Thứ tư 26/08/2026 01:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải quyết các tranh chấp về hợp đồng tính dụng liên quan đến thế chấp tại Nghệ An

Tóm tắt: Trên cơ sở phân tích một số trường hợp điển hình trong giải quyết tranh chấp về hợp đồng tín dụng liên quan đến thế chấp tại tỉnh Nghệ An, bài viết đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hợp đồng tín dụng liên quan đến thế chấp.

Abstract: Based on the analysis of a number of typical cases in dispute resolution on credit agreements related to mortgages in Nghe An province, the article proposes solutions to complete law and improve the efficiency of law enforcement on credit agreements related to mortgages

Hợp đồng tín dụng về bản chất là loại hợp đồng cho vay tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, được gọi là hợp đồng tín dụng khi chủ thể cho vay trong hợp đồng là các tổ chức tín dụng (ngân hàng). Qua đó, có thể hiểu hợp đồng tín dụng chính là hợp đồng cho vay, trong đó, ngân hàng là bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.

Khi thực hiện vay tiền tại các ngân hàng bắt buộc phải có tài sản thế chấp, thì cá nhân, tổ chức vay có thể thế chấp bằng nhiều loại tài sản khác nhau như: Thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, hệ thống máy móc, các loại xe có động cơ, sổ lương, sổ tiết kiệm… Tùy mỗi loại tài sản mà cách thức thế chấp khác nhau, nhưng điểm chung cơ bản là bên vay và ngân hàng ký hợp đồng tín dụng để cấp tín dụng và ký hợp đồng thế chấp để thế chấp tài sản bảo đảm cho khoản vay được các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Đối với tài sản là nhà, đất, thì hợp đồng thế chấp phải được lập thành văn bản và phải được công chứng, chứng thực, đăng ký giao dịch bảo đảm.

Hiện nay, các tranh chấp giữa các ngân hàng với khách hàng phát sinh từ các hợp đồng tín dụng dẫn đến phải yêu cầu Tòa án giải quyết ngày càng nhiều. Quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng có thế chấp hết sức phức tạp, do Tòa án phải xác định tính hợp pháp của hợp đồng thế chấp, qua đó xem xét có căn cứ pháp luật để xử lý kê biên tài sản thế chấp hay không nhằm bảo vệ quyền lợi cho ngân hàng hay tuyên bố vô hiệu hợp đồng thế chấp để bảo vệ quyền lợi cho bên thế chấp, đặc biệt bên thế chấp là bên thứ ba. Tòa án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của ngân hàng về việc xử lý tài sản thế chấp, đồng nghĩa với việc Tòa án có thể tuyên vô hiệu đối với hợp đồng thế chấp. Bên thế chấp cũng có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng thế chấp để tránh không bị xử lý tài sản thế chấp.

Hợp đồng thế chấp có thể bị Tòa án tuyên bố vô hiệu một phần hoặc vô hiệu toàn bộ. Khi Tòa án tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu toàn bộ thì tài sản thế chấp không bị Tòa án xử lý kê biên toàn bộ. Trong trường hợp này, người được lợi là bên thế chấp chứ không phải là bên vay trong hợp đồng tín dụng. Nếu Tòa án tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu một phần, thì Tòa án có thể chỉ xử lý kê biên một phần tài sản thế chấp.

Trong thực tiễn xét xử ở Nghệ An, tác giả đưa ra một số trường hợp đã giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng liên quan đến thế chấp như sau:

1. Tranh chấp về tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là sản chung của vợ chồng

Tài sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân. Theo quy định tại Điều 29, Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (trước đây là Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000), thì vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn, tài sản chung của vợ chồng là bất động sản thì phải do cả hai vợ chồng cùng bàn bạc, quyết định. Một trong hai người không có quyền đơn phương định đoạt tài sản chung của vợ chồng. Vì thế, khi ký hợp đồng thế chấp để định đoạt nhà đất thì cả hai vợ chồng phải ký vào hợp đồng thế chấp.

Ở Nghệ An, thực tế đã có trường hợp khi đến công chứng hợp đồng thế chấp, vợ hoặc chồng đưa một người khác đến và khẳng định đây là chồng (vợ) của mình. Do công chứng viên không kiểm tra kỹ hoặc người chồng (vợ) đó đã làm giấy tờ tùy thân giả để qua mặt công chứng viên. Khi phát sinh tranh chấp, ngân hàng đề nghị buộc bên vay trả nợ, nếu bên vay không trả được nợ thì đề nghị Tòa án xử lý kê biên tài sản thế chấp. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án phải đưa người vợ hoặc người chồng không ký trong hợp đồng thế chấp vào tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn (nếu ngân hàng kiện buộc vợ chồng trả nợ) hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (nếu bên thế chấp là bên thứ ba hoặc chỉ có người vợ hoặc người chồng là bên vay theo hợp đồng tín dụng).

Trong trường hợp này, nếu người vợ hoặc người chồng không ký vào hợp đồng thế chấp đưa ra phản tố hoặc đưa ra yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án vô hiệu hợp đồng thế chấp, thì có hai quan điểm khác nhau khi xử lý vô hiệu hợp đồng thế chấp:

Quan điểm thứ nhất: Vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp, cụ thể là Tòa án tuyên vô hiệu ½ phần tài sản mà người vợ hoặc người chồng không định đoạt, không ký vào hợp đồng thế chấp, ½ tài sản còn lại Tòa án kê biên, không tuyên vô hiệu. Quan điểm này cho rằng, nhà đất là tài sản chung của vợ chồng, mỗi người được quyền sử dụng, sở hữu ½ cho nên phần ½ của người đã ký trong hợp đồng thế chấp bị kê biên.

Quan điểm thứ hai: Vô hiệu toàn bộ hợp đồng thế chấp. Quan điểm này cho rằng, theo Điều 29, Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thì tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp này phải do cả hai vợ chồng cùng định đoạt, một bên không thể định đoạt tài sản chung của vợ chồng cho dù vợ hoặc chồng được quyền sử dụng, sở hữu ½ giá trị tài sản đó. Việc một bên vợ hoặc chồng không ký vào hợp đồng thế chấp hoặc bị giả mạo ký vào hợp đồng thế chấp là vi phạm điều cấm của pháp luật theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Tranh chấp về tài sản thế chấp là di sản thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

Đây là dạng tranh chấp phát sinh do quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không chặt chẽ đối với nhà, đất là di sản thừa kế. Theo đó, nhà, đất là di sản thừa kế nhưng nhưng khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại không được sự đồng ý của tất cả các đồng thừa kế. Theo quy định Bộ luật Dân sự năm 2015 (kế thừa các quy định của các Bộ luật Dân sự năm 1995 và 2005), quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là di sản thừa kế và được để lại thừa kế. Trong trường hợp người để lại di sản thừa kế không để lại di chúc, thì di sản được chia thừa kế theo pháp luật cho hàng thừa kế thứ nhất, thứ hai hoặc thứ ba. Khi di sản chưa được chia thì những người thừa kế theo pháp luật được quyền định đoạt ngang nhau đối với di sản đó thông qua việc lập văn bản phân chia di sản thừa kế hoặc thông qua các hình thức định đoạt khác như ủy quyền định đoạt, tặng cho...

Thực tiễn xảy ra tranh chấp là nhà, đất do cha mẹ để lại, khi chết không để lại di chúc nhưng quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc là không lập văn bản phân chia di sản thừa kế hoặc lập văn bản phân chia di sản thừa kế nhưng không đủ những người thừa kế theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Ví dụ: Ông A và bà B là vợ chồng có 03 người con là C, D, E. Năm 1995 ông A chết, năm 1996 bà B chết đều không để lại di chúc. Ông A, bà B chết để lại thửa đất 500m2 và một ngôi nhà cấp 4 gắn liền với thửa đất này tại xã L, huyện H. Sau khi ông A và bà B chết, E là người sinh sống, quản lý nhà đất do ông A và bà B để lại, còn C và D lập gia đình và thoát ly khỏi địa phương. Năm 2000, E làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. E và C đã lập văn bản phân chia di sản thừa kế có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã L với nội dung là phân chia toàn bộ thửa đất 500m2 và ngôi nhà cấp 4 gắn liền với thửa đất này cho E và đề nghị Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho E. Khi lập văn bản phân chia di sản thừa kế chỉ có E và C ký vào văn bản, còn D không biết và không ký vào văn bản phân chia di sản thừa kế. Trên cơ sở văn bản phân chia di sản thừa kế này, Ủy ban nhân dân huyện H đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho E.

Như vậy, văn bản phân chia di sản thừa kế được lập để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho E nhưng không được sự đồng ý của D là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền thừa kế của D. Sau khi thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho E, E đã thế chấp để vay tiền tại ngân hàng. Do không trả được nợ, ngân hàng khởi kiện E ra Tòa buộc E trả nợ và đề nghị Tòa án xử lý kê biên tài sản thế chấp. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đưa D tham gia tố tụng với tư cách người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Khi tham gia tố tụng, D đã phản tố yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho E và tuyên bố vô hiệu hợp đồng thế chấp giữa E và ngân hàng. Trong trường hợp này, Tòa án sẽ căn cứ các quy định của pháp luật về thừa kế và các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu để tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho E và tuyên vô hiệu hợp đồng thế chấp giữa E và ngân hàng.

3. Tranh chấp trong trường hợp đáo hạn hợp đồng tín dụng mà tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

Phần lớn trường hợp vay đều không trả được nợ đúng hạn, đặc biệt là các hợp đồng tín dụng ngắn hạn 12 tháng. Khi đến hạn, bên vay không trả được nợ nhưng lãi suất vẫn trả đủ và đúng hạn thì ngân hàng sẽ cho vay tiếp bằng việc “đáo hạn” hợp đồng tín dụng. Theo đó, bên vay sẽ tìm kiếm nguồn tiền tạm thời để thanh toán khoản vay. Sau khi thanh toán, theo quy định trong vòng vài ngày, ngân hàng sẽ cho vay lại bằng việc ký hợp đồng tín dụng mới. Tuy nhiên, ngân hàng lại không ký hợp đồng thế chấp mới mà căn cứ vào điều khoản thông thường ngân hàng đưa vào trong hợp đồng thế chấp trước đó là tài sản thế chấp được bảo đảm tất các các khoản vay, lãi suất, lãi chậm thanh toán, lãi phạt và các nghĩa vụ khác của bên vay phát sinh trước và sau khi ký hợp đồng này. Nghĩa là, ngân hàng cho rằng, chỉ cần một lần ký hợp đồng thế chấp nhưng vẫn bảo đảm được cho nhiều hợp đồng tín dụng.

Ví dụ: Ngày 25/5/2012, ngân hàng và ông A ký Hợp đồng tín dụng số 123 để cho ông A vay 1 tỷ đồng với thời hạn 12 tháng và ký Hợp đồng thế chấp số 456, bên thế chấp là ông X và bà Y. Hợp đồng thế chấp số 456 có điều khoản tài sản thế chấp được bảo đảm tất các các khoản vay, lãi suất, lãi chậm thanh toán, lãi phạt và các nghĩa vụ khác của bên vay phát sinh trước và sau khi ký hợp đồng này. Đến ngày 25/5/2013, ông A trả khoản vay 1 tỷ cho ngân hàng. Ngày 26/5/2013, ngân hàng và ông A ký Hợp đồng tín dụng số 345 cho ông A vay 1 tỷ đồng với thời hạn 12 tháng nhưng không ký hợp đồng thế chấp mới mà tiếp tục sử dụng tài sản theo Hợp đồng thế chấp số 456 để thế chấp. Khi phát sinh tranh chấp, ngân hàng khởi kiện ra Tòa yêu cầu ông A trả nợ và xử lý tài sản thế chấp. Lúc này Tòa án đưa ông X và bà Y tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Ông X và bà Y cho rằng, Tòa án không được tuyên xử lý kê biên tài sản thế chấp vì khoản tiền 1 tỷ đồng theo Hợp đồng tín dụng số 123 đã được ông A tất toán, ông X và bà Y chỉ bảo đảm cho khoản vay 1 tỷ đồng theo Hợp đồng tín dụng số 123 chứ không bảo đảm cho khoản vay 1 tỷ đồng theo Hợp đồng tín dụng số 345.

Thực tiễn xét xử có hai quan điểm khác nhau về việc có căn cứ Hợp đồng thế chấp số 456 để buộc ông X và bà Y thực hiện nghĩa vụ đối với ngân hàng và kê biên nhà đất để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ đó.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, cần căn cứ điều khoản trong Hợp đồng thế chấp số 456 là tài sản thế chấp được bảo đảm tất các các khoản vay, lãi suất, lãi chậm thanh toán, lãi phạt và các nghĩa vụ khác của bên vay phát sinh trước và sau khi ký hợp đồng này để buộc để buộc ông X và bà Y thực hiện nghĩa vụ đối với ngân hàng và kê biên nhà đất để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ đó. Theo đó, khi ký Hợp đồng thế chấp số 456, ông X và bà Y đã đồng ý dùng tài sản thế chấp để bảo đảm cho tất cả các khoản vay và nghĩa vụ phát sinh trước và sau khi ký hợp đồng thế chấp. Đây là ý chí của ông X và bà Y nên họ phải thực hiện nghĩa vụ.

Quan điểm thứ hai cho rằng, đề nghị của ông X và bà Y là có căn cứ. Bởi vì, ông X và bà Y khi ký hợp đồng thế chấp với nghĩa vụ bảo đảm cho khoản vay 1 tỷ đồng theo Hợp đồng tín dụng số 123. Nếu ông A không trả được khoản vay gắn liền với Hợp đồng tín dụng số 123, thì ông X và bà Y phải trả thay. Nhưng khi ông A đã tất toán khoản nợ này vào ngày 25/5/2013, thì nghĩa vụ bảo đảm của ông X và bà Y cũng chấm dứt. Ông X và bà Y không thế chấp để bảo đảm cho khoản vay 1 tỷ đồng theo Hợp đồng tín dụng 345 ngày 27/5/2013, vì đây là khoản vay mới theo hợp đồng tín dụng mới nên họ không có nghĩa vụ trả nợ thay cho khoản nợ này.

4. Kiến nghị

Thứ nhất, việc nhận thức, đánh giá các quy định của pháp luật về vô hiệu hợp đồng toàn bộ hoặc vô hiệu một phần có những nhìn nhận khác nhau. Đối với dạng tranh chấp về tài sản thế chấp là sản chung của vợ chồng trên đây, có quan điểm cho rằng cần căn cứ vào ½ quyền sử dụng, sở hữu tài sản của vợ chồng để vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp, có quan điểm thì ngược lại là phải vô hiệu toàn bộ hợp đồng thế chấp. Vì thế, cần có quy định cụ thể hơn về hợp đồng vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu một phần trong trường hợp này. Theo chúng tôi, trong những trường hợp này cần quy định vô hiệu toàn bộ đối với hợp đồng thế chấp.

Thứ hai, cần tăng cường và nâng cao vai trò của Ủy ban nhân dân cấp xã nói chung, cán bộ tư pháp cấp xã nói riêng trong trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với nhà đất là di sản thừa kế. Quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cán bộ phụ trách việc cấp giấy của Ủy ban nhân dân cấp xã cùng với cán bộ tư pháp xã cần phối hợp chặt chẽ với cán bộ khối, xóm nơi có đất, nơi cư trú của người để lại di sản chết để xác minh, nắm rõ những người được thừa kế di sản để lập văn bản phân chia di sản thừa kế đủ hàng thừa kế theo quy định. Văn bản phân chia di sản thừa kế có thể được công chứng, chứng thực tại Phòng Công chứng, Văn phòng Công chứng hoặc chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã. Cho dù được công chứng, chứng thực ở đâu thì vai trò của cán bộ tư pháp cấp xã là hết sức quan trọng trong việc nắm rõ những người thừa kế được quyền định đoạt di sản thừa kế để bảo đảm không bỏ sót người được thừa kế khi lập văn bản phân chia di sản thừa kế.

Thứ ba, các ngân hàng trong phạm vi chức năng, quyền hạn của mình cần quán triệt và quy định rõ mỗi một khoản vay theo hợp đồng tín dụng phải ký một hợp đồng thế chấp, khi khoản tiền theo từng hợp đồng tín dụng đã được bên vay tất toán thì các bên phải xóa thế chấp, ký lại hợp đồng tín dụng mới và ký hợp đồng thế chấp mới, đồng thời hợp đồng thế chấp mới này phải được đăng ký giao dịch bảo đảm theo các quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm.

Trần Ngọc Sơn

Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: