Thứ năm 20/08/2026 03:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện chế định pháp luật về Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013

Chế định Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013 được quy định tại Chương VI với 08 điều, có vai trò phối hợp quyền lực, là bảo đảm quan trọng cho việc thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của Nhà nước và cho hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp trong bộ máy nhà nước. Bài viết này của tác giả Lê Duy Tường đã đi sâu phân tích về vị trí, vai trò của Chủ tịch nước trong bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 2013, cụ thể trong 03 lĩnh vực (lập pháp, hành pháp, tư pháp); hoàn thiện quy định của pháp luật về hoạt động của Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013. Ở nội dung thứ hai, tác giả đã đưa ra kiến nghị về việc xây dựng Luật Chủ tịch nước và hoàn thiện quy định trong các đạo luật có liên quan.


1. Vị trí, vai trò của Chủ tịch nước trong bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 2013
Ở Việt Nam hiện nay, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, các nhánh quyền lực không hoàn toàn độc lập mà có mối quan hệ, phụ thuộc lẫn nhau. Để bảo đảm sử dụng quyền lực nhà nước có hiệu quả thì việc phân công, phân nhiệm giữa các cơ quan quyền lực nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là hết sức quan trọng, trong đó, phải tính đến vai trò của Chủ tịch nước, nguyên thủ quốc gia, vị trí quan trọng nhất trong bộ máy nhà nước.
Chế định Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013 được quy định tại chương VI với 08 điều, có vai trò phối hợp quyền lực, là bảo đảm quan trọng cho việc thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của Nhà nước và cho hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp trong bộ máy nhà nước. Điều 86 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa XHCN Việt Nam về đối nội và đối ngoại”. Vị trí “đứng đầu Nhà nước” là vị trí có vai trò định hướng, lãnh đạo, điều phối hoạt động chung của Nhà nước, đồng thời, cũng thể hiện trách nhiệm lớn lao, nghĩa vụ nặng nề của Chủ tịch nước trong mối quan hệ với nhân dân, các nhà nước và các tổ chức khác. Vị trí “thay mặt nước Cộng hòa XHCN Việt Nam về đối nội và đối ngoại” thể hiện tính thống nhất về quyền lực nhà nước trong mối quan hệ với bên ngoài. Chủ tịch nước không thuộc về một nhánh quyền lực nhà nước cụ thể nào. Nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước quy định tại các Điều 88, 89, 90 Hiến pháp năm 2013 thể hiện vị trí đứng đầu Nhà nước, nguyên thủ quốc gia, thay mặt cho đất nước và thể hiện vai trò điều phối trong 03 nhánh quyền lực, đại diện cho sự tập trung, thống nhất, đoàn kết quốc gia, cụ thể:
Trong lĩnh vực lập pháp, Chủ tịch nước có nhiệm vụ và quyền hạn “Công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh; đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày pháp lệnh được thông qua, nếu pháp lệnh đó vẫn được Ủy ban Thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất” (khoản 1 Điều 88). Quyền của Chủ tịch nước trong lĩnh vực lập pháp còn thể hiện ở việc “Chủ tịch nước có quyền tham dự phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội” (Điều 90).
Trong lĩnh vực hành pháp, Chủ tịch nước có quyền “tham dự phiên họp của Chính phủ” hoặc “yêu cầu Chính phủ họp bàn về vấn đề mà Chủ tịch nước xét thấy cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước” (Điều 90), thể hiện vai trò của Chủ tịch nước trong việc xem xét, quyết định vấn đề lớn trong quản lý, điều hành đất nước phù hợp với tình hình hiện nay có rất nhiều vấn đề lớn gây bức xức trong dư luận cần được Chủ tịch nước thay mặt cho nhân dân, yêu cầu Chính phủ giải quyết. Chủ tịch nước có quyền đề nghị “Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ” (khoản 2 Điều 88); “quyết định phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam” (khoản 5 Điều 88); “căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm; quyết định cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Cộng hòa XHCN Việt Nam; phong hàm, cấp đại sứ” (khoản 5 Điều 88).
Nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước về hành pháp còn thể hiện trong các vấn đề đặc biệt quan trọng của đất nước khi Chủ tịch nước “thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân, giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh...; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, công bố, bãi bỏ quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh; căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp... trong cả nước hoặc ở từng địa phương” (khoản 5 Điều 88); “Hội đồng quốc phòng và an ninh trình Quốc hội quyết định tình trạng chiến tranh, trường hợp Quốc hội không thể họp được thì trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định; động viên mọi lực lượng và khả năng của đất nước để bảo vệ Tổ quốc; thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn đặc biệt do Quốc hội giao trong trường hợp có chiến tranh; quyết định việc lực lượng vũ trang nhân dân tham gia hoạt động góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới” (Điều 89); hoặc trong lĩnh vực đối ngoại, Chủ tịch nước “Tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài;...; quyết định đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước; trình Quốc hội phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế quy định tại khoản 14 Điều 70; quyết định phê chuẩn, gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế khác nhân danh Nhà nước” (khoản 6 Điều 88). Ngoài ra, Chủ tịch nước còn quyết định các vấn đề quan trọng khác là khen thưởng và quốc tịch khi “quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, các giải thưởng nhà nước, danh hiệu vinh dự nhà nước; quyết định cho nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch hoặc tước quốc tịch Việt Nam” (khoản 4 Điều 88).
Trong lĩnh vực tư pháp, Chủ tịch nước có nhiệm vụ và quyền hạn trong việc quyết định nhân sự chủ chốt, nhân sự cấp cao của các cơ quan tư pháp và quyết định việc khoan hồng đặc biệt cho tội phạm và người bị kết án như: “Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán các Tòa án khác, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định đặc xá; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, công bố quyết định đại xá” (khoản 3 Điều 88). Chủ tịch nước cũng có trách nhiệm và nghĩa vụ “báo cáo công tác trước Quốc hội” (Điều 87), thể hiện sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
2. Hoàn thiện quy định của pháp luật về hoạt động của Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013
Sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành, hệ thống pháp luật đã cơ bản được hoàn thiện để đồng bộ với Hiến pháp. Tuy nhiên, hiện có nhiều vướng mắc trong việc xác định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Chủ tịch nước, bởi quy định pháp luật để Chủ tịch nước thực hiện quyền lực của người đứng đầu Nhà nước không tập trung trong một đạo luật riêng, mà nằm rải rác ở nhiều đạo luật như: Luật Tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Quốc phòng, Luật Sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Luật Công an nhân dân, Luật Cảnh sát biển Việt Nam, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Quốc tịch Việt Nam, Luật Thỏa thuận quốc tế, Luật Điều ước quốc tế, Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ở nước ngoài, Luật Đặc xá, Luật Thi đua, khen thưởng... Vấn đề xây dựng Luật về Chủ tịch nước đã được một số đại biểu Quốc hội các khóa trước và một số nhà khoa học, những người làm công tác thực tiễn đề xuất nhưng chưa thực hiện được.
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013 về Chủ tịch nước và xuất phát từ thực tiễn, tác giả thấy rằng cần thiết xây dựng Luật về Chủ tịch nước và hoàn thiện quy định trong các đạo luật có liên quan với các lý do sau:
Thứ nhất, Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước nên chỉ quy định các vấn đề lớn, tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước phải được quy định trong một đạo luật riêng. Hiện nay, tổ chức và hoạt động của các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước đều được điều chỉnh bằng một, thậm chí nhiều đạo luật, thì hoạt động của Chủ tịch nước lại không được điều chỉnh bằng một đạo luật riêng là chưa hợp lý. Việc ban hành Luật về Chủ tịch nước sẽ là khung pháp lý quan trọng để Chủ tịch nước thực hiện tốt nhiệm vụ và quyền hạn của mình.
Thứ hai, nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước trong Hiến pháp năm 2013 là quy định chung, mang tính khái quát. Do đó, đồng thời với việc ban hành Luật về Chủ tịch nước để làm rõ mối quan hệ của Chủ tịch nước với các cơ quan trong bộ máy nhà nước được giao thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các đạo luật có liên quan đến Chủ tịch nước để tạo thành hệ thống pháp luật đồng bộ nhằm triển khai thực hiện và cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về các nội dung sau:
(i) Quyền của Chủ tịch nước tham dự các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các phiên họp của Chính phủ được thực hiện thế nào? Tất cả các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các phiên họp của Chính phủ phải mời Chủ tịch nước tham dự hay chỉ các phiên họp thường kỳ hoặc các phiên họp có nội dung liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước; việc Chủ tịch nước tham dự các phiên họp là tùy nghi hay bắt buộc? Các nội dung này cần được quy định trong Luật về Chủ tịch nước, theo tác giả, cần quy định theo hướng Chủ tịch nước chỉ tham dự các phiên họp có nội dung liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước.
(ii) Trình tự, thủ tục khi Chủ tịch nước yêu cầu Chính phủ họp bàn về vấn đề mà Chủ tịch nước xét thấy cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước? Hiệu lực pháp lý khi Chủ tịch nước yêu cầu Chính phủ họp và thời hạn Chính phủ phải thực hiện? Các nội dung này cần quy định cụ thể khi xây dựng Luật về Chủ tịch nước, vì quy định của Hiến pháp năm 2013 về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ không có điều khoản “ràng buộc” Chính phủ phải có trách nhiệm họp bàn về những vấn đề Chủ tịch nước yêu cầu. Ngoài ra, cần quy định trình tự, thủ tục các phiên họp Chính phủ do Chủ tịch nước yêu cầu; Chủ tịch nước hay Thủ tướng Chính phủ chủ trì? Logic pháp lý thông thường cho thấy, khi Chủ tịch nước chủ trì phiên họp của Chính phủ mới là cơ chế hữu hiệu nhất nhằm “ràng buộc” Chính phủ thảo luận, họp bàn về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước.
(iii) Trình tự, thủ tục khi Chủ tịch nước thực hiện công tác bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức cán bộ trong cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp như: Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ theo Nghị quyết của Quốc hội; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo Nghị quyết của Quốc hội; bổ nhiệm, miễn nhiệm; quyết định cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam tại các nước theo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán các Tòa án khác, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh nêu trên và quy trình cử, triệu hồi đại sứ cần nghiên cứu đưa vào Luật về Chủ tịch nước và đồng bộ với quy định của Đảng và quy định của từng ngành.
(iv) Với vai trò “thống lĩnh lực lượng vũ trang”, Chủ tịch nước có nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể gì để xây dựng và chỉ đạo lực lượng vũ trang về tổ chức, bộ máy và hoạt động? Có nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể gì để điều hành hoạt động quốc phòng và an ninh, nhằm chủ động ứng phó trước những diễn biến phức tạp của tình hình đất nước, đặc biệt là tình trạng khẩn cấp, tình trạng chiến tranh. Liên quan đến vấn đề này, Luật Quốc phòng năm 2018 quy định cụ thể hơn về nguyên tắc, chính sách, hoạt động cơ bản về quốc phòng; tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, thiết quân luật, giới nghiêm; lực lượng vũ trang nhân dân; bảo đảm quốc phòng; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức; quyền và nghĩa vụ của công dân về quốc phòng. Nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước trong Luật Quốc phòng thể hiện ở việc công bố, bãi bỏ quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh; công bố quyết định ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp về quốc phòng; ra lệnh hoặc bãi bỏ lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ra lệnh thiết quân luật (các Điều 17, 18, 19, 21 Luật Quốc phòng năm 2018). Ngoài ra, Chủ tịch nước không có nhiệm vụ và quyền hạn trong xây dựng và chỉ đạo lực lượng vũ trang, điều hành hoạt động quốc phòng và an ninh để tương xứng với vai trò thống lĩnh lực lượng vũ trang. Do vậy, cần xây dựng Luật về Chủ tịch nước và sửa đổi, bổ sung Luật Quốc phòng để cụ thể hóa vai trò thống lĩnh lực lượng vũ trang của Chủ tịch nước, Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh về các nội dung như: “Chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách về quốc phòng; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, kế hoạch phòng thủ đất nước, kế hoạch động viên quốc phòng và bảo đảm cho hoạt động quốc phòng, lực lượng vũ trang nhân dân; chỉ đạo công tác đối ngoại quốc phòng”. Với vai trò nguyên thủ quốc gia, thống lĩnh lực lượng vũ trang, Chủ tịch nước quản lý về đường lối quốc phòng, an ninh; công tác xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân nhằm bảo đảm toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững an ninh quốc gia; bổ nhiệm nhân sự cấp cao trong Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Các vấn đề mang tính sự vụ còn lại sẽ do Chính phủ thực hiện, Chính phủ là cơ quan thường trực giúp Chủ tịch nước trong quản lý công tác quốc phòng, an ninh. Phân công như vậy vừa bảo đảm quyền thống lĩnh các lực lượng vũ trang của Chủ tịch nước, vừa giúp cho Chủ tịch nước có công cụ để kiểm soát hoạt động của các cơ quan nhà nước khác, đặc biệt là kiểm soát hoạt động của các cơ quan hành pháp. Đây là sự phân công quyền lực hợp lý, đáp ứng được yêu cầu kiểm soát quyền lực nhà nước.
(v) Về hoạt động của Hội đồng quốc phòng và an ninh do Chủ tịch nước làm Chủ tịch Hội đồng, theo khoản 1 Điều 89 Hiến pháp năm 2013: “Hội đồng quốc phòng và an ninh làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số”. Tuy nhiên, trong trường hợp vì lý do khách quan, số lượng thành viên Hội đồng là số chẵn, kết quả biểu quyết của Hội đồng ngang nhau thì giải quyết như thế nào? Vấn đề này sẽ được giải quyết khi có Luật về Chủ tịch nước, quy định theo hướng trong trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh, một mặt đề cao hình thức hoạt động tập thể của Hội đồng Quốc phòng và an ninh với việc quyết định theo đa số, mặt khác, cũng tăng cường vai trò cá nhân của Chủ tịch nước với việc thực hiện theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh.
(vi) Chủ tịch nước thay mặt Nhà nước về đối ngoại, có nhiệm vụ, quyền hạn trong việc cử, triệu hồi đại sứ; phong hàm, cấp đại sứ; tiếp nhận đại sứ của nước ngoài; đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước; phê chuẩn, gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế khác nhân danh Nhà nước. Ngoài ra, Chủ tịch nước có nhiệm vụ quyền hạn gì về đường lối đối ngoại, về tổ chức, bộ máy và hoạt động của cơ quan làm công tác đối ngoại cũng cần phải làm rõ khi xây dựng Luật về Chủ tịch nước.
(vii) Điều 93 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Khi Chủ tịch nước không làm việc được trong thời gian dài thì Phó Chủ tịch nước giữ quyền Chủ tịch nước”. Hiến pháp không quy định cụ thể “một thời gian dài” là bao lâu, nhưng khi ban hành Luật về Chủ tịch nước, cần quy định cụ thể nhằm hạn chế tình trạng tùy nghi cũng như đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước.
(viii) Tổ chức, bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng Chủ tịch nước, cơ quan giúp việc cho Chủ tịch nước và giúp việc cho Hội đồng quốc phòng và an ninh do Chủ tịch nước là Chủ tịch Hội đồng cũng cần quy định trong Luật về Chủ tịch nước, thay cho Quyết định của Chủ tịch nước như hiện nay (Quyết định số 585-QĐ/CTN ngày 16/4/2018).
Thứ ba, ban hành Luật về Chủ tịch nước sẽ điều chỉnh một số nhiệm vụ, quyền hạn mà hiện nay Chủ tịch nước đang thực hiện nhưng Hiến pháp năm 2013 không quy định như:
(i) Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước trong việc ra lệnh thiết quân luật, theo đó, “khi an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở một hoặc một số địa phương bị xâm phạm nghiêm trọng tới mức chính quyền ở đó không còn kiểm soát được tình hình thì Chủ tịch nước ra lệnh thiết quân luật theo đề nghị của Chính phủ” (khoản 2 Điều 21 Luật Quốc phòng năm 2018). Hiến pháp năm 2013 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước về việc công bố, bãi bỏ quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, tổng động viên hoặc động viên cục bộ, nhưng không quy định về việc ra lệnh thiết quân luật, nên vấn đề này cần quy định trong Luật về Chủ tịch nước.
(ii) Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước trong việc hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, theo đó, khi có căn cứ hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa án lập hồ sơ kiến nghị Chủ tịch nước hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, gửi đến Bộ Tư pháp, Bộ Tư pháp thẩm tra và báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định (Điều 33, Điều 34 Luật Quốc tịch năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014). Hiến pháp năm 2013 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước trong việc quyết định cho nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch hoặc tước quốc tịch Việt Nam nhưng không quy định về việc hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch, nên vấn đề này cần quy định trong Luật về Chủ tịch nước.
(iii) Quyền của Chủ tịch nước trong việc ân giảm án tử hình được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự, theo đó: “Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước... Trường hợp người bị kết án có đơn xin ân giảm hình phạt tử hình thì bản án tử hình được thi hành sau khi Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm” (khoản 1 Điều 367 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi hành được thực hiện). Nguyên tắc, điều kiện ân giảm, trình tự, thủ tục, thời hạn thực hiện như thế nào, trước khi quyết định ân giảm hoặc bác đơn xin ân giảm cần phải có ý kiến của các cơ quan nào... cũng cần quy định rõ trong Luật về Chủ tịch nước.
Tóm lại, Chủ tịch nước là một thiết chế độc lập, không nằm ở một trong ba bộ phận quyền lực nhà nước là lập pháp, hành pháp, tư pháp, nhưng có cả ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp ở các góc độ khác nhau, ngược lại, Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, đây là một biểu hiện của cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan quyền lực nhà nước ở nước ta. Vai trò rõ nét nhất của Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt Nhà nước về đối nội và đối ngoại, thống lĩnh lực lượng vũ trang. Do đó, việc ban hành Luật về Chủ tịch nước và hoàn thiện quy định pháp luật có liên quan nhằm cụ thể hóa chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp là vấn đề quan trọng và cấp thiết để Chủ tịch nước thực hiện tốt nhiệm vụ và quyền hạn.

ThS. Lê Duy Tường
Vụ Pháp luật, Văn phòng Chủ tịch nước

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.
Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).
Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.
Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Tóm tắt: Trước yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức và khắc phục những bất cập trong thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, nghiên cứu phân tích dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước1 (dự thảo Luật), trên cơ sở so sánh với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 20172 và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghiên cứu đánh giá những điểm mới của dự thảo Luật, đồng thời, chỉ ra các nội dung cần tiếp tục hoàn thiện như phạm vi trách nhiệm bồi thường, căn cứ yêu cầu bồi thường, nghĩa vụ chứng minh, cơ chế giải quyết và quản trị dữ liệu, từ đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm cơ chế bồi thường của Nhà nước minh bạch, khách quan và khả thi.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng giúp người dân nói chung và các đối tượng đặc thù nói riêng biết, hiểu và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật. Nghiên cứu phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật), tập trung vào các quy định về đối tượng đặc thù, chính sách hỗ trợ, trách nhiệm của các chủ thể, chuyển đổi số, nguồn lực, cơ chế đánh giá và đội ngũ thực hiện. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và so sánh pháp luật. Kết quả cho thấy, dự thảo Luật có nhiều điểm mới như cụ thể hóa nhóm đối tượng đặc thù, phân định trách nhiệm của các chủ thể, bổ sung quy định về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, đồng thời, chú trọng bảo đảm nguồn lực và đánh giá hiệu quả thực hiện. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, một số nội dung dự thảo Luật cần tiếp tục hoàn thiện, gồm tiêu chí xác định đối tượng, chính sách hỗ trợ, chuẩn tiếp cận tối thiểu, cơ chế phối hợp, khả năng tiếp cận trong môi trường số, căn cứ phân bổ nguồn lực, tiêu chí đánh giá và yêu cầu về năng lực của đội ngũ thực hiện. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện dự thảo Luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm triển khai thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của Đảng về đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, thực hiện mô hình quyền địa phương hai cấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, nhiều quy định của Luật bộc lộ những hạn chế, bất cập cả về nội dung và phương thức tổ chức thực hiện. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc xây dựng dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) (dự thảo Luật), qua đó, khẳng định sự cần thiết phải sửa đổi toàn diện Luật nhằm hoàn thiện thể chế về phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường gắn kết giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, đẩy mạnh chuyển đổi số, huy động nguồn lực xã hội và bảo đảm nâng cao hiệu quả quyền tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Bài viết đề xuất hoàn thiện dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo hướng chuyển trọng tâm từ đánh giá kinh nghiệm hành nghề của từng giảng viên sang đánh giá năng lực của cơ sở giáo dục đại học trong việc tổ chức hoạt động đào tạo gắn với thực tiễn.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được Bộ Tư pháp nghiên cứu xây dựng với nhiều nội dung đổi mới quan trọng. Bên cạnh việc sửa đổi các quy định về nguyên tắc quản lý luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước…, dự thảo Luật còn quy định cam kết về tôn trọng tính bảo mật, bảo đảm quyền hành nghề của luật sư. Đây là những nội dung có ý nghĩa quan trọng, góp phần xây dựng môi trường hành nghề minh bạch, chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý và phát huy vai trò của luật sư trong bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Đạo luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc ban hành Luật mới nhằm thay thế toàn bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, giải quyết triệt để những bất cập thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy chính quyền (02 cấp) và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.

Theo dõi chúng tôi trên: