Thứ bảy 06/12/2025 07:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải quyết các tranh chấp về hợp đồng tính dụng liên quan đến thế chấp tại Nghệ An

Tóm tắt: Trên cơ sở phân tích một số trường hợp điển hình trong giải quyết tranh chấp về hợp đồng tín dụng liên quan đến thế chấp tại tỉnh Nghệ An, bài viết đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hợp đồng tín dụng liên quan đến thế chấp.

Abstract: Based on the analysis of a number of typical cases in dispute resolution on credit agreements related to mortgages in Nghe An province, the article proposes solutions to complete law and improve the efficiency of law enforcement on credit agreements related to mortgages

Hợp đồng tín dụng về bản chất là loại hợp đồng cho vay tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, được gọi là hợp đồng tín dụng khi chủ thể cho vay trong hợp đồng là các tổ chức tín dụng (ngân hàng). Qua đó, có thể hiểu hợp đồng tín dụng chính là hợp đồng cho vay, trong đó, ngân hàng là bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.

Khi thực hiện vay tiền tại các ngân hàng bắt buộc phải có tài sản thế chấp, thì cá nhân, tổ chức vay có thể thế chấp bằng nhiều loại tài sản khác nhau như: Thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, hệ thống máy móc, các loại xe có động cơ, sổ lương, sổ tiết kiệm… Tùy mỗi loại tài sản mà cách thức thế chấp khác nhau, nhưng điểm chung cơ bản là bên vay và ngân hàng ký hợp đồng tín dụng để cấp tín dụng và ký hợp đồng thế chấp để thế chấp tài sản bảo đảm cho khoản vay được các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Đối với tài sản là nhà, đất, thì hợp đồng thế chấp phải được lập thành văn bản và phải được công chứng, chứng thực, đăng ký giao dịch bảo đảm.

Hiện nay, các tranh chấp giữa các ngân hàng với khách hàng phát sinh từ các hợp đồng tín dụng dẫn đến phải yêu cầu Tòa án giải quyết ngày càng nhiều. Quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng có thế chấp hết sức phức tạp, do Tòa án phải xác định tính hợp pháp của hợp đồng thế chấp, qua đó xem xét có căn cứ pháp luật để xử lý kê biên tài sản thế chấp hay không nhằm bảo vệ quyền lợi cho ngân hàng hay tuyên bố vô hiệu hợp đồng thế chấp để bảo vệ quyền lợi cho bên thế chấp, đặc biệt bên thế chấp là bên thứ ba. Tòa án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của ngân hàng về việc xử lý tài sản thế chấp, đồng nghĩa với việc Tòa án có thể tuyên vô hiệu đối với hợp đồng thế chấp. Bên thế chấp cũng có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng thế chấp để tránh không bị xử lý tài sản thế chấp.

Hợp đồng thế chấp có thể bị Tòa án tuyên bố vô hiệu một phần hoặc vô hiệu toàn bộ. Khi Tòa án tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu toàn bộ thì tài sản thế chấp không bị Tòa án xử lý kê biên toàn bộ. Trong trường hợp này, người được lợi là bên thế chấp chứ không phải là bên vay trong hợp đồng tín dụng. Nếu Tòa án tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu một phần, thì Tòa án có thể chỉ xử lý kê biên một phần tài sản thế chấp.

Trong thực tiễn xét xử ở Nghệ An, tác giả đưa ra một số trường hợp đã giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng liên quan đến thế chấp như sau:

1. Tranh chấp về tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là sản chung của vợ chồng

Tài sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân. Theo quy định tại Điều 29, Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (trước đây là Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000), thì vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn, tài sản chung của vợ chồng là bất động sản thì phải do cả hai vợ chồng cùng bàn bạc, quyết định. Một trong hai người không có quyền đơn phương định đoạt tài sản chung của vợ chồng. Vì thế, khi ký hợp đồng thế chấp để định đoạt nhà đất thì cả hai vợ chồng phải ký vào hợp đồng thế chấp.

Ở Nghệ An, thực tế đã có trường hợp khi đến công chứng hợp đồng thế chấp, vợ hoặc chồng đưa một người khác đến và khẳng định đây là chồng (vợ) của mình. Do công chứng viên không kiểm tra kỹ hoặc người chồng (vợ) đó đã làm giấy tờ tùy thân giả để qua mặt công chứng viên. Khi phát sinh tranh chấp, ngân hàng đề nghị buộc bên vay trả nợ, nếu bên vay không trả được nợ thì đề nghị Tòa án xử lý kê biên tài sản thế chấp. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án phải đưa người vợ hoặc người chồng không ký trong hợp đồng thế chấp vào tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn (nếu ngân hàng kiện buộc vợ chồng trả nợ) hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (nếu bên thế chấp là bên thứ ba hoặc chỉ có người vợ hoặc người chồng là bên vay theo hợp đồng tín dụng).

Trong trường hợp này, nếu người vợ hoặc người chồng không ký vào hợp đồng thế chấp đưa ra phản tố hoặc đưa ra yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án vô hiệu hợp đồng thế chấp, thì có hai quan điểm khác nhau khi xử lý vô hiệu hợp đồng thế chấp:

Quan điểm thứ nhất: Vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp, cụ thể là Tòa án tuyên vô hiệu ½ phần tài sản mà người vợ hoặc người chồng không định đoạt, không ký vào hợp đồng thế chấp, ½ tài sản còn lại Tòa án kê biên, không tuyên vô hiệu. Quan điểm này cho rằng, nhà đất là tài sản chung của vợ chồng, mỗi người được quyền sử dụng, sở hữu ½ cho nên phần ½ của người đã ký trong hợp đồng thế chấp bị kê biên.

Quan điểm thứ hai: Vô hiệu toàn bộ hợp đồng thế chấp. Quan điểm này cho rằng, theo Điều 29, Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thì tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp này phải do cả hai vợ chồng cùng định đoạt, một bên không thể định đoạt tài sản chung của vợ chồng cho dù vợ hoặc chồng được quyền sử dụng, sở hữu ½ giá trị tài sản đó. Việc một bên vợ hoặc chồng không ký vào hợp đồng thế chấp hoặc bị giả mạo ký vào hợp đồng thế chấp là vi phạm điều cấm của pháp luật theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Tranh chấp về tài sản thế chấp là di sản thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

Đây là dạng tranh chấp phát sinh do quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không chặt chẽ đối với nhà, đất là di sản thừa kế. Theo đó, nhà, đất là di sản thừa kế nhưng nhưng khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại không được sự đồng ý của tất cả các đồng thừa kế. Theo quy định Bộ luật Dân sự năm 2015 (kế thừa các quy định của các Bộ luật Dân sự năm 1995 và 2005), quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là di sản thừa kế và được để lại thừa kế. Trong trường hợp người để lại di sản thừa kế không để lại di chúc, thì di sản được chia thừa kế theo pháp luật cho hàng thừa kế thứ nhất, thứ hai hoặc thứ ba. Khi di sản chưa được chia thì những người thừa kế theo pháp luật được quyền định đoạt ngang nhau đối với di sản đó thông qua việc lập văn bản phân chia di sản thừa kế hoặc thông qua các hình thức định đoạt khác như ủy quyền định đoạt, tặng cho...

Thực tiễn xảy ra tranh chấp là nhà, đất do cha mẹ để lại, khi chết không để lại di chúc nhưng quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc là không lập văn bản phân chia di sản thừa kế hoặc lập văn bản phân chia di sản thừa kế nhưng không đủ những người thừa kế theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Ví dụ: Ông A và bà B là vợ chồng có 03 người con là C, D, E. Năm 1995 ông A chết, năm 1996 bà B chết đều không để lại di chúc. Ông A, bà B chết để lại thửa đất 500m2 và một ngôi nhà cấp 4 gắn liền với thửa đất này tại xã L, huyện H. Sau khi ông A và bà B chết, E là người sinh sống, quản lý nhà đất do ông A và bà B để lại, còn C và D lập gia đình và thoát ly khỏi địa phương. Năm 2000, E làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. E và C đã lập văn bản phân chia di sản thừa kế có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã L với nội dung là phân chia toàn bộ thửa đất 500m2 và ngôi nhà cấp 4 gắn liền với thửa đất này cho E và đề nghị Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho E. Khi lập văn bản phân chia di sản thừa kế chỉ có E và C ký vào văn bản, còn D không biết và không ký vào văn bản phân chia di sản thừa kế. Trên cơ sở văn bản phân chia di sản thừa kế này, Ủy ban nhân dân huyện H đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho E.

Như vậy, văn bản phân chia di sản thừa kế được lập để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho E nhưng không được sự đồng ý của D là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền thừa kế của D. Sau khi thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho E, E đã thế chấp để vay tiền tại ngân hàng. Do không trả được nợ, ngân hàng khởi kiện E ra Tòa buộc E trả nợ và đề nghị Tòa án xử lý kê biên tài sản thế chấp. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đưa D tham gia tố tụng với tư cách người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Khi tham gia tố tụng, D đã phản tố yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho E và tuyên bố vô hiệu hợp đồng thế chấp giữa E và ngân hàng. Trong trường hợp này, Tòa án sẽ căn cứ các quy định của pháp luật về thừa kế và các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu để tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho E và tuyên vô hiệu hợp đồng thế chấp giữa E và ngân hàng.

3. Tranh chấp trong trường hợp đáo hạn hợp đồng tín dụng mà tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

Phần lớn trường hợp vay đều không trả được nợ đúng hạn, đặc biệt là các hợp đồng tín dụng ngắn hạn 12 tháng. Khi đến hạn, bên vay không trả được nợ nhưng lãi suất vẫn trả đủ và đúng hạn thì ngân hàng sẽ cho vay tiếp bằng việc “đáo hạn” hợp đồng tín dụng. Theo đó, bên vay sẽ tìm kiếm nguồn tiền tạm thời để thanh toán khoản vay. Sau khi thanh toán, theo quy định trong vòng vài ngày, ngân hàng sẽ cho vay lại bằng việc ký hợp đồng tín dụng mới. Tuy nhiên, ngân hàng lại không ký hợp đồng thế chấp mới mà căn cứ vào điều khoản thông thường ngân hàng đưa vào trong hợp đồng thế chấp trước đó là tài sản thế chấp được bảo đảm tất các các khoản vay, lãi suất, lãi chậm thanh toán, lãi phạt và các nghĩa vụ khác của bên vay phát sinh trước và sau khi ký hợp đồng này. Nghĩa là, ngân hàng cho rằng, chỉ cần một lần ký hợp đồng thế chấp nhưng vẫn bảo đảm được cho nhiều hợp đồng tín dụng.

Ví dụ: Ngày 25/5/2012, ngân hàng và ông A ký Hợp đồng tín dụng số 123 để cho ông A vay 1 tỷ đồng với thời hạn 12 tháng và ký Hợp đồng thế chấp số 456, bên thế chấp là ông X và bà Y. Hợp đồng thế chấp số 456 có điều khoản tài sản thế chấp được bảo đảm tất các các khoản vay, lãi suất, lãi chậm thanh toán, lãi phạt và các nghĩa vụ khác của bên vay phát sinh trước và sau khi ký hợp đồng này. Đến ngày 25/5/2013, ông A trả khoản vay 1 tỷ cho ngân hàng. Ngày 26/5/2013, ngân hàng và ông A ký Hợp đồng tín dụng số 345 cho ông A vay 1 tỷ đồng với thời hạn 12 tháng nhưng không ký hợp đồng thế chấp mới mà tiếp tục sử dụng tài sản theo Hợp đồng thế chấp số 456 để thế chấp. Khi phát sinh tranh chấp, ngân hàng khởi kiện ra Tòa yêu cầu ông A trả nợ và xử lý tài sản thế chấp. Lúc này Tòa án đưa ông X và bà Y tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Ông X và bà Y cho rằng, Tòa án không được tuyên xử lý kê biên tài sản thế chấp vì khoản tiền 1 tỷ đồng theo Hợp đồng tín dụng số 123 đã được ông A tất toán, ông X và bà Y chỉ bảo đảm cho khoản vay 1 tỷ đồng theo Hợp đồng tín dụng số 123 chứ không bảo đảm cho khoản vay 1 tỷ đồng theo Hợp đồng tín dụng số 345.

Thực tiễn xét xử có hai quan điểm khác nhau về việc có căn cứ Hợp đồng thế chấp số 456 để buộc ông X và bà Y thực hiện nghĩa vụ đối với ngân hàng và kê biên nhà đất để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ đó.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, cần căn cứ điều khoản trong Hợp đồng thế chấp số 456 là tài sản thế chấp được bảo đảm tất các các khoản vay, lãi suất, lãi chậm thanh toán, lãi phạt và các nghĩa vụ khác của bên vay phát sinh trước và sau khi ký hợp đồng này để buộc để buộc ông X và bà Y thực hiện nghĩa vụ đối với ngân hàng và kê biên nhà đất để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ đó. Theo đó, khi ký Hợp đồng thế chấp số 456, ông X và bà Y đã đồng ý dùng tài sản thế chấp để bảo đảm cho tất cả các khoản vay và nghĩa vụ phát sinh trước và sau khi ký hợp đồng thế chấp. Đây là ý chí của ông X và bà Y nên họ phải thực hiện nghĩa vụ.

Quan điểm thứ hai cho rằng, đề nghị của ông X và bà Y là có căn cứ. Bởi vì, ông X và bà Y khi ký hợp đồng thế chấp với nghĩa vụ bảo đảm cho khoản vay 1 tỷ đồng theo Hợp đồng tín dụng số 123. Nếu ông A không trả được khoản vay gắn liền với Hợp đồng tín dụng số 123, thì ông X và bà Y phải trả thay. Nhưng khi ông A đã tất toán khoản nợ này vào ngày 25/5/2013, thì nghĩa vụ bảo đảm của ông X và bà Y cũng chấm dứt. Ông X và bà Y không thế chấp để bảo đảm cho khoản vay 1 tỷ đồng theo Hợp đồng tín dụng 345 ngày 27/5/2013, vì đây là khoản vay mới theo hợp đồng tín dụng mới nên họ không có nghĩa vụ trả nợ thay cho khoản nợ này.

4. Kiến nghị

Thứ nhất, việc nhận thức, đánh giá các quy định của pháp luật về vô hiệu hợp đồng toàn bộ hoặc vô hiệu một phần có những nhìn nhận khác nhau. Đối với dạng tranh chấp về tài sản thế chấp là sản chung của vợ chồng trên đây, có quan điểm cho rằng cần căn cứ vào ½ quyền sử dụng, sở hữu tài sản của vợ chồng để vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp, có quan điểm thì ngược lại là phải vô hiệu toàn bộ hợp đồng thế chấp. Vì thế, cần có quy định cụ thể hơn về hợp đồng vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu một phần trong trường hợp này. Theo chúng tôi, trong những trường hợp này cần quy định vô hiệu toàn bộ đối với hợp đồng thế chấp.

Thứ hai, cần tăng cường và nâng cao vai trò của Ủy ban nhân dân cấp xã nói chung, cán bộ tư pháp cấp xã nói riêng trong trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với nhà đất là di sản thừa kế. Quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cán bộ phụ trách việc cấp giấy của Ủy ban nhân dân cấp xã cùng với cán bộ tư pháp xã cần phối hợp chặt chẽ với cán bộ khối, xóm nơi có đất, nơi cư trú của người để lại di sản chết để xác minh, nắm rõ những người được thừa kế di sản để lập văn bản phân chia di sản thừa kế đủ hàng thừa kế theo quy định. Văn bản phân chia di sản thừa kế có thể được công chứng, chứng thực tại Phòng Công chứng, Văn phòng Công chứng hoặc chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã. Cho dù được công chứng, chứng thực ở đâu thì vai trò của cán bộ tư pháp cấp xã là hết sức quan trọng trong việc nắm rõ những người thừa kế được quyền định đoạt di sản thừa kế để bảo đảm không bỏ sót người được thừa kế khi lập văn bản phân chia di sản thừa kế.

Thứ ba, các ngân hàng trong phạm vi chức năng, quyền hạn của mình cần quán triệt và quy định rõ mỗi một khoản vay theo hợp đồng tín dụng phải ký một hợp đồng thế chấp, khi khoản tiền theo từng hợp đồng tín dụng đã được bên vay tất toán thì các bên phải xóa thế chấp, ký lại hợp đồng tín dụng mới và ký hợp đồng thế chấp mới, đồng thời hợp đồng thế chấp mới này phải được đăng ký giao dịch bảo đảm theo các quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm.

Trần Ngọc Sơn

Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn các em đang hình thành nhân cách, dễ bồng bột, thiếu kỹ năng kiểm soát cảm xúc và nhận thức pháp luật còn hạn chế. Nếu không được định hướng, các em rất dễ sa vào những hành vi vi phạm pháp luật đáng tiếc. Chỉ một phút nóng giận, một quyết định bồng bột… cũng đủ khiến tuổi trẻ phải trả giá bằng cả những tháng ngày sau song sắt. Thế nhưng, trong câu chuyện buồn ấy, vẫn có một điểm sáng nhân văn - đó là bàn tay nâng đỡ của trợ giúp pháp lý miễn phí, để một thiếu niên lầm lỡ có cơ hội sửa sai và làm lại từ đầu.

Theo dõi chúng tôi trên: