Thứ hai 24/08/2026 17:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải quyết ly hôn hay không công nhận quan hệ vợ chồng trong trường hợp không còn giấy tờ xác nhận sự tồn tại của quan hệ hôn nhân

Giải quyết ly hôn hay không công nhận quan hệ vợ chồng trong trường hợp không còn giấy tờ xác nhận sự tồn tại của quan hệ hôn nhân

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả phân tích căn cứ ly hôn, không công nhận quan hệ vợ chồng, vấn đề giải quyết yêu cầu ly hôn khi mất giấy chứng nhận kết hôn qua ví dụ thực tiễn và đưa ra một số kiến nghị.

Abstract: In this article, the author analyzes the grounds for porce, non-recognition of the husband-and-wife relationship, the issue of resolving the porce request when the marriage certificate is lost through practical examples and makes some recommendations.

1. Thực tiễn giải quyết của Tòa án trong trường hợp các bên yêu cầu ly hôn nhưng không còn giấy tờ xác nhận sự tồn tại của quan hệ hôn nhân

Trong thực tiễn xét xử, có những trường hợp các đương sự khi nộp đơn yêu cầu ly hôn trình bày là có đăng ký kết hôn nhưng họ đã làm mất giấy chứng nhận kết hôn (GCNKH). Họ đã đến Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã nơi đăng ký kết hôn để yêu cầu cấp trích lục kết hôn nhưng UBND cấp xã trả lời rằng do sổ hộ tịch của xã đã bị mất hoặc không còn lưu hồ sơ nên không thể xác nhận việc đăng ký kết hôn của họ. Trong những trường hợp này, các Tòa án đã có hướng giải quyết khác nhau. Tác giả đưa ra hai vụ án điển hình về vấn đề này.

Trường hợp thứ nhất: Anh A và chị B tổ chức đám cưới vào năm 1994, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện N, tỉnh N nhưng GCNKH đã mất. Nay anh chị có yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn. Tại biên bản xác minh ngày 26/6/2019, UBND xã S xác nhận anh A và chị B chung sống với nhau từ năm 1994 và hiện nay UBND không còn sổ lưu về việc đăng ký kết hôn này. Tòa án đã tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh A và chị B[1].

Trường hợp thứ hai: Trong đơn ly hôn, anh Q và chị H trình bày tổ chức đám cưới vào ngày 27/12/1987, có đăng ký kết hôn tại UBND xã G. Tuy nhiên, anh chị không đưa ra được GCNKH với lý do đã làm mất. Tòa án cấp sơ thẩm xác định anh Q và chị H có đăng ký kết hôn căn cứ vào lời xác nhận của ông T - Phó Ban Công an phụ trách hộ tịch hộ khẩu xã G năm 1987 (người trước đây đã thực hiện đăng ký kết hôn cho anh Q, chị H). Do đó, Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm đã công nhận sự thỏa thuận thuận tình ly hôn giữa anh Q và chị H. Sau đó, Bản án sơ thẩm đã bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh kháng nghị với lý do Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của đương sự và giấy xác nhận của ông T để giải quyết công nhận thuận tình ly hôn là chưa đủ căn cứ. Tòa án cấp phúc thẩm đã về địa phương để xem xét lại tính xác thực của chứng cứ về việc đăng ký kết hôn của đương sự. UBND xã G đã cung cấp như sau: Anh Q và chị H có đăng ký kết hôn. Bởi vì sổ sách để theo dõi việc đăng ký kết hôn từ năm 1987 đến năm 1990 bị thất lạc, không còn lưu tại UBND nữa, cho nên UBND đã căn cứ vào lời trình bày của ông T để xác nhận việc anh Q và chị H có đăng ký kết hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy đã đủ căn cứ xác định anh Q, chị H có đăng ký kết hôn, giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm về quyết định công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Q, chị H[2].

Trong các trường hợp trên, để được xem là vợ chồng thì đương sự phải chứng minh được quan hệ hôn nhân của mình là hợp pháp. Về nghĩa vụ chứng minh, pháp luật quy định đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp[3]. Nếu đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc. Như vậy, để được giải quyết cho ly hôn, các bên phải chứng minh mối quan hệ vợ chồng giữa họ bằng việc cung cấp GCNKH. Nhưng trong các trường hợp này, do các bên đã làm mất GCNKH nên cần căn cứ vào sổ hộ tịch được lưu trữ tại UBND.

Theo quy định của pháp luật về hộ tịch, đối với trường hợp sổ hộ tịch bị mất và người dân cũng bị mất GCNKH bản chính, thì cần phải có GCNKH bản sao hoặc giấy tờ cá nhân có chứa các thông tin liên quan đến nội dung đăng ký kết hôn. Điều này đồng nghĩa với việc pháp luật cho phép người dân dùng các giấy tờ có liên quan đến việc đã từng đăng ký kết hôn để chứng minh quan hệ hôn nhân của mình là hợp pháp khi họ thực hiện việc đăng ký lại kết hôn[4]. Như vậy, tại sao không cho phép các bên yêu cầu giải quyết ly hôn trong trường hợp này có thể chứng minh quan hệ hôn nhân của họ bằng nhiều cách thức?

Tác giả đồng ý với cách giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh trong trường hợp thứ hai nêu trên. Bởi lẽ, so với trường hợp thứ nhất, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm đã xét xử một cách linh hoạt hơn.

Ngoài ra, đối với trường hợp nam, nữ có đăng ký kết hôn trước ngày 03/01/1987 mà làm mất GCNKH và có yêu cầu ly hôn thì cách giải quyết sẽ khác các trường hợp trên, bởi vì đây là giai đoạn Nhà nước công nhận hôn nhân thực tế[5]. Do đó, nếu họ có đăng ký kết hôn nhưng đã làm mất GCNKH mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án vẫn giải quyết cho họ ly hôn.

2. Một số kiến nghị

Trong trường hợp không công nhận quan hệ vợ chồng nêu trên, cách giải quyết sẽ khác nếu như các cặp đôi được UBND cấp xã cấp trích lục kết hôn căn cứ vào thông tin lưu trong sổ hộ tịch. Trong trường hợp này, việc không chứng minh được quan hệ vợ chồng giữa các bên lỗi không hoàn toàn ở các bên đương sự. Hai bên đương sự có lỗi vì đã làm thất lạc GCNKH, phần lỗi còn lại thuộc về UBND khi không còn giữ sổ hộ tịch dẫn đến việc không thể cấp trích lục kết hôn cho hai bên. Từ thực tiễn xét xử cho thấy hiện nay tình trạng này đang diễn ra khá nhiều nhưng pháp luật nước ta vẫn chưa điều chỉnh dẫn đến việc có thể làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Cụ thể là, trong quá trình giải quyết ly hôn, Tòa án sẽ tiến hành hòa giải về quan hệ hôn nhân giữa họ. Tài sản chung của vợ chồng được xem là tài sản chung hợp nhất, nếu vợ chồng ly hôn thì việc chia tài sản sẽ tiến hành theo nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Ngược lại, nếu giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng thì sẽ không có thủ tục hòa giải hôn nhân và tài sản của họ sẽ giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự[6].

Tham khảo quy định của Bộ luật Dân sự Pháp, việc kết hôn được thể hiện qua chứng thư hộ tịch, chứng thư hộ tịch được mỗi địa phương ghi vào một hoặc nhiều sổ đăng ký (Điều 34, 40[7]). Nếu không có sổ đăng ký hộ tịch hoặc sổ đăng ký hộ tịch bị thất lạc thì có thể chứng minh bằng chứng thư hoặc thông qua người làm chứng; trong các trường hợp trên, việc kết hôn có thể được chứng minh bằng sổ sách hoặc giấy tờ bắt nguồn từ người cha và người mẹ đã chết hoặc thông qua người làm chứng[8]. Có thể thấy, quy định của Bộ luật Dân sự Pháp là hợp lý và thuyết phục trong việc cho phép chứng minh việc đăng ký kết hôn bằng nhiều cách thức.

Tác giả kiến nghị, nên cho phép hai bên đương sự chứng minh quan hệ hôn nhân của mình là hợp pháp bằng nhiều cách thức thay vì chỉ chấp nhận GCNKH hoặc dựa vào sổ hộ tịch. Trong trường hợp sổ hộ tịch không còn, có thể áp dụng linh hoạt như cách giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh ở ví dụ thứ hai, căn cứ vào lời xác nhận của người có liên quan đến việc đăng ký kết hôn cho hai bên đương sự hoặc có thể cho phép đương sự nộp các giấy tờ cá nhân có thể hiện các thông tin liên quan đến nội dung đăng ký kết hôn như: Giấy khai sinh của con chung; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; sổ hộ khẩu…

ThS. Nguyễn Ngọc Hoa Đăng

Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Bản án số 36/2019/HN&GĐ-ST ngày 08/8/2019 “V/v Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con” của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình, https://congbobanan.toaan.gov.vn/ 2ta340268t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 21/3/2023.

[2]. Lê Vĩnh Châu - Lê Thị Mận (2011), Tuyển tập các Bản án, Quyết định của Tòa án Việt Nam về hôn nhân và gia đình, Nxb. Lao động, tr. 500 - 503.

[3]. Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[4]. Xem Điều 27 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch.

[5]. Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

[6]. Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[7]. Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam (2018), Bản dịch Bộ luật Dân sự Pháp, Nxb. Tư pháp, tr. 29 - 30.

[8]. Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam (2018), (tlđd), tr. 30.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: