Chủ nhật 15/03/2026 09:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải quyết ly hôn hay không công nhận quan hệ vợ chồng trong trường hợp không còn giấy tờ xác nhận sự tồn tại của quan hệ hôn nhân

Giải quyết ly hôn hay không công nhận quan hệ vợ chồng trong trường hợp không còn giấy tờ xác nhận sự tồn tại của quan hệ hôn nhân

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả phân tích căn cứ ly hôn, không công nhận quan hệ vợ chồng, vấn đề giải quyết yêu cầu ly hôn khi mất giấy chứng nhận kết hôn qua ví dụ thực tiễn và đưa ra một số kiến nghị.

Abstract: In this article, the author analyzes the grounds for porce, non-recognition of the husband-and-wife relationship, the issue of resolving the porce request when the marriage certificate is lost through practical examples and makes some recommendations.

1. Thực tiễn giải quyết của Tòa án trong trường hợp các bên yêu cầu ly hôn nhưng không còn giấy tờ xác nhận sự tồn tại của quan hệ hôn nhân

Trong thực tiễn xét xử, có những trường hợp các đương sự khi nộp đơn yêu cầu ly hôn trình bày là có đăng ký kết hôn nhưng họ đã làm mất giấy chứng nhận kết hôn (GCNKH). Họ đã đến Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã nơi đăng ký kết hôn để yêu cầu cấp trích lục kết hôn nhưng UBND cấp xã trả lời rằng do sổ hộ tịch của xã đã bị mất hoặc không còn lưu hồ sơ nên không thể xác nhận việc đăng ký kết hôn của họ. Trong những trường hợp này, các Tòa án đã có hướng giải quyết khác nhau. Tác giả đưa ra hai vụ án điển hình về vấn đề này.

Trường hợp thứ nhất: Anh A và chị B tổ chức đám cưới vào năm 1994, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện N, tỉnh N nhưng GCNKH đã mất. Nay anh chị có yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn. Tại biên bản xác minh ngày 26/6/2019, UBND xã S xác nhận anh A và chị B chung sống với nhau từ năm 1994 và hiện nay UBND không còn sổ lưu về việc đăng ký kết hôn này. Tòa án đã tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh A và chị B[1].

Trường hợp thứ hai: Trong đơn ly hôn, anh Q và chị H trình bày tổ chức đám cưới vào ngày 27/12/1987, có đăng ký kết hôn tại UBND xã G. Tuy nhiên, anh chị không đưa ra được GCNKH với lý do đã làm mất. Tòa án cấp sơ thẩm xác định anh Q và chị H có đăng ký kết hôn căn cứ vào lời xác nhận của ông T - Phó Ban Công an phụ trách hộ tịch hộ khẩu xã G năm 1987 (người trước đây đã thực hiện đăng ký kết hôn cho anh Q, chị H). Do đó, Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm đã công nhận sự thỏa thuận thuận tình ly hôn giữa anh Q và chị H. Sau đó, Bản án sơ thẩm đã bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh kháng nghị với lý do Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của đương sự và giấy xác nhận của ông T để giải quyết công nhận thuận tình ly hôn là chưa đủ căn cứ. Tòa án cấp phúc thẩm đã về địa phương để xem xét lại tính xác thực của chứng cứ về việc đăng ký kết hôn của đương sự. UBND xã G đã cung cấp như sau: Anh Q và chị H có đăng ký kết hôn. Bởi vì sổ sách để theo dõi việc đăng ký kết hôn từ năm 1987 đến năm 1990 bị thất lạc, không còn lưu tại UBND nữa, cho nên UBND đã căn cứ vào lời trình bày của ông T để xác nhận việc anh Q và chị H có đăng ký kết hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy đã đủ căn cứ xác định anh Q, chị H có đăng ký kết hôn, giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm về quyết định công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Q, chị H[2].

Trong các trường hợp trên, để được xem là vợ chồng thì đương sự phải chứng minh được quan hệ hôn nhân của mình là hợp pháp. Về nghĩa vụ chứng minh, pháp luật quy định đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp[3]. Nếu đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc. Như vậy, để được giải quyết cho ly hôn, các bên phải chứng minh mối quan hệ vợ chồng giữa họ bằng việc cung cấp GCNKH. Nhưng trong các trường hợp này, do các bên đã làm mất GCNKH nên cần căn cứ vào sổ hộ tịch được lưu trữ tại UBND.

Theo quy định của pháp luật về hộ tịch, đối với trường hợp sổ hộ tịch bị mất và người dân cũng bị mất GCNKH bản chính, thì cần phải có GCNKH bản sao hoặc giấy tờ cá nhân có chứa các thông tin liên quan đến nội dung đăng ký kết hôn. Điều này đồng nghĩa với việc pháp luật cho phép người dân dùng các giấy tờ có liên quan đến việc đã từng đăng ký kết hôn để chứng minh quan hệ hôn nhân của mình là hợp pháp khi họ thực hiện việc đăng ký lại kết hôn[4]. Như vậy, tại sao không cho phép các bên yêu cầu giải quyết ly hôn trong trường hợp này có thể chứng minh quan hệ hôn nhân của họ bằng nhiều cách thức?

Tác giả đồng ý với cách giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh trong trường hợp thứ hai nêu trên. Bởi lẽ, so với trường hợp thứ nhất, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm đã xét xử một cách linh hoạt hơn.

Ngoài ra, đối với trường hợp nam, nữ có đăng ký kết hôn trước ngày 03/01/1987 mà làm mất GCNKH và có yêu cầu ly hôn thì cách giải quyết sẽ khác các trường hợp trên, bởi vì đây là giai đoạn Nhà nước công nhận hôn nhân thực tế[5]. Do đó, nếu họ có đăng ký kết hôn nhưng đã làm mất GCNKH mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án vẫn giải quyết cho họ ly hôn.

2. Một số kiến nghị

Trong trường hợp không công nhận quan hệ vợ chồng nêu trên, cách giải quyết sẽ khác nếu như các cặp đôi được UBND cấp xã cấp trích lục kết hôn căn cứ vào thông tin lưu trong sổ hộ tịch. Trong trường hợp này, việc không chứng minh được quan hệ vợ chồng giữa các bên lỗi không hoàn toàn ở các bên đương sự. Hai bên đương sự có lỗi vì đã làm thất lạc GCNKH, phần lỗi còn lại thuộc về UBND khi không còn giữ sổ hộ tịch dẫn đến việc không thể cấp trích lục kết hôn cho hai bên. Từ thực tiễn xét xử cho thấy hiện nay tình trạng này đang diễn ra khá nhiều nhưng pháp luật nước ta vẫn chưa điều chỉnh dẫn đến việc có thể làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Cụ thể là, trong quá trình giải quyết ly hôn, Tòa án sẽ tiến hành hòa giải về quan hệ hôn nhân giữa họ. Tài sản chung của vợ chồng được xem là tài sản chung hợp nhất, nếu vợ chồng ly hôn thì việc chia tài sản sẽ tiến hành theo nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Ngược lại, nếu giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng thì sẽ không có thủ tục hòa giải hôn nhân và tài sản của họ sẽ giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự[6].

Tham khảo quy định của Bộ luật Dân sự Pháp, việc kết hôn được thể hiện qua chứng thư hộ tịch, chứng thư hộ tịch được mỗi địa phương ghi vào một hoặc nhiều sổ đăng ký (Điều 34, 40[7]). Nếu không có sổ đăng ký hộ tịch hoặc sổ đăng ký hộ tịch bị thất lạc thì có thể chứng minh bằng chứng thư hoặc thông qua người làm chứng; trong các trường hợp trên, việc kết hôn có thể được chứng minh bằng sổ sách hoặc giấy tờ bắt nguồn từ người cha và người mẹ đã chết hoặc thông qua người làm chứng[8]. Có thể thấy, quy định của Bộ luật Dân sự Pháp là hợp lý và thuyết phục trong việc cho phép chứng minh việc đăng ký kết hôn bằng nhiều cách thức.

Tác giả kiến nghị, nên cho phép hai bên đương sự chứng minh quan hệ hôn nhân của mình là hợp pháp bằng nhiều cách thức thay vì chỉ chấp nhận GCNKH hoặc dựa vào sổ hộ tịch. Trong trường hợp sổ hộ tịch không còn, có thể áp dụng linh hoạt như cách giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh ở ví dụ thứ hai, căn cứ vào lời xác nhận của người có liên quan đến việc đăng ký kết hôn cho hai bên đương sự hoặc có thể cho phép đương sự nộp các giấy tờ cá nhân có thể hiện các thông tin liên quan đến nội dung đăng ký kết hôn như: Giấy khai sinh của con chung; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; sổ hộ khẩu…

ThS. Nguyễn Ngọc Hoa Đăng

Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Bản án số 36/2019/HN&GĐ-ST ngày 08/8/2019 “V/v Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con” của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình, https://congbobanan.toaan.gov.vn/ 2ta340268t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 21/3/2023.

[2]. Lê Vĩnh Châu - Lê Thị Mận (2011), Tuyển tập các Bản án, Quyết định của Tòa án Việt Nam về hôn nhân và gia đình, Nxb. Lao động, tr. 500 - 503.

[3]. Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[4]. Xem Điều 27 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch.

[5]. Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

[6]. Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[7]. Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam (2018), Bản dịch Bộ luật Dân sự Pháp, Nxb. Tư pháp, tr. 29 - 30.

[8]. Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam (2018), (tlđd), tr. 30.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: