Thứ bảy 30/05/2026 21:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Góp ý quy định về kinh doanh nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai và kinh doanh quyền sử dụng đất của Dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi)[1]

Bài viết phân tích nội dung một số quy định tại Chương III và Chương IV Dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi), chỉ ra một số điểm chưa phù hợp, mâu thuẫn, chồng chéo… Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp khắc phục, hoàn thiện nhằm góp phần nâng cao chất lượng của Dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi).

1. Dẫn nhập

Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 25/11/2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015. Đạo luật này ra đời đã góp phần hoàn thiện khung pháp lý thúc đẩy sự hình thành đồng bộ của thị trường bất động sản (BĐS); thúc đẩy sự vận hành của thị trường BĐS phát triển theo hướng công khai minh bạch, thông suốt và lành mạnh. Tuy nhiên, qua tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 cho thấy, một số quy định không còn phù hợp, bất cập so với thực tế của quá trình phát kinh tế - xã hội theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII. Điều này đặt ra yêu cầu phải sửa đổi Đạo luật này. Dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) (sau đây gọi tắt là Dự thảo Luật) được các đại biểu Quốc hội khóa XV cho ý kiến lần thứ 1 vào kỳ họp tháng 5/2023. Để góp phần nâng cao chất lượng của Dự thảo Luật, bài viết đi sâu góp ý về nội dung Chương III. Kinh doanh nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai và Chương IV. Kinh doanh quyền sử dụng đất.

2. Góp ý Chương III. Kinh doanh nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai

2.1. Về Điều 24. Nguyên tắc kinh doanh nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai

Một là, khoản 2 Điều này quy định: “Việc bán, cho thuê mua nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai được thực hiện theo quy định của Chương này, các nguyên tắc quy định tại Điều 14, các quy định tương ứng trong Chương II và các quy định khác có liên quan của Luật này”.

Điều 4 của Chương I. Những quy định chung quy định về nguyên tắc kinh doanh BĐS. Đây là những nguyên tắc chung mang tính “bao trùm” cho hoạt động kinh doanh BĐS nói chung và hoạt động kinh doanh nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai nói riêng. Hay nói cách khác, hoạt động kinh doanh nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai không chỉ tuân thủ nguyên tắc tại Điều 24 mà còn chịu sự quy chiếu của các nguyên tắc chung về kinh doanh BĐS tại Điều 4 của Chương I. Để làm nổi bật, rõ hơn việc tuân thủ nguyên tắc chung về kinh doanh BĐS của hoạt động kinh doanh nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai, đề nghị bổ sung khoản 2 Điều 24 như sau: “Việc bán, cho thuê mua nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai được thực hiện theo quy định của Chương này, các nguyên tắc quy định tại Điều 4 và Điều 14, các quy định tương ứng trong Chương II và các quy định khác có liên quan của Luật này”.

Hai là, khoản 3 Điều 4 Dự thảo Luật quy định: “Kinh doanh bất động sản phải công khai minh bạch”. Có nghĩa là mọi hoạt động kinh doanh BĐS phải tuân thủ công khai, minh bạch. Vì vậy, khoản 3 Điều 24 Dự thảo Luật không nhất thiết phải nhắc lại quy định: “Bảo đảm công khai, minh bạch; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân đã ký hợp đồng mua, thuê mua nhà ở, công trình xây dựng”. Đề nghị Ban Soạn thảo bỏ cụm từ “bảo đảm công khai, minh bạch” và sửa lại khoản này như sau: “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân đã ký hợp đồng mua, thuê mua nhà ở, công trình xây dựng”.

Ba là, khoản 5 Điều 24 Dự thảo Luật đề cập trách nhiệm của chủ đầu tư dự án BĐS trong việc sử dụng tiền đã thu từ khách hàng để đầu tư xây dựng dự án, nhà ở, công trình xây dựng đã được bán, cho thuê đúng mục đích sử dụng theo hợp đồng đã ký kết (điểm a); phải sử dụng tiền ứng trước của khách hàng theo đúng mục đích đã cam kết (điểm d). Vậy câu hỏi đặt ra là, tiền đã thu của khách hàng có khác với tiền ứng trước của khách hàng không? Nếu hai khoản tiền này khác nhau, đề nghị Ban Soạn thảo bổ sung điều khoản giải thích khái niệm của hai khoản tiền này tại Điều 3 của Chương I nhằm tránh sự hiểu không thống nhất, góp phần tạo thuận lợi trong quá trình triển khai thực hiện trên thực tế khi Dự thảo Luật được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành. Trong trường hợp hai khoản tiền này là một thì đề nghị bỏ điểm d của khoản 5.

2.2. Về Điều 25. Điều kiện đối với nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai được đưa vào kinh doanh

Khoản 4 Điều 25 Dự thảo Luật quy định: “Trước khi bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai, chủ đầu tư dự án phải có văn bản thông báo cho cơ quan có thẩm quyền quản lý thị trường BĐS về việc nhà ở đủ điều kiện được bán, cho thuê mua. Cơ quan có thẩm quyền quản lý kinh doanh BĐS cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra về điều kiện của nhà ở đưa vào kinh doanh và trả lời bằng văn bản cho chủ đầu tư về nhà ở đủ điều kiện được bán, cho thuê mua; trường hợp không đủ điều kiện phải nêu rõ lý do”. Về khoản này, tác giả có một số góp ý như sau:

Một là, việc quy định điều kiện đối với nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai được đưa vào kinh doanh nói chung và quy định nội dung khoản 4 Điều 25 Dự thảo Luật nói riêng là cần thiết. Bởi lẽ, xét về bản chất, kinh doanh nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai là việc mua bán, cho thuê mua “nhà ở, công trình xây dựng” trên giấy (nhà ở, công trình xây dựng chưa tồn tại trên thực tế tại thời điểm giao kết hợp đồng mua, thuê mua). Vì vậy, để phòng ngừa rủi ro cho người mua, người thuê mua; ngăn ngừa tình trạng lừa đảo chiếm đoạt tiền mua nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai của khách hàng thì quy định điều kiện đối với nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai được đưa vào kinh doanh là rất cần thiết. Hơn nữa, quy định về điều kiện tại khoản 4 Điều 25 Dự thảo Luật góp phần tăng cường, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về kinh doanh BĐS nói chung và kinh doanh nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai nói riêng. Tuy nhiên, Ban Soạn thảo không quy định cụ thể thời gian trả lời kết quả kiểm tra về điều kiện nhà ở đưa vào kinh doanh của cơ quan có thẩm quyền quản lý kinh doanh BĐS cấp tỉnh cho chủ đầu tư về nhà ở được bán, cho thuê mua. Nếu không quy định cụ thể thời gian trả lời kết quả kiểm tra về điều kiện nhà ở đưa vào kinh doanh của cơ quan có thẩm quyền quản lý kinh doanh BĐS cấp tỉnh sẽ gây trở ngại cho hoạt động kinh doanh của chủ đầu tư. Tác giả xin góp ý sửa đổi, bổ sung khoản này như sau: “Trước khi bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai, chủ đầu tư dự án phải có văn bản thông báo cho cơ quan có thẩm quyền quản lý thị trường BĐS về việc nhà ở đủ điều kiện được bán, cho thuê mua. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, cơ quan có thẩm quyền quản lý kinh doanh BĐS cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra về điều kiện của nhà ở đưa vào kinh doanh và trả lời bằng văn bản cho chủ đầu tư về nhà ở có đủ điều kiện được bán, cho thuê mua; trường hợp không đủ điều kiện phải nêu rõ lý do. Nếu quá thời hạn này mà cơ quan có thẩm quyền quản lý kinh doanh BĐS cấp tỉnh không có ý kiến thì chủ đầu tư được quyền bán, cho thuê mua nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai”.

Hai là, khoản 4 Điều 25 Dự thảo Luật quy định, chủ đầu tư kinh doanh nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai phải có văn bản thông báo cho cơ quan có thẩm quyền quản lý thị trường BĐS về việc nhà ở đủ điều kiện được bán, cho thuê mua. Tuy nhiên, cơ quan có thẩm quyền quản lý kinh doanh BĐS cấp tỉnh lại là cơ quan có trách nhiệm kiểm tra về điều kiện của nhà ở đưa vào kinh doanh và trả lời bằng văn bản cho chủ đầu tư về nhà ở có đủ điều kiện được bán, cho thuê mua. Như vậy, theo quy định này, cơ quan tiếp nhận văn bản thông báo về bán nhà ở hình thành trong tương lai khác với cơ quan có trách nhiệm kiểm tra về điều kiện của nhà ở đưa vào kinh doanh và trả lời bằng văn bản cho chủ đầu tư về nhà ở có đủ điều kiện được bán, cho thuê mua. Đề nghị Ban Soạn thảo quy định thống nhất cơ quan tiếp nhận văn bản thông báo về bán nhà ở hình thành trong tương lai cũng chính là cơ quan có trách nhiệm kiểm tra về điều kiện của nhà ở đưa vào kinh doanh và trả lời bằng văn bản cho chủ đầu tư về nhà ở có đủ điều kiện được bán, cho thuê mua và sửa lại nội dung khoản này như sau: “Trước khi bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai, chủ đầu tư dự án phải có văn bản thông báo cho cơ quan có thẩm quyền quản lý thị trường bất động sản về việc nhà ở đủ điều kiện được bán, cho thuê mua. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, cơ quan có thẩm quyền quản thị trường BĐS cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra về điều kiện của nhà ở đưa vào kinh doanh và trả lời bằng văn bản cho chủ đầu tư về nhà ở có đủ điều kiện được bán, cho thuê mua; trường hợp không đủ điều kiện phải nêu rõ lý do. Nếu quá thời hạn này mà cơ quan có thẩm quyền quản lý kinh doanh BĐS cấp tỉnh không có ý kiến thì chủ đầu tư được quyền bán, cho thuê mua nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai”.

2.3. Về Điều 27. Bảo lãnh trong bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai

Khoản 3 Điều 27 quy định: “Khi ký kết hợp đồng mua, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai, khách hàng được lựa chọn việc có hoặc không có tổ chức tín dụng bảo lãnh cho nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư đối với mình. Trong trường hợp khách hàng lựa chọn không có tổ chức tín dụng bảo lãnh cho nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư đối với mình thì các bên không phải thực hiện quy định tại các khoản 4, 5, 6, 7 và 8 Điều này đối với khách hàng đã ký hợp đồng. Việc khách hàng từ chối việc tổ chức tín dụng bảo lãnh cho nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư đối với mình được thỏa thuận bằng văn bản tại thời điểm ký kết hợp đồng mua, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai”. Tác giả có một số ý kiến như sau:

Quy định về bảo lãnh nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người mua, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai, bởi lẽ, tại thời điểm ký kết hợp đồng mua, thuê mua thì nhà ở chưa hình thành mà đang trong quá trình hình thành nên tiềm ẩn rủi ro chủ đầu tư lừa đảo chiếm dụng tiền mua, tiền thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai rồi bỏ trốn hoặc cố tình không thực hiện nghĩa vụ đối với khách hàng đã cam kết. Xét về mặt lý thuyết, khách hàng có quyền không lựa chọn việc tổ chức tín dụng bảo lãnh cho nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư đối với mình; song điều này là phi lý và dường như không tồn tại trên thực tế. Không có khách hàng mua, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai lại “phó mặc” quyền lợi của mình cho chủ đầu tư bán, cho thuê mua. Vì vậy, tác giả đề nghị bỏ khoản 3 của Điều 27.

3. Góp ý Chương IV. Kinh doanh quyền sử dụng đất

3.1. Về thuật ngữ trong Chương IV

Đề nghị Ban Soạn thảo bổ sung thuật ngữ “quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án BĐS” tại Điều 3. Giải thích từ ngữ nhằm làm rõ nội hàm khái niệm góp phần thực thi có hiệu quả Dự thảo Luật khi được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành.

3.2. Về Điều 29. Các hình thức kinh doanh và thực hiện giao dịch quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án bất động sản

Điểm d khoản 2 Điều 29 Dự thảo Luật quy định: “Trước khi ký hợp đồng, bên chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất cung cấp đầy đủ thông tin và giấy tờ pháp lý của quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án BĐS cho khách hàng”.

Đối chiếu với điểm đ khoản 2 Điều 29 và khoản 2 Điều 59 để bảo đảm sự tương thích thì điểm d khoản 2 Điều 29 cần sửa đổi như sau: “Trước khi ký hợp đồng, bên chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất cung cấp đầy đủ thông tin và giấy tờ pháp lý của quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án BĐS cho khách hàng và cho Sàn giao dịch BĐS”.

3.3. Về Điều 35. Điều kiện đối với quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án bất động sản chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại

Điều 35 quy định: “Quyền sử dụng đất đã đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật trong dự án BĐS đưa vào kinh doanh phải đáp ứng các điều kiện quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 7 Điều 31 của Luật này”. Về Điều này, tác giả có ý kiến như sau:

Nội dung của Điều 35 là sự “nhắc lại” Điều 31. Mặt khác, xét về kỹ thuật lập pháp, không nên tách điều kiện đối với quyền sử dụng đất thành hai điều luật là: Điều 31. Điều kiện đối với đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án BĐS chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho cá nhân tự xây dựng nhà ở và Điều 35. Điều kiện đối với quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án BĐS chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại. Mặc dù, Ban Soạn thảo tách điều kiện kinh doanh quyền sử dụng đất thành hai điều luật độc lập song nội dung của chúng không có sự khác biệt. Vì vậy, tác giả đề nghị Ban Soạn thảo xem xét, cân nhắc gộp nội dung Điều 31 và Điều 35 thành một điều luật quy định về điều kiện chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật.

3.4. Góp ý khác

Ban Soạn thảo nên rà soát, tinh chỉnh tên các điều, nội dung của các điều nhằm bảo đảm tính thống nhất về khái niệm của các thuật ngữ; ví dụ: Điều 31 Dự thảo Luật sử dụng cụm từ “điều kiện đối với đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án BĐS chuyển nhượng quyền sử dụng đất…”; trong khi đó, Điều 35 lại sử dụng cụm từ “điều kiện đối với quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án BĐS chuyển nhượng…” hay khoản 4 Điều 37 Dự thảo Luật quy định trách nhiệm của bên chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án BĐS sử dụng cụm từ “các trách nhiệm khác trong hợp đồng”, trong khi đó, khoản 4 Điều 38 Dự thảo Luật quy định trách nhiệm của bên nhận chuyển nhượng, thuê, thuê lại quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án BĐS lại sử dụng cụm từ “các trách nhiệm khác trong hợp đồng”. Theo tác giả, hiểu trách nhiệm và nghĩa vụ là những thuật ngữ về cơ bản là đồng nghĩa nhưng giữa chúng cũng có sự khác nhau về nội hàm khái niệm.

PGS.TS. Nguyễn Quang Tuyến

Phó Chủ tịch Hội đồng Trường, kiêm Trưởng Khoa Pháp luật kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Bản Dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) ngày 14/8/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 388), tháng 9/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Đạo luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc ban hành Luật mới nhằm thay thế toàn bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, giải quyết triệt để những bất cập thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy chính quyền (02 cấp) và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, quyền tiếp cận thông tin là tiền đề quan trọng để người khuyết tật hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, “khoảng cách số” và những khoảng trống của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 làm tăng nguy cơ người khuyết tật bị “bỏ lại phía sau”. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu, nghiên cứu đánh giá thực trạng khung pháp lý cũng như thực tiễn thi hành quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật; từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba điểm nghẽn lớn là thiếu quy định bắt buộc về định dạng thông tin dễ tiếp cận; giới hạn về chủ thể cung cấp thông tin và thiếu cơ chế phối hợp hỗ trợ. Để giải quyết, nghiên cứu đề xuất ba giải pháp trọng tâm: (i) đa dạng hóa phương thức cung cấp qua nền tảng số và bắt buộc cung cấp định dạng chuyên biệt; (ii) mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thiết yếu, thiết lập cơ chế để hệ thống trợ giúp pháp lý trở thành đầu mối hỗ trợ, “phiên dịch” thông tin cho người khuyết tật; (iii) hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thông qua chính sách miễn phí tiếp cận thông tin và đầu tư hạ tầng công nghệ bao trùm.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ Nhất xem xét, thông qua đã quy định phân quyền, phân cấp bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, tạo cơ sở pháp lý cho công tác trợ giúp pháp lý phát triển theo hướng chuyên nghiệp, sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách, góp phần thực hiện chính sách “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa” và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt là nhóm “dễ bị tổn thương”.
Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí như người nghèo, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi… khi tham gia tố tụng với tư cách là đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích liên quan) có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc nhờ trợ giúp pháp lý tham gia bảo vệ theo quy định pháp luật.
Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Chính sách Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật thời gian qua, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã trình Chính phủ về hồ sơ chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Theo đó, việc sửa đổi toàn diện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, chuyển đổi số.
Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng kính mời các chuyên gia, độc giả tham gia viết bài cho ấn phẩm chuyên đề chuyên sâu về truyền thông chính sách và góp ý vào dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Theo dõi chúng tôi trên: