![]() |
| Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tú chủ trì phiên họp Hội đồng thẩm định độc lập dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về áp dụng cơ chế đặc thù điều chỉnh nội dung giấy phép khai thác khoáng sản than |
Việc xây dựng Nghị quyết xuất phát từ yêu cầu cấp thiết trong thực tiễn khi hoạt động khai thác than đang đối mặt với nhiều khó khăn, vướng mắc do các quy định pháp luật hiện hành chưa thực sự linh hoạt, chưa theo kịp yêu cầu phát triển và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Trong bối cảnh nhu cầu than phục vụ sản xuất, phát điện ngày càng tăng, việc điều chỉnh công suất khai thác tại các mỏ đang hoạt động là giải pháp khả thi, nhanh chóng hơn so với việc cấp phép mới.
Theo đó, hiện nay, việc điều chỉnh nội dung giấy phép khai thác khoáng sản, trong đó có điều chỉnh công suất, vẫn phải thực hiện theo quy trình, thủ tục tương đối phức tạp, kéo dài, thậm chí phải thực hiện lại một số bước đã được thẩm định trước đó. Điều này dẫn đến chậm trễ trong việc nâng cao năng lực khai thác, chưa tận dụng hiệu quả hạ tầng, thiết bị sẵn có của doanh nghiệp, làm giảm hiệu quả khai thác tài nguyên.
Trên cơ sở đó, cơ quan chủ trì soạn thảo đề xuất ban hành Nghị quyết áp dụng cơ chế đặc thù theo hướng cho phép điều chỉnh tăng công suất khai thác than ngay trong giấy phép đã cấp, nhưng với điều kiện chặt chẽ, kiểm soát được các yếu tố về môi trường, an toàn và hiệu quả khai thác. Việc tăng công suất được giới hạn trong một tỷ lệ nhất định, đồng thời không làm thay đổi các yếu tố căn bản như diện tích khai thác, trữ lượng được phép khai thác hay quy hoạch đã được phê duyệt.
Đáng chú ý, việc xây dựng Nghị quyết được thực hiện trên các quan điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, đáp ứng kịp thời nhu cầu sử dụng than làm nhiên liệu, nguyên liệu cho sản xuất điện và các ngành công nghiệp nền tảng trong bối cảnh nguồn cung năng lượng có nhiều yếu tố rủi ro.
Thứ hai, tận dụng tối đa năng lực thiết bị, công nghệ, nhân lực và hạ tầng khai thác hiện có của các tổ chức, cá nhân đang khai thác than hợp pháp; qua đó nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản, giảm thời gian chuyển trạng thái từ năng lực sẵn có sang sản lượng thực tế.
Thứ ba, chỉ áp dụng đối với trường hợp điều chỉnh tăng công suất ở mức hạn chế, tối đa không quá 15% công suất ghi trong giấy phép đã cấp; việc điều chỉnh này không làm thay đổi bản chất dự án, không mở rộng diện tích khu vực khai thác, không làm thay đổi trữ lượng được phép khai thác, không làm thay đổi cơ bản công nghệ khai thác và không làm gia tăng đáng kể tác động tiêu cực đến môi trường.
Thứ tư, cơ chế đặc thù được thiết kế theo hướng kế thừa hồ sơ, kết quả thẩm định đã có; rút gọn, tích hợp quy trình xử lý thủ tục hành chính; không đặt ra yêu cầu thực hiện lại các thủ tục đã được xem xét, phê duyệt trước đó, trừ trường hợp có thay đổi đáng kể về môi trường, an toàn hoặc công nghệ theo quy định của pháp luật.
Thứ năm, bảo đảm quản lý chặt chẽ tài nguyên khoáng sản, nghĩa vụ tài chính của tổ chức, cá nhân đối với Nhà nước, các yêu cầu về kỹ thuật an toàn, an toàn lao động và bảo vệ môi trường; đồng thời bảo đảm công khai, minh bạch, không tạo ra lợi thế cạnh tranh không bình đẳng giữa các tổ chức, cá nhân.
Tại phiên họp, các thành viên Hội đồng thẩm định tập trung cho ý kiến toàn diện đối với dự thảo Nghị quyết, trong đó chú trọng đánh giá sự cần thiết ban hành; các tiêu chí, nguyên tắc cũng như quy trình, trình tự, thủ tục xây dựng theo tinh thần của Nghị quyết số 206/2023/QH15 của Quốc hội về cơ chế xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật; bảo đảm sự phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; đồng thời xem xét tính tương thích với các điều ước quốc tế và yêu cầu về phân cấp, phân quyền.
Kết luận phiên họp, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tú đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp thu đầy đủ ý kiến của Hội đồng thẩm định, tiếp tục hoàn thiện Tờ trình và dự thảo Nghị quyết.