Thứ năm 20/08/2026 04:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hạn chế, bất cập của chính sách pháp luật về thi hành án dân sự và định hướng hoàn thiện

Theo Báo cáo[1] tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 cho thấy, mục tiêu xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch còn một số khía cạnh chưa đạt được.

Thực tiễn vẫn còn văn bản quy phạm pháp luật có quy định mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập chậm được phát hiện, xử lý. Thực trạng này cũng đúng trong lĩnh vực thể chế thi hành án dân sự (THADS)[2], trong khi chính sách pháp luật (CSPL) về thể chế THADS đóng vai trò quan trọng và quyết định đến chất lượng, hiệu quả của hoạt động THADS. Bài viết này sẽ đề cập đến những hạn chế, bất cập của CSPL về thể chế THADS, đồng thời đề xuất ban hành Bộ luật Thi hành án (THA) như là một giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác THADS phù hợp với chiến lược cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
1. Hạn chế và bất cập trong thực hiện chính sách pháp luật về thể chế thi hành án dân sự
Việc xác định thế nào là văn bản quy phạm pháp luật cho đến trình tự, thủ tục ban hành nó luôn được thực hiện theo một quy trình pháp lý chặt chẽ được quy định bởi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực tại thời điểm mà Luật đó được ban hành, ví dụ: Việc ban hành Pháp lệnh THADS năm 2004 và sau đó là Luật THADS năm 2008 phải theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002); việc ban hành Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 phải theo trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 (Luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2009). Tại thời điểm đó, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) chưa được áp dụng vì nó được ban hành sau.
Theo trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật trước ngày 27/12/2002 (thời điểm Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung năm 2002 có hiệu lực) thì thủ tục chung cho việc ra đời một văn bản luật gồm các bước cơ bản như văn bản đó phải được đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; thành lập ban soạn thảo (trong đó tập trung vào tổng kết đánh giá tình hình, tổ chức nghiên cứu, tổ chức lấy ý kiến, chuẩn bị tờ trình...); xây dựng dự thảo dự án luật, pháp lệnh; trình cơ quan có thẩm quyền (Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội); thẩm định; thẩm tra; lấy ý kiến nhân dân; lấy ý kiến của đại biểu Quốc hội; xem xét thông qua và công bố dự án luật, pháp lệnh.
Tuy nhiên, sự ra đời của các văn bản luật, pháp lệnh có hiệu lực pháp lý cao nhất trong lĩnh vực THADS kể từ khi công tác THADS được bàn giao từ Tòa án nhân dân các cấp sang các cơ quan thuộc Chính phủ (từ Pháp lệnh THADS năm 1993) cho đến nay không hoàn toàn theo logic chung về trình tự, thủ tục, thời gian ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tức là chưa đến giai đoạn “chín muồi” mà được sửa đổi, ban hành mang tính chất “giải quyết tình thế, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc” nhiều hơn là sự chủ động, nghiên cứu, khảo sát, đánh giá tác động đầy đủ. Cụ thể:
Một là, sự ra đời của Pháp lệnh THADS năm 1993 là văn bản pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động THADS, nhưng lại được ban hành trong điều kiện rất khẩn trương nhằm kịp thời triển khai việc thi hành Nghị quyết của Quốc hội về việc bàn giao công tác THADS từ Tòa án nhân dân các cấp sang cơ quan thuộc Chính phủ, nên về cơ bản, Pháp lệnh THADS năm 1993 vẫn giữ nguyên các quy định của Pháp lệnh THADS năm 1989, chỉ sửa đổi những nội dung liên quan đến thẩm quyền của cơ quan quản lý công tác THA và cơ quan THA[3] mà chưa có điều kiện sửa đổi, bổ sung các nội dung quan trọng về trình tự, thủ tục THA. Nhiều quy định còn sơ hở, thiếu chặt chẽ dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất, thiếu nghiêm minh, gây ra tình trạng án tồn đọng kéo dài nhiều năm. Bên cạnh đó, Pháp lệnh THADS năm 1993 ra đời trong bối cảnh nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc, đặc biệt là chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách hành chính, cải cách tư pháp[4].
Hai là, Pháp lệnh THADS năm 1993 được ban hành trong điều kiện khẩn trương nhằm kịp thời triển khai thi hành Nghị quyết của Quốc hội về bàn giao công tác THADS từ Tòa án sang Chính phủ[5]. Do tính khẩn trương như vậy nên qua hơn 10 năm thực hiện, nhiều quy định của Pháp lệnh THADS năm 1993 đã không còn phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội, không theo kịp với đường lối, chủ trương của Đảng về cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Để kịp thời giải quyết những vấn đề bức xúc trong THADS, ngày 14/01/2004, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh THADS năm 2004 để giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong THADS. Tuy nhiên, Pháp lệnh THADS năm 2004 được ban hành trong bối cảnh Quốc hội đã có kế hoạch xây dựng Bộ luật THA điều chỉnh thống nhất công tác THA nên Pháp lệnh này chủ yếu tạo cơ sở pháp lý để tháo gỡ một số khó khăn, vướng mắc trước mắt trong việc giải quyết án tồn đọng mà chưa giải quyết một cách cơ bản những khó khăn, vướng mắc trong cơ chế quản lý, mô hình tổ chức, thủ tục THADS nói chung và thi hành các loại án kinh tế, lao động nói riêng[6]. Cụ thể, từ ngày 16/12/2002, Quốc hội khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 12/2002/QH11 đã quyết định đưa dự án xây dựng Bộ luật THA vào chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XI (2002 - 2007)[7]. Tiếp theo đó, ngày 06/3/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 35/2003/QĐ-TTg về việc phân công cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI (2002 - 2007), Bộ Tư pháp được Chính phủ giao chủ trì xây dựng Dự thảo Bộ luật THA (dự kiến trình Quốc hội vào kỳ họp cuối năm 2005). Do Pháp lệnh THADS năm 2004 được ban hành trong điều kiện như vậy nên quy định của Pháp lệnh chưa khắc phục được những điểm hạn chế cố hữu về thủ tục của các Pháp lệnh trước đó. Hiệu quả hạn chế của công tác THADS lâu nay cũng xuất phát từ chính sự bất cập của các quy định về thủ tục THA và chính điều này lý giải tại sao có tới 44% số án được xác định có điều kiện nhưng vẫn không thi hành được[8].
Tổng kết 03 năm thực hiện Pháp lệnh THADS năm 2004 đã cho thấy Pháp lệnh này đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Theo số liệu thống kê hàng năm của Bộ Tư pháp, số lượng các bản án, quyết định bị tồn đọng chưa được thi hành dứt điểm vào các kỳ báo cáo hàng năm mặc dù về tỷ lệ thì có giảm, nhưng về số lượng vẫn còn lớn. Năm 2005, có 327.658 vụ việc tồn đọng chiếm 58,38%; năm 2006, có 331.092 vụ việc tồn đọng chiếm 54,99%; năm 2007, có 311.443 vụ việc tồn đọng chiếm 48,04%, đến năm 2008, có 215.152 việc chưa có điều kiện thi hành chiếm 34,56%. Tình trạng này đã làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tính nghiêm minh của pháp luật; quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và Nhà nước theo bản án, quyết định của Tòa án chưa được bảo đảm, nhiều việc gây bức xúc trong xã hội. Do việc ban hành trong điều kiện “gấp gáp” và “khẩn trương”, đặc biệt là đang chờ để ban hành Bộ luật THA, nên Pháp lệnh THADS năm 2004 chưa khắc phục được tình trạng pháp luật khung. Thực tiễn cho thấy, để thực hiện được Pháp lệnh THADS năm 2004, các cơ quan chức năng đã phải ban hành trên 40 văn bản hướng dẫn như nghị định, quyết định, thông tư, thông tư liên tịch... Điều này không chỉ gây khó khăn cho các cơ quan có nhiệm vụ tổ chức THA mà còn gây khó khăn cho cả người được THA, người phải THA, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong khi đó, THADS là hoạt động quan trọng, phức tạp, liên quan trực tiếp đến các quyền cơ bản của con người (như quyền về nhân thân, quyền về tài sản, quyền về nơi ở...) cần sự điều chỉnh của văn bản luật có hiệu lực pháp lý cao[9].
Ba là, Luật THADS năm 2008 được ban hành với kỳ vọng rất lớn. Tuy nhiên, nó lại được ra đời (quá trình soạn thảo) trong điều kiện thời gian gấp gáp và hoàn cảnh đặc biệt, cụ thể:
- Về kỳ vọng và quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật THADS. Luật THADS được ban hành dựa trên các quan điểm chỉ đạo gồm: (i) Việc xây dựng Luật THADS phải quán triệt và nhằm thể chế hóa các nghị quyết của Đảng về tư pháp nói chung và THA nói riêng; (ii) Xây dựng Luật THADS để điều chỉnh toàn diện hoạt động THA; (iii) Việc xây dựng Luật THADS phải có sự kế thừa, phát triển và pháp điển hóa các quy định của pháp luật hiện hành về THADS; (iv) Việc xây dựng Luật THADS nhằm tạo ra cơ chế bảo đảm sự quản lý hiệu quả của Nhà nước, tiếp tục thực hiện chủ trương cải cách hành chính, cải cách tư pháp; (v) Việc xây dựng Luật THADS phải tạo cơ chế giải quyết hiệu quả tình trạng án tồn đọng; (vi) Việc xây dựng Luật THADS cần phải bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật. Sau hơn 10 năm (2009 - 2020) thực hiện cho thấy, hiệu quả đem lại mà các kỳ vọng nêu trên đặt ra cho Luật THADS trước khi thông qua Luật THADS là chưa cao, ví dụ, hệ thống pháp luật vẫn còn mâu thuẫn, chưa thống nhất; xu hướng án tồn đọng ngày càng tăng; hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác THADS chưa như mong đợi; Luật THADS chưa điều chỉnh toàn diện tất cả các lĩnh vực THA...
- Về quá trình xây dựng Luật THADS năm 2008: Có thể nói, quá trình xây dựng và thông qua Luật THADS năm 2008 “vừa dài lại vừa ngắn”. “Dài” vì trước khi xây dựng Luật THADS, đã có quá trình dài trong việc xây dựng Luật THA (từ năm 1998) và sau đó là Bộ luật THA (2002 - 2007), nhưng cuối cùng, dự án xây dựng Bộ luật THA không thành công mà chuyển thành xây dựng Luật THADS, như vậy, đã có quá trình “thai nghén” 10 năm nếu kết quả là Luật THA được thông qua như dự kiến ban đầu. “Ngắn” vì với một đạo luật quan trọng, chứa đựng quá nhiều kỳ vọng và trọng trách như vậy nhưng tổng thời gian để xây dựng dự thảo đầu tiên cho đến khi thông qua kéo dài chưa đến một năm, thời điểm bắt đầu tiếp nhận xây dựng Luật THADS (ngày 10/12/2007) đến khi thông qua Luật THADS (ngày 14/11/2008), quá trình này được mô phỏng như sau: Luật THA (1998) đến Bộ luật THA (2002 - 2007) đến Luật THADS (2008).
Cụ thể, ngay từ năm 1997, Quốc hội khóa X đã có Nghị quyết số 11/1997/QH10 ngày 12/12/1997 thông qua danh mục các dự án, trong đó, có dự án Luật THA thuộc danh mục cần tiếp tục chuẩn bị trong năm 1998 để trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét trong năm 1999 và các năm tiếp theo. Tiếp đó, ngày 02/12/1998, Nghị quyết số 19/1998/QH10 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa X và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 1999 đã đưa dự án Luật THA vào chương trình chính thức nhưng chưa thực hiện được. Đến nhiệm kỳ khóa XI, với Nghị quyết số 12/2002/QH11 ngày 16/12/2002, Quốc hội khóa XI đã quyết định nâng dự án Luật THA thành dự án xây dựng Bộ luật THA, và đưa dự án này vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XI (2002 - 2007). Triển khai thực hiện Nghị quyết, ngày 14/01/2004 (đúng vào ngày thông qua Pháp lệnh THADS năm 2004), Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 445/2004/NQ-UBNVQH11 về việc thành lập Ban soạn thảo Bộ luật THA, Bộ trưởng Bộ Tư pháp cũng ban hành Quyết định số 169/QĐ-BTP ngày 22/3/2004 về việc thành lập Tổ biên tập dự án Bộ luật THA. Sau quá trình dài xây dựng, vào ngày 21/11/2007, Quốc hội đã quyết định triển khai dự án Bộ luật THA thành hai luật THA riêng biệt.
Ngày 20/12/2007, Dự thảo 01 được hoàn thành với 09 chương, 217 điều. Ngày 05/01/2008, Dự thảo 02 hoàn thành với 09 chương, 211 điều. Ngày 22/01/2008, Dự thảo 03 đã hoàn thành với 10 chương, 212 điều do bổ sung các điều về THA phá sản. Ngày 15/02/2008, Dự thảo 04 có 214 điều và dự thảo 05 ngày 18/02/2008 lại điều chỉnh thành 220 điều do bổ sung quy định về THA có yếu tố nước ngoài. Dự thảo 06 hoàn thành vào ngày 29/02/2008 tăng lên thành 227 điều do bổ sung thêm một mục về chế định thừa phát lại. Dự thảo 07 hoàn thành vào ngày 12/3/2008 chỉ còn 208 điều do đã đưa những điều về thừa phát lại ra ngoài dự thảo. Đến dự thảo 11 trình Quốc hội thảo luận đã điều chỉnh quy định về thanh tra THA và THA có yếu tố nước ngoài. Kết quả chỉnh lý dự thảo đã đưa ra khỏi dự thảo một số nội dung trùng lặp hoặc có một số điều có cùng nội dung liên quan được ghép lại với nhau được đưa ra khỏi dự thảo do những thủ tục riêng không có gì khác với thủ tục chung...
Luật THADS năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 nhưng Luật này cũng giống như Pháp lệnh THADS năm 2004, được ban hành chỉ tập trung chủ yếu tạo cơ sở pháp lý để tháo gỡ một số khó khăn, vướng mắc trước mắt trong việc giải quyết án tồn đọng mà chưa giải quyết một cách cơ bản những khó khăn, vướng mắc trong cơ chế quản lý, mô hình tổ chức, thủ tục THADS, trong đó đặc biệt là các quy định về cưỡng chế THADS. Luật THADS chưa khắc phục được tình trạng pháp luật khung nên có nhiều nội dung sau khi Luật THADS được ban hành phải chờ các văn bản hướng dẫn mới có thể thực hiện[10].
2. Đề xuất ban hành Bộ luật Thi hành án
THA là một vấn đề hệ trọng, liên quan trực tiếp đến hiệu lực và hiệu quả của công tác quản lý nhà nước, đến trật tự, kỷ cương pháp luật và ảnh hưởng sâu sắc đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, hay nói rộng hơn, ảnh hưởng quyền cơ bản của con người như quyền về tài sản, quyền được lao động, quyền tự do, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm... Việc ban hành Bộ luật THA cũng phù hợp với chủ trương hội nhập và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hiện nay. Kết quả tổng kết 10 năm công tác THADS theo Báo cáo số 361/BC-BTP ngày 03/4/2003 của Bộ Tư pháp và kết quả bước đầu tổng kết công tác THA hình sự từ năm 1993 đến năm 2004 theo Quyết định số 790/2004/QĐ-BCA (C11) ngày 13/8/2004 của Bộ Công an cho thấy, việc có nhiều văn bản pháp luật khác nhau quy định về THA nhưng lại thiếu tính cụ thể, không bảo đảm tính hệ thống cùng với sự thiếu tập trung, thống nhất trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành là những nguyên nhân làm cho công tác THA ở nước ta mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Sự “cắt khúc”, thiếu tập trung, thống nhất trong công tác quản lý đã làm cho công tác thống kê báo cáo, tổng kết thực tiễn để kịp thời đề ra những chủ trương, chính sách sát hợp với thực tiễn và tăng cường hiệu lực và hiệu quả của công tác chỉ đạo, điều hành thống nhất gặp nhiều khó khăn. Cơ chế quản lý hiện hành chưa tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát của xã hội đối với công tác THA. Thực tế này đòi hỏi chúng ta phải sớm có một cơ chế quản lý phù hợp hơn, bảo đảm cho công tác THA được thực hiện có hiệu quả, vận hành một cách thông suốt, kịp thời, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng cũng như của toàn xã hội đối với công tác THA.
Có thể nói, từ cách đây 15 năm, chủ trương ban hành Bộ luật THA là một đỏi hỏi khách quan cả về mặt lý luận và thực tiễn nhằm thể chế hóa các nghị quyết nêu trên của Đảng, tạo cơ sở pháp lý để xây dựng, hoàn thiện hệ thống tổ chức cơ quan quản lý, cơ quan THA thống nhất, đồng thời, góp phần hoàn thiện các quy định về thủ tục THA, khắc phục những điểm bất hợp lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc tồn tại trong thực tiễn THA[11]. Tại thời điểm đó, nhiều quan điểm đồng tình việc xây dựng Bộ luật THA thống nhất, ví dụ, theo Tiến sỹ Nguyễn Thanh Thủy, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục THADS, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác THADS, cần sớm xây dựng một Bộ luật THA thống nhất điều chỉnh toàn diện hệ thống tổ chức và trình tự THADS, hành chính và hình sự, đồng thời điều chỉnh cả vấn đề xã hội hóa THA, cảnh sát hỗ trợ tư pháp, bồi thường thiệt hại gây ra trong THA... Việc ban hành một Bộ luật THA có phạm vi điều chỉnh rộng như trên còn nhằm bảo đảm sự gắn kết giữa THADS, THA hành chính với THA hình sự; đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện công tác THA, tạo ra sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật, là cơ sở pháp lý cho việc cải cách tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và cơ quan THA nói riêng. Việc hoàn thiện pháp luật THADS không chỉ dừng lại ở xây dựng, ban hành Bộ luật THA và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật này, mà còn cần phải đặt trong tổng thể hệ thống pháp luật nói chung, trong đó, cần tăng cường hệ thống hóa pháp luật THADS dưới hình thức tập hợp hóa và pháp điển hóa; sửa đổi, bổ sung kịp thời những quy định pháp luật có liên quan nhằm tạo ra một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về THADS cân đối, hoàn chỉnh, thống nhất, khắc phục tình trạng lỗi thời, mâu thuẫn và những lỗ hổng của hệ thống pháp luật THADS[12].
Hiện nay, THA ở nước ta được điều chỉnh bởi nhiều Luật, như Luật THADS, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật THA hình sự, Luật Tố tụng hành chính... dẫn đến tản mạn, không gắn kết giữa các loại hình THA với nhau và thường rất khó để bảo đảm tất cả các Luật, Bộ luật này thống nhất với nhau nên trong những trường hợp nhất định làm hạn chế hiệu quả THADS, ví dụ như phần THA phạt tù do cơ quan công an quản lý, thực hiện nhưng phần thi hành nghĩa vụ án phí, hình phạt, bồi thường thiệt hại đối với người bị kết án phạt tù lại do cơ quan THADS thực hiện. Do đó, cần sớm ban hành văn bản pháp luật ở hình thức Bộ luật THA điều chỉnh tất cả các lĩnh vực THA, tạo điều kiện thuận lợi trong việc nắm bắt, áp dụng các quy định pháp luật về cưỡng chế THADS liên quan đến các quy định khác về THA. Việc xây dựng Bộ luật THA đã được nhiều công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến. Vì vậy, việc xây dựng Bộ luật THA điều chỉnh tất cả các lĩnh vực THA là một đòi hỏi khách quan cả về mặt lý luận và thực tiễn nhằm thể chế hóa các nghị quyết của Đảng, tạo cơ sở pháp lý để xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật về THA, trong đó có cưỡng chế THADS, khắc phục những điểm bất hợp lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc tồn tại trong thực tiễn cưỡng chế THADS[13].
Để tiếp nối tính liên tục trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, đặc biệt sử dụng những kết quả nghiên cứu đã thực hiện trước đây về lĩnh vực THA, tác giả đề xuất cần tiếp tục nghiên cứu, ban hành một trong những CSPL THADS quan trọng nhất và lớn nhất trong lĩnh vực này đó là ban hành Bộ luật THA thống nhất điều chỉnh tất cả các lĩnh vực THA. Những mục tiêu và nội dung quan trọng của Bộ luật này đó là xây dựng cơ chế quản lý nhà nước thống nhất công tác THA về một đầu mối; tạo sự gắn kết và bảo đảm quản lý chặt chẽ, hiệu quả tất cả các loại hình THA hiện nay gồm THADS, THA hình sự, THA hành chính và các loại hình THA khác; định hình khung bộ máy tổ chức tất cả các lĩnh vực THA; xây dựng những nguyên tắc, cơ chế kiểm tra, thanh tra, kiểm sát và giám sát tất cả các hoạt động THA; xác định mối quan hệ phối hợp và trách nhiệm giữa cơ quan ban hành bản án, quyết định với cơ quan THA; còn lại, những vấn đề có tính chất nghiệp vụ, kỹ thuật, quy trình, thủ tục, hoặc tổ chức bộ máy, cán bộ... sẽ được ban hành thành các luật riêng.

Phạm Quốc Nam
Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An


[1] Báo cáo số 442/BC-CP ngày 01/10/2020 của Chính phủ về kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước, tr. 2, 3, 52.

[2] Báo cáo số 157/BC-TCTHADS ngày 27/6/2019 của Tổng cục THADS tổng kết các nội dung, nhiệm vụ liên quan đến công tác cải cách tư pháp từ năm 2005 đến nay; mục tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2021 - 2030, tr. 22.

[3] Nguyễn Bình, Những nội dung chủ yếu trong dự thảo Bộ luật THA, Số chuyên đề về Bộ luật THA, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, năm 2005, tr. 3.

[4] Hoàng Thọ Khiêm, Thực trạng vướng mắc trong quản lý THADS và những giải pháp tăng cường công tác THADS trong thời gian tới, Số đặc biệt 10 năm công tác THADS (1993 - 2003), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số 4/2003, tr. 25.

[5] Nguyễn Bình, tlđd, tr. 3.

[6] Nguyễn Bình, tlđd, tr. 5.

[7] Bộ Tư pháp, Tài liệu tập huấn nghiệp vụ THADS năm 2009, tr. 6 - 7.

[8] ThS. Nguyễn Công Long, Vấn đề đổi mới các quy định về THADS, Số chuyên đề về Bộ luật THA, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật năm 2005, tr. 25.

[9] Bộ Tư pháp, tlđd, tr. 3, 6 - 7.

[10] Lê Anh Tuấn, Luận án Tiến sỹ Luật học, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cưỡng chế THADS ở Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2017, tr. 137.

[11] Nguyễn Bình, tlđd, tr. 7 - 8.

[12] ThS. Nguyễn Thanh Thủy và ThS. Lê Tuấn Sơn, Pháp lệnh THADS năm 2004 sau ba năm thi hành, Số chuyên đề về THADS, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật năm 2007, tr. 15.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.
Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).
Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.
Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Tóm tắt: Trước yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức và khắc phục những bất cập trong thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, nghiên cứu phân tích dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước1 (dự thảo Luật), trên cơ sở so sánh với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 20172 và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghiên cứu đánh giá những điểm mới của dự thảo Luật, đồng thời, chỉ ra các nội dung cần tiếp tục hoàn thiện như phạm vi trách nhiệm bồi thường, căn cứ yêu cầu bồi thường, nghĩa vụ chứng minh, cơ chế giải quyết và quản trị dữ liệu, từ đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm cơ chế bồi thường của Nhà nước minh bạch, khách quan và khả thi.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng giúp người dân nói chung và các đối tượng đặc thù nói riêng biết, hiểu và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật. Nghiên cứu phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật), tập trung vào các quy định về đối tượng đặc thù, chính sách hỗ trợ, trách nhiệm của các chủ thể, chuyển đổi số, nguồn lực, cơ chế đánh giá và đội ngũ thực hiện. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và so sánh pháp luật. Kết quả cho thấy, dự thảo Luật có nhiều điểm mới như cụ thể hóa nhóm đối tượng đặc thù, phân định trách nhiệm của các chủ thể, bổ sung quy định về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, đồng thời, chú trọng bảo đảm nguồn lực và đánh giá hiệu quả thực hiện. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, một số nội dung dự thảo Luật cần tiếp tục hoàn thiện, gồm tiêu chí xác định đối tượng, chính sách hỗ trợ, chuẩn tiếp cận tối thiểu, cơ chế phối hợp, khả năng tiếp cận trong môi trường số, căn cứ phân bổ nguồn lực, tiêu chí đánh giá và yêu cầu về năng lực của đội ngũ thực hiện. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện dự thảo Luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm triển khai thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của Đảng về đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, thực hiện mô hình quyền địa phương hai cấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, nhiều quy định của Luật bộc lộ những hạn chế, bất cập cả về nội dung và phương thức tổ chức thực hiện. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc xây dựng dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) (dự thảo Luật), qua đó, khẳng định sự cần thiết phải sửa đổi toàn diện Luật nhằm hoàn thiện thể chế về phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường gắn kết giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, đẩy mạnh chuyển đổi số, huy động nguồn lực xã hội và bảo đảm nâng cao hiệu quả quyền tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Bài viết đề xuất hoàn thiện dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo hướng chuyển trọng tâm từ đánh giá kinh nghiệm hành nghề của từng giảng viên sang đánh giá năng lực của cơ sở giáo dục đại học trong việc tổ chức hoạt động đào tạo gắn với thực tiễn.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được Bộ Tư pháp nghiên cứu xây dựng với nhiều nội dung đổi mới quan trọng. Bên cạnh việc sửa đổi các quy định về nguyên tắc quản lý luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước…, dự thảo Luật còn quy định cam kết về tôn trọng tính bảo mật, bảo đảm quyền hành nghề của luật sư. Đây là những nội dung có ý nghĩa quan trọng, góp phần xây dựng môi trường hành nghề minh bạch, chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý và phát huy vai trò của luật sư trong bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Đạo luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc ban hành Luật mới nhằm thay thế toàn bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, giải quyết triệt để những bất cập thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy chính quyền (02 cấp) và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.

Theo dõi chúng tôi trên: