Thứ sáu 08/05/2026 18:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Góp ý hoàn thiện Dự thảo Nghị định quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung

Trong bài viết này, trên cơ sở phân tích nội dung của Dự thảo Nghị định quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, nhóm tác giả chỉ ra một số hạn chế, bất cập của quy định trong Dự thảo, đồng thời đề xuất những giải pháp hoàn thiện Dự thảo này trong thời gian tới.

1. Đặt vấn đề

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, lịch sử đã từng ghi nhận những cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới với những suy nghĩ tiên phong, “xé rào”, phá bỏ cơ chế quản lý không phù hợp và đạt hiệu quả vô cùng to lớn. Để tiếp tục phát huy tinh thần đó, tạo động lực và cơ chế thúc đẩy, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám tiên phong để cống hiến hết mình cho lợi ích chung, Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung được ban hành, đến nay đã được thể chế hóa bằng Dự thảo Nghị định quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung (Dự thảo). Nhìn chung, về tổng thể, nội dung Dự thảo cơ bản đáp ứng được chủ trương của Đảng và Nhà nước về khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, quy định được những vấn đề cơ bản về xây dựng cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm nhưng cũng chính trong văn bản này, có một số quy định chưa thực sự phù hợp, chưa thống nhất với các quy định pháp luật có liên quan, làm giảm hiệu lực của cơ chế khuyến khích cán bộ, thậm chí tạo tâm lý cản trở cho hoạt động cống hiến vì lợi ích chung.

2. Một số vấn đề vướng mắc và hướng hoàn thiện

2.1. Trách nhiệm pháp lý trong bảo vệ, khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm

Có thể thấy, vấn đề đầu tiên được đặt ra thể hiện ngay trong tên của văn bản là nếu đã khuyến khích và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm thì tại sao lại còn đặt vấn đề “chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”. Nếu cán bộ đã thỏa mãn điều kiện “vì lợi ích chung là vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, của ngành, lĩnh vực, địa phương, cơ quan, đơn vị mà không vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, không có động cơ vụ lợi[1]” mà còn phải chịu trách nhiệm, trong đó có cả trách nhiệm pháp lý thì chưa thực sự phù hợp với tinh thần bảo vệ, khuyến khích. Bởi lẽ, nếu cán bộ không vụ lợi, không lợi ích nhóm, không lợi ích cá nhân, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm thì phải khuyến khích, bảo vệ và đương nhiên sẽ được miễn trừ trách nhiệm pháp lý. Nếu thực sự vì lợi ích chung thì cán bộ đó cần phải “được ghi nhận, tôn vinh, khen thưởng xứng đáng; được đặc cách, ưu tiên trong quy hoạch, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện chính sách cán bộ”[2]. Tuy nhiên, đó chỉ xem là “phần thưởng” cho sự cống hiến của cán bộ chứ không phải là động lực chính, là đích đến của những đề xuất sáng tạo, đổi mới, dám nghĩ, dám làm của cán bộ. Ngược lại, nếu cán bộ bị xác định có hành vi lợi dụng các quy định pháp luật, làm trái pháp luật, vượt ngoài khuôn khổ pháp luật để vụ lợi cá nhân thì bị xử lý bằng các quy định pháp luật có liên quan chứ không thuộc phạm vi điều chỉnh của Dự thảo này. Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) cũng đã xác định rõ nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ là phải “thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao”[3]. Pháp luật hiện hành cũng không thiếu các chế tài để truy cứu trách nhiệm pháp lý cho cán bộ có những hành vi trái pháp luật như Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019); Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018; Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)…

Vì vậy, theo quan điểm của nhóm tác giả, cần thống nhất quan điểm rằng, vấn đề chịu trách nhiệm của cán bộ, trong đó có trách nhiệm pháp lý không đặt ra đối với cán bộ khi các đề xuất của cán bộ đã được thông qua có nội dung thỏa mãn các tiêu chí quy định của Dự thảo. Bởi vì, nếu pháp luật không có một sự “e dè” đối với những sáng kiến của cán bộ thì cán bộ mới có thể hết mình phụng sự vì lợi ích chung. Ngược lại, pháp luật vẫn “đặt nặng” vấn đề truy cứu trách nhiệm pháp lý thì khó có thể đòi hỏi cán bộ có thể hết mình nhiệt huyết với sự nghiệp chung mà không có bất cứ sự “dè chừng” nào cho bản thân mình. Nếu sự “phòng thủ” xuất phát từ hai phía thì vẫn chưa có sự đột phá về cơ chế để khuyến khích và bảo vệ cán bộ. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý, vấn đề trách nhiệm của cơ quan hoặc cá nhân có thẩm quyền phê duyệt đề xuất đổi mới, sáng tạo phải được xác định rõ để bảo đảm tính pháp lý của cơ chế cũng như bảo đảm khả năng bảo vệ cán bộ của cơ quan, đơn vị mình quản lý.

Với lý do trên, nhóm tác giả cho rằng, nên thống nhất quan điểm từ tên Dự thảo đến toàn bộ nội dung của Dự thảo để tạo động lực khuyến khích cán bộ bằng việc bỏ cụm từ “dám chịu trách nhiệm” trong tên Dự thảo. Cụ thể, sửa thành “Nghị định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung”. Bên cạnh đó, bỏ các quy định tại khoản 5 Điều 4 Dự thảo: “Cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý kỷ luật và trách nhiệm hoàn trả ngân sách nhà nước” khi “thực hiện mà kết quả không hoàn thành hoặc hoàn thành một phần mục tiêu đề ra”. Trên tinh thần đó, cán bộ mới có thể tự tin, năng động, sáng tạo vì lợi ích chung và thấy được pháp luật, cơ quan, đơn vị khuyến khích, bảo vệ.

2.2. Trình tự, thủ tục phê duyệt đề xuất đổi mới, sáng tạo

Theo Dự thảo, sau khi xác định chủ thể có thẩm quyền xét duyệt là người đứng đầu cơ quan, tổ chức hoặc người đứng đầu của cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp, cán bộ có đề xuất sáng tạo, đổi mới gửi đề xuất và trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề xuất, người đứng đầu “chủ trì họp tập thể lãnh đạo để xem xét, thảo luận, biểu quyết về việc thực hiện đề xuất. Đề xuất được thông qua khi đạt tỷ lệ trên 50% ý kiến biểu quyết tán thành…”. Nội dung quy định này có một số vấn đề cần làm rõ:

Một là, Dự thảo xác định thẩm quyền và trình tự xét duyệt các đề xuất sáng tạo, đổi mới được thực hiện theo quy trình nghiêm ngặt là thông qua một thẩm quyền cả tập thể lãnh đạo, cấp ủy cùng cấp, người đứng đầu hoặc thậm chí là cả một hội đồng ngay tại chính cơ quan, đơn vị của họ. Tuy nhiên, trên thực tế, những vấn đề bất cập, vướng mắc trong thực thi nhiệm vụ của cán bộ, công chức và viên chức có thể phát sinh một cách thường xuyên, liên tục và cụ thể. Đơn cử như một điều, khoản trong quy định, một nội dung trong biểu mẫu, một yêu cầu trong hồ sơ không còn phù hợp hay chồng chéo… Nếu phải được chấp thuận bằng một quy trình hành chính phức tạp với nội dung văn bản đề xuất, thông qua cấp ủy, lãnh đạo đơn vị thì bản thân cán bộ phải xác định vấn đề đó phải lớn, quan trọng và cũng rất quyết tâm với sự đổi mới, đề xuất mới đó.

Có thể thấy, thẩm quyền, trình tự và thủ tục được xác định trong Dự thảo chỉ phù hợp với những vấn đề mang tính chất trọng đại, có tính chiến lược và kế hoạch dài hạn. Quy trình đó sẽ không phù hợp với những đề xuất, kiến nghị mang tính chất quy trình hành chính, văn bản, biểu mẫu hay quy chế, quy định trong hoạt động thường xuyên của cơ quan, tổ chức. Thậm chí, trong nhiều trường hợp, quy trình phê duyệt đề xuất đổi mới, sáng tạo còn phức tạp hơn cả nội dung được đề xuất. Vì vậy, theo nhóm tác giả, Dự thảo nên có sự phân loại rõ ràng giữa nội dung đề xuất sáng tạo, đổi mới mang tính chất hành chính trong nội bộ của cơ quan, tổ chức và nội dung mang tính chất chiến lược, quyết định định hướng phát triển của cơ quan, tổ chức, hoặc ảnh hưởng lớn đến các chủ thể có liên quan để xác định quy trình, trình tự, thủ tục, thẩm quyền phê duyệt cho phù hợp, khả thi, bảo đảm sự linh hoạt cũng như tương xứng với nội dung của từng loại đề xuất.

Hai là, việc “hợp pháp hóa” các cơ chế mới hay “vượt rào” bằng sự phê duyệt thông qua một thủ tục hành chính tại chính cơ quan, đơn vị sẽ tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các lợi ích nhóm, tham nhũng cơ chế, chính sách. Mặc dù, Dự thảo đã xác định rõ, cán bộ phải “vì lợi ích chung là lợi ích của quốc gia, dân tộc, của ngành, lĩnh vực, địa phương, cơ quan, đơn vị mà không vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, không có động cơ vụ lợi”, tuy nhiên, việc xác định lợi ích nhóm và minh định với lợi ích của cơ quan, đơn vị, địa phương là không hề đơn giản nếu như thiếu các tiêu chí cụ thể. Đơn cử như, khi cơ quan, địa phương đạt thành tích tốt thì bản thân người đứng đầu cũng sẽ được đánh giá cao để khen thưởng, đề bạt các vị trí cao hơn.

Để khắc phục tình trạng này, nhóm tác giả cho rằng, quy trình đánh giá, phê duyệt đổi mới này cần phải được công khai, minh bạch, có sự tham gia của toàn xã hội, đặc biệt là các chuyên gia, nhà nghiên cứu để sàng lọc những người “núp bóng”, phục vụ lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm.

Ba là, những đề xuất, kiến nghị phải dựa trên thực tiễn chưa có quy định hoặc quy định chồng chéo, mâu thuẫn, không phù hợp với thực tiễn và hơn ai hết, cán bộ, đảng viên phải chấp hành quy định của Đảng cũng như thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, hoạt động công vụ còn phải bảo đảm sự kiểm soát của các cơ quan có thẩm quyền như giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán cũng như Ủy ban kiểm tra đối với đảng viên. Việc phê duyệt sự năng động, sáng tạo theo một thủ tục hành chính ngay tại chính cơ quan, đơn vị của họ liệu rằng đã đủ cơ sở pháp lý để giải trình, thuyết phục với các cơ quan có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước khi thực hiện thanh tra, kiểm tra hay chưa? Bởi lẽ, hành vi trái pháp luật được xác định rất định lượng, tức là, căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành để xác định. Tuy nhiên, đối với kết quả thực hiện thí điểm đề xuất có hiệu quả hay không, có mang lại lợi ích quốc gia hay không thì việc đánh giá nhiều lúc lại rất định tính, hoặc khó đánh giá một cách toàn diện trong quá trình thực hiện. Đơn cử như, một đề xuất có thể thất thu một khoản tiền cho ngân sách nhưng mang lại hiệu quả kinh tế lớn cho xã hội, niềm tin cho người dân có được xem xét là đạt kết quả thì vẫn cần phải được nghiên cứu, thảo luận chi tiết. Thậm chí, kết quả thực hiện đề xuất không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại thì phải xác định rõ nguyên nhân, các yếu tố tác động, sự thay đổi của chính sách. Đặc biệt, cần đánh giá đúng chủ trương, động cơ trong sáng, có vì lợi ích chung để làm cơ sở xem xét, xử lý phù hợp, bảo vệ được cán bộ trước các trách nhiệm pháp lý mới là mục đích cuối cùng của cơ chế này.

Ngoài ra, xét giá trị pháp lý của Dự thảo về cơ chế này thì không thể nào điều chỉnh được quy định của pháp luật chuyên ngành có liên quan hoặc văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn như các bộ luật, luật... Vì vậy, quy định tại Dự thảo cần được nghiên cứu thêm để đồng bộ giữa quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước có liên quan. Đồng thời, để bảo đảm sự thống nhất về giá trị pháp lý, nâng tầm giá trị nội dung văn bản, nhóm tác giả kiến nghị ban hành nghị quyết của Quốc hội để điều chỉnh cơ chế này thay vì là nghị định của Chính phủ.

2.3. Xác định ranh giới đề xuất sáng tạo, đột phá và bảo đảm pháp chế trong hoạt động công vụ của cán bộ

Một trong những nguyên tắc của hoạt động công vụ đặt ra đối với cán bộ, công chức là: “Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật”[4], còn trong hoạt động nghề nghiệp của viên chức là: “Tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật trong quá trình thực hiện hoạt động nghề nghiệp”[5]. Theo Điều 5 của Dự thảo, điều kiện thỏa mãn để khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo khi nội dung đề xuất đáp ứng đủ các tiêu chí: “1. Có khả năng tháo gỡ điểm nghẽn, nút thắt trong cơ chế, chính sách, giải quyết hiệu quả vấn đề chưa được pháp luật quy định hoặc đã được pháp luật quy định nhưng chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu tính thống nhất, đồng bộ, không còn phù hợp với thực tiễn. 2. Đem lại giá trị, hiệu quả thiết thực, tạo sự bứt phá, chuyển biến, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị. 3. Xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn; không ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của địa phương, cơ quan, đơn vị khác”. Theo đó, cả 03 tiêu chí trên đều quy định rõ ràng, làm cơ sở đánh giá nội dung được đề xuất nhưng lại được xác định ở các giai đoạn khác nhau. Có tiêu chí xác định được trước khi nội dung đề xuất được thông qua và thực hiện như: “…chưa được pháp luật quy định hoặc đã được pháp luật quy định nhưng chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu tính thống nhất, đồng bộ, không còn phù hợp với thực tiễn”. Tuy nhiên, lại có tiêu chí chỉ có thể đánh giá sau khi đề xuất đó được thực thi trên thực tế: “Đem lại giá trị, hiệu quả thiết thực, tạo sự bứt phá, chuyển biến, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị; không ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của địa phương, cơ quan, đơn vị khác”.

Như vậy, có những chính sách, đề xuất phải áp dụng trên thực tế thì mới có cơ sở đánh giá, kết luận được giá trị, hiệu quả, tạo sự bứt phá, chuyển biến và không ảnh hưởng đến các vấn đề có liên quan. Có những trường hợp nếu đánh giá một cách định tính thì đề xuất có hiệu quả, tuy nhiên tính hiệu quả, khả thi và giá trị của nó lại là một vấn đề khác khi áp dụng vào thực tiễn. Nói cách khác, chính người đề xuất và Hội đồng xét duyệt cũng không lường trước được hết nguyên nhân và khả năng có thể xảy ra trên thực tế đối với đề xuất đó. Vì vậy, nhóm tác giả cho rằng, không xem xét, truy cứu trách nhiệm đối với những đổi mới, sáng tạo bảo đảm nguyên tắc không trái Hiến pháp, điều lệ Đảng và đã được thông qua công khai, minh bạch theo đúng trình tự, thủ tục quy định, đồng thời, được đánh giá có hiệu quả nhất định đối với giải quyết vấn đề, cơ chế, chính sách.

Tóm lại, việc ban hành Nghị định là hết sức cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh việc nghiên cứu cơ chế thiết thực, hiệu quả để khuyến khích cán bộ thì phân định giữa lợi ích chung với lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm cũng là điều kiện tiên quyết để triển khai cơ chế. Về lâu dài, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần tăng cường tiếp thu ý kiến từ các chủ thể có liên quan cũng như dư luận xã hội để nhanh chóng sửa đổi, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, tránh tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn thiếu tính thống nhất, đồng bộ trong cơ chế chính sách và không phù hợp với thực tiễn như hiện nay.

Lâm Bá Khánh Toàn

Huỳnh Thị Cẩm Hồng

Trường Đại học Cần Thơ

[1]. Khoản 4 Điều 3 Dự thảo Nghị định quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung (lần 3).

[2]. Khoản 3 Điều 4 Dự thảo Nghị định quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung (lần 3).

[3]. Điều 9 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

[4]. Khoản 1 Điều 3 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

[5]. Khoản 1 Điều 5 Luật Viên chức năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 388), tháng 9/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghip ln thtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, s nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, quyền tiếp cận thông tin là tiền đề quan trọng để người khuyết tật hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, “khoảng cách số” và những khoảng trống của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 làm tăng nguy cơ người khuyết tật bị “bỏ lại phía sau”. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu, nghiên cứu đánh giá thực trạng khung pháp lý cũng như thực tiễn thi hành quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật; từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba điểm nghẽn lớn là thiếu quy định bắt buộc về định dạng thông tin dễ tiếp cận; giới hạn về chủ thể cung cấp thông tin và thiếu cơ chế phối hợp hỗ trợ. Để giải quyết, nghiên cứu đề xuất ba giải pháp trọng tâm: (i) đa dạng hóa phương thức cung cấp qua nền tảng số và bắt buộc cung cấp định dạng chuyên biệt; (ii) mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thiết yếu, thiết lập cơ chế để hệ thống trợ giúp pháp lý trở thành đầu mối hỗ trợ, “phiên dịch” thông tin cho người khuyết tật; (iii) hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thông qua chính sách miễn phí tiếp cận thông tin và đầu tư hạ tầng công nghệ bao trùm.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ Nhất xem xét, thông qua đã quy định phân quyền, phân cấp bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, tạo cơ sở pháp lý cho công tác trợ giúp pháp lý phát triển theo hướng chuyên nghiệp, sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách, góp phần thực hiện chính sách “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa” và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt là nhóm “dễ bị tổn thương”.
Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí như người nghèo, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi… khi tham gia tố tụng với tư cách là đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích liên quan) có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc nhờ trợ giúp pháp lý tham gia bảo vệ theo quy định pháp luật.
Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Chính sách Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật thời gian qua, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã trình Chính phủ về hồ sơ chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Theo đó, việc sửa đổi toàn diện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, chuyển đổi số.
Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng kính mời các chuyên gia, độc giả tham gia viết bài cho ấn phẩm chuyên đề chuyên sâu về truyền thông chính sách và góp ý vào dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.

Theo dõi chúng tôi trên: