Thứ tư 11/03/2026 13:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Góp ý quy định về kinh doanh nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai và kinh doanh quyền sử dụng đất của Dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi)[1]

Bài viết phân tích nội dung một số quy định tại Chương III và Chương IV Dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi), chỉ ra một số điểm chưa phù hợp, mâu thuẫn, chồng chéo… Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp khắc phục, hoàn thiện nhằm góp phần nâng cao chất lượng của Dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi).

1. Dẫn nhập

Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 25/11/2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015. Đạo luật này ra đời đã góp phần hoàn thiện khung pháp lý thúc đẩy sự hình thành đồng bộ của thị trường bất động sản (BĐS); thúc đẩy sự vận hành của thị trường BĐS phát triển theo hướng công khai minh bạch, thông suốt và lành mạnh. Tuy nhiên, qua tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 cho thấy, một số quy định không còn phù hợp, bất cập so với thực tế của quá trình phát kinh tế - xã hội theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII. Điều này đặt ra yêu cầu phải sửa đổi Đạo luật này. Dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) (sau đây gọi tắt là Dự thảo Luật) được các đại biểu Quốc hội khóa XV cho ý kiến lần thứ 1 vào kỳ họp tháng 5/2023. Để góp phần nâng cao chất lượng của Dự thảo Luật, bài viết đi sâu góp ý về nội dung Chương III. Kinh doanh nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai và Chương IV. Kinh doanh quyền sử dụng đất.

2. Góp ý Chương III. Kinh doanh nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai

2.1. Về Điều 24. Nguyên tắc kinh doanh nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai

Một là, khoản 2 Điều này quy định: “Việc bán, cho thuê mua nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai được thực hiện theo quy định của Chương này, các nguyên tắc quy định tại Điều 14, các quy định tương ứng trong Chương II và các quy định khác có liên quan của Luật này”.

Điều 4 của Chương I. Những quy định chung quy định về nguyên tắc kinh doanh BĐS. Đây là những nguyên tắc chung mang tính “bao trùm” cho hoạt động kinh doanh BĐS nói chung và hoạt động kinh doanh nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai nói riêng. Hay nói cách khác, hoạt động kinh doanh nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai không chỉ tuân thủ nguyên tắc tại Điều 24 mà còn chịu sự quy chiếu của các nguyên tắc chung về kinh doanh BĐS tại Điều 4 của Chương I. Để làm nổi bật, rõ hơn việc tuân thủ nguyên tắc chung về kinh doanh BĐS của hoạt động kinh doanh nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai, đề nghị bổ sung khoản 2 Điều 24 như sau: “Việc bán, cho thuê mua nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai được thực hiện theo quy định của Chương này, các nguyên tắc quy định tại Điều 4 và Điều 14, các quy định tương ứng trong Chương II và các quy định khác có liên quan của Luật này”.

Hai là, khoản 3 Điều 4 Dự thảo Luật quy định: “Kinh doanh bất động sản phải công khai minh bạch”. Có nghĩa là mọi hoạt động kinh doanh BĐS phải tuân thủ công khai, minh bạch. Vì vậy, khoản 3 Điều 24 Dự thảo Luật không nhất thiết phải nhắc lại quy định: “Bảo đảm công khai, minh bạch; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân đã ký hợp đồng mua, thuê mua nhà ở, công trình xây dựng”. Đề nghị Ban Soạn thảo bỏ cụm từ “bảo đảm công khai, minh bạch” và sửa lại khoản này như sau: “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân đã ký hợp đồng mua, thuê mua nhà ở, công trình xây dựng”.

Ba là, khoản 5 Điều 24 Dự thảo Luật đề cập trách nhiệm của chủ đầu tư dự án BĐS trong việc sử dụng tiền đã thu từ khách hàng để đầu tư xây dựng dự án, nhà ở, công trình xây dựng đã được bán, cho thuê đúng mục đích sử dụng theo hợp đồng đã ký kết (điểm a); phải sử dụng tiền ứng trước của khách hàng theo đúng mục đích đã cam kết (điểm d). Vậy câu hỏi đặt ra là, tiền đã thu của khách hàng có khác với tiền ứng trước của khách hàng không? Nếu hai khoản tiền này khác nhau, đề nghị Ban Soạn thảo bổ sung điều khoản giải thích khái niệm của hai khoản tiền này tại Điều 3 của Chương I nhằm tránh sự hiểu không thống nhất, góp phần tạo thuận lợi trong quá trình triển khai thực hiện trên thực tế khi Dự thảo Luật được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành. Trong trường hợp hai khoản tiền này là một thì đề nghị bỏ điểm d của khoản 5.

2.2. Về Điều 25. Điều kiện đối với nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai được đưa vào kinh doanh

Khoản 4 Điều 25 Dự thảo Luật quy định: “Trước khi bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai, chủ đầu tư dự án phải có văn bản thông báo cho cơ quan có thẩm quyền quản lý thị trường BĐS về việc nhà ở đủ điều kiện được bán, cho thuê mua. Cơ quan có thẩm quyền quản lý kinh doanh BĐS cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra về điều kiện của nhà ở đưa vào kinh doanh và trả lời bằng văn bản cho chủ đầu tư về nhà ở đủ điều kiện được bán, cho thuê mua; trường hợp không đủ điều kiện phải nêu rõ lý do”. Về khoản này, tác giả có một số góp ý như sau:

Một là, việc quy định điều kiện đối với nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai được đưa vào kinh doanh nói chung và quy định nội dung khoản 4 Điều 25 Dự thảo Luật nói riêng là cần thiết. Bởi lẽ, xét về bản chất, kinh doanh nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai là việc mua bán, cho thuê mua “nhà ở, công trình xây dựng” trên giấy (nhà ở, công trình xây dựng chưa tồn tại trên thực tế tại thời điểm giao kết hợp đồng mua, thuê mua). Vì vậy, để phòng ngừa rủi ro cho người mua, người thuê mua; ngăn ngừa tình trạng lừa đảo chiếm đoạt tiền mua nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai của khách hàng thì quy định điều kiện đối với nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai được đưa vào kinh doanh là rất cần thiết. Hơn nữa, quy định về điều kiện tại khoản 4 Điều 25 Dự thảo Luật góp phần tăng cường, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về kinh doanh BĐS nói chung và kinh doanh nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai nói riêng. Tuy nhiên, Ban Soạn thảo không quy định cụ thể thời gian trả lời kết quả kiểm tra về điều kiện nhà ở đưa vào kinh doanh của cơ quan có thẩm quyền quản lý kinh doanh BĐS cấp tỉnh cho chủ đầu tư về nhà ở được bán, cho thuê mua. Nếu không quy định cụ thể thời gian trả lời kết quả kiểm tra về điều kiện nhà ở đưa vào kinh doanh của cơ quan có thẩm quyền quản lý kinh doanh BĐS cấp tỉnh sẽ gây trở ngại cho hoạt động kinh doanh của chủ đầu tư. Tác giả xin góp ý sửa đổi, bổ sung khoản này như sau: “Trước khi bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai, chủ đầu tư dự án phải có văn bản thông báo cho cơ quan có thẩm quyền quản lý thị trường BĐS về việc nhà ở đủ điều kiện được bán, cho thuê mua. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, cơ quan có thẩm quyền quản lý kinh doanh BĐS cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra về điều kiện của nhà ở đưa vào kinh doanh và trả lời bằng văn bản cho chủ đầu tư về nhà ở có đủ điều kiện được bán, cho thuê mua; trường hợp không đủ điều kiện phải nêu rõ lý do. Nếu quá thời hạn này mà cơ quan có thẩm quyền quản lý kinh doanh BĐS cấp tỉnh không có ý kiến thì chủ đầu tư được quyền bán, cho thuê mua nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai”.

Hai là, khoản 4 Điều 25 Dự thảo Luật quy định, chủ đầu tư kinh doanh nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai phải có văn bản thông báo cho cơ quan có thẩm quyền quản lý thị trường BĐS về việc nhà ở đủ điều kiện được bán, cho thuê mua. Tuy nhiên, cơ quan có thẩm quyền quản lý kinh doanh BĐS cấp tỉnh lại là cơ quan có trách nhiệm kiểm tra về điều kiện của nhà ở đưa vào kinh doanh và trả lời bằng văn bản cho chủ đầu tư về nhà ở có đủ điều kiện được bán, cho thuê mua. Như vậy, theo quy định này, cơ quan tiếp nhận văn bản thông báo về bán nhà ở hình thành trong tương lai khác với cơ quan có trách nhiệm kiểm tra về điều kiện của nhà ở đưa vào kinh doanh và trả lời bằng văn bản cho chủ đầu tư về nhà ở có đủ điều kiện được bán, cho thuê mua. Đề nghị Ban Soạn thảo quy định thống nhất cơ quan tiếp nhận văn bản thông báo về bán nhà ở hình thành trong tương lai cũng chính là cơ quan có trách nhiệm kiểm tra về điều kiện của nhà ở đưa vào kinh doanh và trả lời bằng văn bản cho chủ đầu tư về nhà ở có đủ điều kiện được bán, cho thuê mua và sửa lại nội dung khoản này như sau: “Trước khi bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai, chủ đầu tư dự án phải có văn bản thông báo cho cơ quan có thẩm quyền quản lý thị trường bất động sản về việc nhà ở đủ điều kiện được bán, cho thuê mua. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, cơ quan có thẩm quyền quản thị trường BĐS cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra về điều kiện của nhà ở đưa vào kinh doanh và trả lời bằng văn bản cho chủ đầu tư về nhà ở có đủ điều kiện được bán, cho thuê mua; trường hợp không đủ điều kiện phải nêu rõ lý do. Nếu quá thời hạn này mà cơ quan có thẩm quyền quản lý kinh doanh BĐS cấp tỉnh không có ý kiến thì chủ đầu tư được quyền bán, cho thuê mua nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai”.

2.3. Về Điều 27. Bảo lãnh trong bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai

Khoản 3 Điều 27 quy định: “Khi ký kết hợp đồng mua, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai, khách hàng được lựa chọn việc có hoặc không có tổ chức tín dụng bảo lãnh cho nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư đối với mình. Trong trường hợp khách hàng lựa chọn không có tổ chức tín dụng bảo lãnh cho nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư đối với mình thì các bên không phải thực hiện quy định tại các khoản 4, 5, 6, 7 và 8 Điều này đối với khách hàng đã ký hợp đồng. Việc khách hàng từ chối việc tổ chức tín dụng bảo lãnh cho nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư đối với mình được thỏa thuận bằng văn bản tại thời điểm ký kết hợp đồng mua, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai”. Tác giả có một số ý kiến như sau:

Quy định về bảo lãnh nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người mua, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai, bởi lẽ, tại thời điểm ký kết hợp đồng mua, thuê mua thì nhà ở chưa hình thành mà đang trong quá trình hình thành nên tiềm ẩn rủi ro chủ đầu tư lừa đảo chiếm dụng tiền mua, tiền thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai rồi bỏ trốn hoặc cố tình không thực hiện nghĩa vụ đối với khách hàng đã cam kết. Xét về mặt lý thuyết, khách hàng có quyền không lựa chọn việc tổ chức tín dụng bảo lãnh cho nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư đối với mình; song điều này là phi lý và dường như không tồn tại trên thực tế. Không có khách hàng mua, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai lại “phó mặc” quyền lợi của mình cho chủ đầu tư bán, cho thuê mua. Vì vậy, tác giả đề nghị bỏ khoản 3 của Điều 27.

3. Góp ý Chương IV. Kinh doanh quyền sử dụng đất

3.1. Về thuật ngữ trong Chương IV

Đề nghị Ban Soạn thảo bổ sung thuật ngữ “quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án BĐS” tại Điều 3. Giải thích từ ngữ nhằm làm rõ nội hàm khái niệm góp phần thực thi có hiệu quả Dự thảo Luật khi được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành.

3.2. Về Điều 29. Các hình thức kinh doanh và thực hiện giao dịch quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án bất động sản

Điểm d khoản 2 Điều 29 Dự thảo Luật quy định: “Trước khi ký hợp đồng, bên chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất cung cấp đầy đủ thông tin và giấy tờ pháp lý của quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án BĐS cho khách hàng”.

Đối chiếu với điểm đ khoản 2 Điều 29 và khoản 2 Điều 59 để bảo đảm sự tương thích thì điểm d khoản 2 Điều 29 cần sửa đổi như sau: “Trước khi ký hợp đồng, bên chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất cung cấp đầy đủ thông tin và giấy tờ pháp lý của quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án BĐS cho khách hàng và cho Sàn giao dịch BĐS”.

3.3. Về Điều 35. Điều kiện đối với quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án bất động sản chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại

Điều 35 quy định: “Quyền sử dụng đất đã đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật trong dự án BĐS đưa vào kinh doanh phải đáp ứng các điều kiện quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 7 Điều 31 của Luật này”. Về Điều này, tác giả có ý kiến như sau:

Nội dung của Điều 35 là sự “nhắc lại” Điều 31. Mặt khác, xét về kỹ thuật lập pháp, không nên tách điều kiện đối với quyền sử dụng đất thành hai điều luật là: Điều 31. Điều kiện đối với đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án BĐS chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho cá nhân tự xây dựng nhà ở và Điều 35. Điều kiện đối với quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án BĐS chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại. Mặc dù, Ban Soạn thảo tách điều kiện kinh doanh quyền sử dụng đất thành hai điều luật độc lập song nội dung của chúng không có sự khác biệt. Vì vậy, tác giả đề nghị Ban Soạn thảo xem xét, cân nhắc gộp nội dung Điều 31 và Điều 35 thành một điều luật quy định về điều kiện chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật.

3.4. Góp ý khác

Ban Soạn thảo nên rà soát, tinh chỉnh tên các điều, nội dung của các điều nhằm bảo đảm tính thống nhất về khái niệm của các thuật ngữ; ví dụ: Điều 31 Dự thảo Luật sử dụng cụm từ “điều kiện đối với đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án BĐS chuyển nhượng quyền sử dụng đất…”; trong khi đó, Điều 35 lại sử dụng cụm từ “điều kiện đối với quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án BĐS chuyển nhượng…” hay khoản 4 Điều 37 Dự thảo Luật quy định trách nhiệm của bên chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án BĐS sử dụng cụm từ “các trách nhiệm khác trong hợp đồng”, trong khi đó, khoản 4 Điều 38 Dự thảo Luật quy định trách nhiệm của bên nhận chuyển nhượng, thuê, thuê lại quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án BĐS lại sử dụng cụm từ “các trách nhiệm khác trong hợp đồng”. Theo tác giả, hiểu trách nhiệm và nghĩa vụ là những thuật ngữ về cơ bản là đồng nghĩa nhưng giữa chúng cũng có sự khác nhau về nội hàm khái niệm.

PGS.TS. Nguyễn Quang Tuyến

Phó Chủ tịch Hội đồng Trường, kiêm Trưởng Khoa Pháp luật kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Bản Dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) ngày 14/8/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 388), tháng 9/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.
Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Trong không khí xuân Bính Ngọ năm 2026, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tiếp tục được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm với nhiều chính sách mang tính đột phá. Ngày 09/9/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 72-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với sức khỏe của người dân hướng đến mục tiêu xây dựng nước Việt Nam khỏe mạnh, mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe, sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh, nâng cao thể chất, tinh thần và chủ động phòng ngừa bệnh tật trong toàn xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới. Đồng chí Đào Hồng Lan, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh, sức khỏe của người dân phải được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Những chia sẻ của Bộ trưởng mở ra bức tranh toàn diện về định hướng chăm sóc sức khỏe suốt đời, từ phòng bệnh chủ động, giảm chi phí y tế, đến xây dựng hệ thống y tế công bằng, bền vững cho mọi người dân.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là sự kiện chính trị trọng đại, là dấu mốc quan trọng trên con đường phát triển đất nước, khởi điểm lịch sử mới của dân tộc Việt Nam sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Để tạo nền tảng chính trị xác định tầm nhìn chiến lược và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Văn kiện Đại hội Đảng khóa XIV có nhiều điểm mới, đột phá.
Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Thể chế, pháp luật và lợi thế cạnh tranh quốc gia có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Hệ thống thể chế, pháp luật được xây dựng đồng bộ, thống nhất khả thi, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng và có sức cạnh tranh trong hội nhập. Đồng thời, để giữ lợi thế cạnh tranh quốc gia trong hội nhập, hệ thống thể chế, pháp luật phải được quan tâm hoàn thiện để “đánh thức” mọi tiềm năng, thế mạnh, khơi thông và thu hút nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện những giải pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia mình trong nền kinh tế toàn cầu. Trong suốt hành trình hơn 80 năm qua, Bộ Tư pháp xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, luôn được Đảng, Nhà nước giao trọng trách thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc nhận diện đầy đủ và phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập là rất cần thiết, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu cao về hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường pháp lý và thúc đẩy hội nhập, việc rà soát, đánh giá và hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bài viết phân tích mâu thuẫn hiện hành trong quy định pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, làm rõ nguyên nhân từ góc độ kỹ thuật lập pháp và tư duy điều chỉnh; đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả của pháp luật về hợp đồng, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển và tạo đột phá chiến lược được đặt ra với tính cấp thiết và chiều sâu chưa từng có. Đột phá thể chế không chỉ là yêu cầu cải cách quản lý, mà là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với năng lực phát triển, sức cạnh tranh và bản lĩnh tự chủ của nền kinh tế quốc gia trong giai đoạn mới. Trên cơ sở tiếp cận thể chế như hạ tầng mềm của phát triển, bài viết phân tích vai trò trung tâm của đột phá thể chế - đặc biệt là thể chế bảo đảm thực hiện pháp luật hiệu quả, nghiêm minh và nhất quán - đối với việc hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030. Thông qua làm rõ những điểm mới về thể chế trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết khẳng định: chỉ khi nâng cao thực chất hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật, thể chế mới thực sự trở thành nền móng cải cách và động lực nội sinh cho phát triển nhanh, bền vững.
Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an đã xây dựng hồ sơ đề nghị xây dựng Luật An ninh mạng theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Dự thảo Luật gồm 09 chương với 58 điều, đang được thảo luận tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV; đã có 70 lượt đại biểu phát biểu ý kiến tại tổ (ngày 31/10/2025), 15 lượt đại biểu phát biểu tại hội trường (ngày 06/11/2025) và 05 Đoàn đại biểu Quốc hội gửi ý kiến bằng văn bản.
Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia, phát triển kinh tế số, chuyển đổi số quốc gia, khắc phục sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) và Luật An ninh mạng năm 2018, dự án Luật An ninh mạng đã được xây dựng trên cơ sở hợp nhất 02 luật nêu trên và đang được Quốc hội khóa XV xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 10.
Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; đồng thời, bổ sung một số nội dung mới để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là một trong những hình thức hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, đồng thời, mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc.
Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó.
Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Việc xây dựng Luật Tương trợ tư pháp về dân sự là yêu cầu cấp thiết khách quan, nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay trong hoạt động TTTP nói chung và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 nói riêng, đáp ứng yêu cầu của công tác này trong tình hình mới.
Bàn về việc sử dụng thuật ngữ “tương trợ tư pháp” thay thế thuật ngữ “ủy thác tư pháp” trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự

Bàn về việc sử dụng thuật ngữ “tương trợ tư pháp” thay thế thuật ngữ “ủy thác tư pháp” trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự

Hiện, Bộ Tư pháp đang dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự (dự thảo Luật). Trong chế định tương trợ tư pháp về dân sự, thuật ngữ “ủy thác tư pháp” được sử dụng tương đối phổ biến. Nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng thuật ngữ “ủy thác tư pháp” để thiết lập các quy phạm điều chỉnh lĩnh vực tương trợ tư pháp về dân sự là không phù hợp và dự thảo Luật không sử dụng thuật ngữ này là hợp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: