấn độc lập, chuyên nghiệp, có tầm nhìn chiến lược, nhằm cung cấp các kiến thức, phân tích chuyên sâu về chuyên môn để tham mưu, tư vấn giúp Ban Chỉ đạo và Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, định hướng phát triển công nghiệp bán dẫn tại Việt Nam.

- Tổ Chuyên gia do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông làm Tổ trưởng. Thành phần Tổ Chuyên gia gồm đại diện các hội, hiệp hội, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, đào tạo và các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực bán dẫn;

- Xây dựng/Áp dụng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam (TCVN/QCVN) nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm bán dẫn, điện tử; hình thành, công nhận hệ thống các tổ chức đánh giá chất lượng, trung tâm kiểm nghiệm, kiểm định sản phẩm, dịch vụ bán dẫn, điện tử.

- Bổ sung hạng mục chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển, chế tạo, sản xuất sản phẩm bán dẫn, thiết bị điện tử dân dụng, chuyên dụng thế hệ mới của Việt Nam từ Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia.

- Thúc đẩy hợp tác quốc tế nhằm huy động nguồn lực cho phát triển ngành công nghiệp bán dẫn, điện tử Việt Nam; nâng cao vai trò của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong thúc đẩy hợp tác quốc tế về công nghiệp bán dẫn, điện tử.

- Xây dựng quy định khai thác, xử lý và tái sử dụng, xử lý chất thải độc hại trong quá trình khai thác tài nguyên, sản xuất bán dẫn, điện tử; nâng cao năng lực xử lý môi trường, đảm bảo tận dụng lợi thế về tài nguyên nhưng vẫn bảo đảm an toàn cho môi trường; ưu tiên thúc đẩy các dự án sản xuất xanh trong lĩnh vực bán dẫn, tiết kiệm năng lượng, tài nguyên, bảo vệ môi trường.

Như vậy, với sự ra đời của Chiến lược này có thể nhận thấy, quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta là rất lớn trong việc đưa các doanh nghiệp trong ngành bán dẫn của Việt Nam thực sự “cất cánh”, sẵn sàng trở thành “người chơi” chủ chốt trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

3. Dự án Luật Công nghiệp công nghệ số - tiếp thêm động lực phát triển cho các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp bán dẫn

Về dự án Luật Công nghiệp công nghệ số, Bộ Thông tin và Truyền thông nêu rõ mục đích là: “Thúc đẩy phát triển công nghiệp công nghệ số trở thành ngành kinh tế đóng góp lớn vào kinh tế đất nước; Việt Nam trở thành môi trường thuận lợi nhất để nuôi dưỡng và phát triển doanh nghiệp công nghệ số” và “Phát triển ngành công nghiệp công nghệ số với trọng tâm là các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam, chuyển dịch từ lắp ráp, gia công sang sáng tạo, thiết kế, sản xuất tại Việt Nam; góp phần xây dựng Chính phủ số, động lực phát triển kinh tế số, xã hội số”[7].

Dự thảo Luật đã có một chương riêng quy định về “Công nghiệp bán dẫn” thay cho “vi mạnh bán dẫn” nhằm bảo đảm tính bao quát, tổng thể, đẩy đủ các công đoạn của hoạt động công nghiệp bán dẫn, phù hợp với mục tiêu, đối tượng quản lý và đồng bộ hơn với Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn. Trong đó nêu rõ “Công nghiệp bán dẫn là một phân ngành quan trọng của công nghiệp công nghệ số, tương đối hoàn chỉnh mang tính vật lý cao, có quy mô đủ lớn”.

Liên quan đến dự án Luật này, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh, cần có những ưu đãi đặc biệt về đất đai, lệ phí, nguồn cung cấp nước sạch, điện, cơ sở hạ tầng và tài chính đối với công nghiệp bán dẫn. Trong đó Thủ tướng nêu rõ ưu đãi về tài chính là một cách thức thu hút nhà đầu tư, các tập đoàn, doanh nghiệp lớn của thế giới mở rộng hoạt động sản xuất chip tại Việt Nam, tạo cơ hội tiếp cận và chuyển giao công nghệ. Song song với ưu đãi tài chính, cần có những hỗ trợ phù hợp để tận dụng tốt ưu thế địa lý, đảm bảo sức thuyết phục với các nhà đầu tư, doanh nghiệp lớn[8].

Bên cạnh việc ban hành Luật Công nghiệp công nghệ số, để phát triển công nghiệp vi mạch, bán dẫn, điều quan trọng nhất là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, chọn các giải pháp khoa học nhất, hiệu quả nhất. Tức là phải thúc đẩy nghiên cứu khoa học cơ bản, phải hiểu về công nghệ lõi. Để làm được điều này, Chính phủ cần phải có những thay đổi, sửa đổi, bổ sung đối với Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Giáo dục… nhằm cụ thể hóa các chiến lược của Đảng và chính sách của Nhà nước đối với ngành công nghiệp này, đồng thời tạo môi trường thúc đẩy các doanh nghiệp bán dẫn đón đầu “công nghệ” mở ra thời kỳ khởi sắc mới cho nền kinh tế Việt Nam./.

Quỳnh Vũ


[1] Bộ trưởng Huỳnh Thành Đạt: Ngành Công nghệ bán dẫn giống như “hạt gạo”, https://tienphong.vn/bo-truong-huynh-thanh-dat-nganh-cong-nghe-ban-dan-giong-nhu-hat-gao-post1629633.tpo, truy cập ngày 22/12/2024.

[2] Thủ tướng: Việt Nam có lợi thế chiến lược và quyết tâm phát triển bằng được ngành công nghiệp bán dẫn, https://baochinhphu.vn/thu-tuong-viet-nam-co-loi-the-chien-luoc-va-quyet-tam-phat-trien-bang-duoc-nganh-cong-nghiep-ban-dan-102241214121304825.htm, truy cập ngày 22/12/2024.

[3] Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp bán dẫn, https://tapchitaichinh.vn/viet-nam-co-nhieu-tiem-nang-phat-trien-cong-nghiep-ban-dan.html, truy cập ngày 22/12/2024.

[4] Phát triển công nghiệp bán dẫn tại Việt Nam: Tiềm năng và thách thức, https://tapchitaichinh.vn/phat-trien-cong-nghiep-ban-dan-tai-viet-nam-tiem-nang-va-thach-thuc.html, truy cập ngày 22/12/2024.

[5] Trữ lượng đất hiếm của Việt Nam như thế nào so với thế giới, https://dantri.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/tru-luong-dat-hiem-tai-viet-nam-nhu-the-nao-so-voi-the-gioi-20231007002704575.htm, truy cập ngày 22/12/2024.

[6] Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn 2050, https://baochinhphu.vn/chien-luoc-phat-trien-cong-nghiep-ban-dan-viet-nam-den-nam-2030-va-tam-nhin-2050-10224092208021662.htm, truy cập ngày 22/12/2024.

[7] Phát triển công nghiệp công nghệ số thành ngành kinh tế đóng góp lớn cho đất nước, https://vietnamnet.vn/phat-trien-cn-cong-nghe-so-thanh-nganh-kinh-te-dong-gop-lon-cho-dat-nuoc-2329901.html, truy cập ngày 22/12/2024.

[8] Công nghiệp bán dẫn cần ưu đãi đặc biệt, https://tuoitre.vn/cong-nghiep-ban-dan-can-uu-dai-dac-biet-20241123234130668.htm, truy cập ngày 22/12/2024.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
Xây dựng nguồn nhân lực chuyên nghiệp để kiến tạo thể chế

Xây dựng nguồn nhân lực chuyên nghiệp để kiến tạo thể chế

Đội ngũ làm công tác tham mưu xây dựng pháp luật giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Đây cũng là nội dung trọng tâm được trao đổi tại Hội thảo “Xây dựng tiêu chí và hoàn thiện các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác tham mưu xây dựng pháp luật” do Bộ Tư pháp phối hợp với Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tổ chức sáng ngày 04/9.
Triển khai các chỉ đạo mới trong tổng rà soát văn bản

Triển khai các chỉ đạo mới trong tổng rà soát văn bản

Chiều ngày 04/9, Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật - Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị Quán triệt, trao đổi, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tại các cơ quan ở Trung ương và địa phương. Hội nghị nhằm tiếp tục triển khai các chỉ đạo mới, đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạn báo cáo chính thức.
Hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Chiều ngày 03/9, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 107/2023/QH15 ngày 29/11/2023 của Quốc hội về việc áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu (dự thảo Nghị quyết). Tham dự phiên họp có đại diện các bộ, ngành có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Vận hành quy trình 07 bước trong đánh giá KPI lập pháp

Vận hành quy trình 07 bước trong đánh giá KPI lập pháp

Theo văn bản hướng dẫn số 6374/BTP- CTXDVBQPPL ngày 17/8/2026 của Bộ Tư pháp, việc đánh giá, chấm điểm KPI trong công tác xây dựng pháp luật được thực hiện trên Hệ thống thông tin quản lý Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo quy trình 07 bước, từ xác định danh mục, cập nhật và xác nhận dữ liệu, đánh giá sơ bộ đến giải trình, xác nhận điểm số và tổng hợp kết quả.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
5 kỳ đánh giá, chấm điểm KPI về xây dựng pháp luật

5 kỳ đánh giá, chấm điểm KPI về xây dựng pháp luật

Để bảo đảm triển khai Quyết định số 1205/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ được thực hiện hiệu quả, thống nhất, ngày 17/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành văn bản số 6374/BTP-CTXDVBQPPL hướng dẫn đánh giá, chấm điểm KPI về công tác xây dựng pháp luật. Trong đó, hoạt động đánh giá và chấm điểm KPI được tổ chức thực hiện theo 05 kỳ. Cụ thể:
Luật Luật sư (sửa đổi): Nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư và hiệu quả quản lý nhà nước

Luật Luật sư (sửa đổi): Nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư và hiệu quả quản lý nhà nước

Dự án Luật Luật sư (sửa đổi) được xây dựng nhằm thể chế hóa chủ trương nâng cao tiêu chuẩn luật sư, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, tổ chức kỳ thi quốc gia cấp chứng chỉ hành nghề; đồng thời phát triển thị trường dịch vụ pháp lý minh bạch, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước gắn với phát huy trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.
Hoàn thiện pháp luật trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo

Hoàn thiện pháp luật trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra nhiều cơ hội cho phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời đặt ra những vấn đề pháp lý mới, đặc biệt là việc xác định trách nhiệm pháp lý của các chủ thể tham gia vào quá trình nghiên cứu, phát triển, cung cấp và sử dụng AI. Kinh nghiệm của Liên minh châu Âu và Cộng hòa Liên bang Đức được kỳ vọng sẽ cung cấp thêm những gợi mở cho Việt Nam trong quá trình xây dựng, hoàn thiện khung pháp luật về trí tuệ nhân tạo.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Bước phát triển mới trong nền tài phán trọng tài và pháp luật Việt Nam

Bước phát triển mới trong nền tài phán trọng tài và pháp luật Việt Nam

Ngày 27/8/2026, tại Singapore, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), Hội Pháp luật Xây dựng Việt Nam (SCLVN) và Công ty Luật YKVN phối hợp tổ chức Hội thảo “Let’s Talk About Vietnam: Arbitration Reform, VIFC & Construction Law 2025” tại Maxwell Chambers, Singapore, trong khuôn khổ Singapore Convention Week 2026.
Phát triển thị trường dịch vụ pháp lý minh bạch, chuyên nghiệp, hiệu quả

Phát triển thị trường dịch vụ pháp lý minh bạch, chuyên nghiệp, hiệu quả

Trong khuôn khổ Dự án "Tăng cường pháp luật và tư pháp tại Việt Nam - Giai đoạn II" (Dự án EU JULE II) do Liên minh Châu Âu tài trợ, ngày 25/8/2026, tại Hà Nội, Cục Bổ trợ tư pháp đã tổ chức Hội thảo tham vấn về giải pháp phát triển thị trường dịch vụ pháp lý minh bạch, chuyên nghiệp và hiệu quả tại khu vực phía Bắc.
Vận hành quy trình 07 bước, hệ số điều chỉnh K và cơ chế ngoại lệ trong đánh giá KPI lập pháp

Vận hành quy trình 07 bước, hệ số điều chỉnh K và cơ chế ngoại lệ trong đánh giá KPI lập pháp

Theo văn bản hướng dẫn số 6374/BTP- CTXDVBQPPL ngày 17/8/2026 của Bộ Tư pháp, việc đánh giá, chấm điểm KPI trong công tác xây dựng pháp luật được thực hiện trên Hệ thống thông tin quản lý Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo quy trình 07 bước, từ xác định danh mục, cập nhật và xác nhận dữ liệu, đánh giá sơ bộ đến giải trình, xác nhận điểm số và tổng hợp kết quả. Cùng với đó, cơ chế hệ số điều chỉnh K, điểm thưởng và các trường hợp ngoại lệ được thiết kế nhằm bảo đảm tính công bằng, khách quan, phù hợp với khối lượng công việc và điều kiện thực tế của từng cơ quan, góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu quả của hoạt động đánh giá.
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi): Xây dựng văn hóa pháp lý ngay từ cơ sở

Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi): Xây dựng văn hóa pháp lý ngay từ cơ sở

Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) tập trung khắc phục những vướng mắc trong quá trình thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải và quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở; góp phần phòng ngừa tranh chấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và tăng cường sự đồng thuận trong cộng đồng dân cư.

Theo dõi chúng tôi trên: