Thứ sáu 06/03/2026 06:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện Hệ thống đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm bằng động sản - Những yêu cầu đặt ra[1]

Hiệu quả của hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm và cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm đã được đăng ký trở thành điều kiện cả về nghiệp vụ và pháp lý để các chủ thể cung ứng vốn trên thị trường kịp thời giải ngân cho các khoản vay có bảo đảm bằng tài sản cho người dân, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu vốn của hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng; giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền có cơ sở hoạch định kịp thời chính sách cho thị trường và trong giải quyết các vụ việc liên quan.

1. Đặt vấn đề

1.1. Bản chất của đăng ký biện pháp bảo đảm là để minh bạch hóa về tài sản được dùng để bảo đảm, về chủ thể nhận bảo đảm và về chủ thể bảo đảm; xác lập hiệu lực công khai, hiệu lực đối kháng của biện pháp bảo đảm với người thứ ba. Trên cơ sở đó, thực hiện, bảo vệ quyền truy đòi của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm khi tài sản này bị chuyển dịch cho chủ thể khác mà không có căn cứ pháp luật hoặc không có sự đồng ý của bên nhận bảo đảm; thực hiện, bảo vệ quyền được ưu tiên thanh toán của bên nhận bảo đảm trước bên nhận bảo đảm khác hoặc trước người có quyền khác trên cùng một tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật; bảo đảm sự minh bạch, ổn định về giao dịch trên thị trường và trong quản lý nhà nước có liên quan.

Với bản chất pháp lý như trên, hiệu quả của hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm và cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm đã được đăng ký trở thành điều kiện cả về nghiệp vụ và pháp lý để các chủ thể cung ứng vốn trên thị trường kịp thời giải ngân cho các khoản vay có bảo đảm bằng tài sản cho người dân, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu vốn của hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng; giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền có cơ sở hoạch định kịp thời chính sách cho thị trường và trong giải quyết các vụ việc liên quan.

Trong bối cảnh đó, sự tương thích, linh hoạt về “hệ sinh thái” của hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm, trong đó có đăng ký trực tuyến để hỗ trợ hiệu quả hơn đối với thị trường vốn, thị trường khác có liên quan trong nền kinh tế, chiến lược chuyển đổi số của Chính phủ, của hệ thống thương mại, tài chính nói riêng ngày càng trở thành yêu cầu khách quan trên cả phương diện thị trường và quản lý nhà nước, nhất là về tính minh bạch, an toàn, thuận lợi, kỷ luật và chuẩn mực giám sát các khoản vay có bảo đảm, tài sản bảo đảm và các giao dịch liên quan trong nền kinh tế.

1.2. Nhận thức rõ được vị trí, vai trò quan trọng về chức năng, nhiệm vụ giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về đăng ký biện pháp bảo đảm và thực hiện cung cấp dịch vụ công về đăng ký biện pháp bảo đảm bằng động sản không phải là tàu bay, tàu biển, chứng khoán đã đăng ký tập trung (sau đây gọi chung là động sản), Bộ Tư pháp đã tham mưu Chính phủ hoàn thiện hành lang pháp lý về đăng ký biện pháp bảo đảm nói chung, đăng ký trực tuyến, xây dựng, quản lý, kết nối cơ sở dữ liệu và cung cấp thông tin nói riêng, đồng thời, luôn chủ động hoàn thiện chất lượng cung cấp dịch vụ công về đăng ký biện pháp bảo đảm bằng động sản theo hướng minh bạch, hiệu quả, thuận lợi, chi phí thấp trên nền tảng trực tuyến và số hóa cơ sở dữ liệu. Thực tế, dịch vụ đăng ký biện pháp bảo đảm tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp, từ năm 2017, đã đạt mức độ 4 - mức độ cao nhất trong cung cấp dịch vụ công trực tuyến; áp dụng chữ ký điện tử cho tất cả kết quả đăng ký, cung cấp thông tin trực tuyến và đã tích hợp thành công, chính thức đi vào hoạt động trên Cổng dịch vụ công quốc gia từ ngày 22/9/2022.

1.3. Mặc dù việc số hóa trong đăng ký biện pháp bảo đảm bằng động sản đã tiệm cận mức độ khá cao so với mặt bằng chung tại Việt Nam và trong khu vực nhưng vẫn còn những bất cập, hạn chế của hệ thống này về việc hỗ trợ hiệu quả cho đăng ký, cung cấp thông tin trên đa phương tiện (chẳng hạn, thực hiện qua ứng dụng phần mềm điện thoại…); chưa hỗ trợ tiện dụng, đa dạng các phương thức thanh toán phí không dùng tiền mặt; chưa liên thông hoặc liên thông chưa đầy đủ với các hệ thống giao dịch điện tử của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có liên quan, với giao dịch trực tuyến, hệ thống dữ liệu liên quan trong thị trường tài chính, thị trường hàng hóa (các ngân hàng, chủ thể cung ứng vốn khác, trung tâm lưu ký chứng khoán, sàn giao dịch hàng hóa, đăng ký tài sản…); chưa đủ năng lực cung cấp báo cáo số liệu tổng hợp có tính phân tích, đánh giá và dự báo theo lĩnh vực, phạm vi tài sản bảo đảm, giao dịch có bảo đảm…

Có thể nhận thấy một số nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến những bất cập nêu trên, như:

(i) Thể chế về đăng ký biện pháp bảo đảm, trong đó, chuyển đổi số còn chưa đầy đủ, thiếu ổn định về cơ sở pháp lý. Hiện tại, cơ sở pháp lý điều chỉnh trực tiếp và cao nhất trong đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm mới ở tầm nghị định, trong khi công tác này liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của nhiều bộ, ngành và các địa phương; liên quan đến công nhận, thực hiện quyền, giới hạn thực hiện quyền của người dân, doanh nghiệp, chủ thể khác trong các chuỗi cung ứng vốn nói riêng và trong nền kinh tế nói chung; liên quan đến tổ chức, hoạt động của các thiết chế đăng ký và nguồn nhân lực, kinh phí cho tổ chức, hoạt động của các thiết chế này.

(ii) Việc xây dựng, hoàn thiện cơ sở hạ tầng số, hệ thống phần mềm có năng lực đáp ứng đầy đủ các nội dung trên nền tảng số hóa cần kinh phí lớn, trong khi sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước còn hạn hẹp.

(iii) Cơ sở hạ tầng số, hệ thống phần mềm về giao dịch trực tuyến và cơ sở dữ liệu giữa đăng ký biện pháp bảo đảm với các hệ thống khác trong các thị trường tài chính, hàng hóa, bất động sản…, hoặc trong hệ thống quản lý của các cơ quan có thẩm quyền còn chưa dựa trên nền tảng chung, tính tương thích, liên kết chưa cao.

(iv) Nguồn nhân lực, năng lực quản trị và năng lực triển khai công tác chuyển đổi số trong cung cấp dịch vụ công về đăng ký biện pháp bảo đảm còn nhiều hạn chế, khó khăn do chưa có cơ chế và thiết chế phù hợp.

(v) Đối với một số lĩnh vực, việc số hóa đăng ký biện pháp bảo đảm phụ thuộc chặt chẽ vào kết quả và hiệu quả của số hóa thông tin về tài sản, giao dịch liên quan (ví dụ, phương tiện giao thông); phụ thuộc vào hiệu quả của việc chuyển đổi số trong hệ thống công chứng, chứng thực giao dịch, đấu giá, giám định, tố tụng và thi hành án. Trong khi đó, đây là những lĩnh vực mà Việt Nam hoặc chưa thực hiện, hoặc thực hiện nhưng mới chỉ tiệm cận một phần, chưa đầy đủ, đồng bộ và thống nhất.

2. Một số yêu cầu đặt ra trong hoàn thiện hệ thống đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm bằng động sản

2.1. Bám sát, tuân thủ tuyệt đối quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về phát triển kinh tế số, công nghệ số và về phát triển Chính phủ điện tử. Trong đó, tuân thủ, vận dụng linh hoạt, hiệu quả 06 nhiệm vụ trọng tâm quốc gia được Chính phủ xác định tại Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 - 2025 vào trong cung cấp dịch vụ công về đăng ký biện pháp bảo đảm bằng động sản, gồm: (i) Hoàn thiện môi trường pháp lý; (ii) Phát triển hạ tầng số; (iii) Phát triển các nền tảng số và hệ thống quy mô quốc gia; (iv) Phát triển dữ liệu số quốc gia; (v) Phát triển các ứng dụng, dịch vụ quốc gia; (vi) Bảo đảm an toàn, an ninh mạng quốc gia.

2.2. Nghiên cứu, tham mưu và đề xuất việc bổ sung nhiệm vụ lập pháp mới về xây dựng Luật Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cần được xác định là nhiệm vụ chính trị được thực hiện nghiêm túc hướng tới xây dựng cơ sở pháp lý, môi trường pháp lý vừa ổn định, đồng bộ, thống nhất hơn, vừa có tính bao trùm hơn đối với yêu cầu phát triển, hoàn thiện hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm nói chung, đăng ký trực tuyến nói riêng và yêu cầu phát triển của các thiết chế liên quan thuộc hệ thống đăng ký này.

Đồng thời, Chính phủ, Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan khác có liên quan cần luôn quan tâm rà soát, đánh giá và có giải pháp hoàn thiện, khả thi hóa cơ chế pháp lý thúc đẩy hiệu quả của đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm nói chung, biện pháp bảo đảm bằng động sản nói riêng thuộc thẩm quyền lập pháp, lập quy của bộ, ngành, địa phương mình, theo nguyên tắc: Tập trung tháo gỡ khó khăn về thể chế theo hướng cấp nào ban hành cấp đó phải tháo gỡ; huy động, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển; tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, vận hành đồng bộ theo nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, nhất là về quy hoạch, đầu tư, kinh doanh, đất đai, tài chính, ngân sách, tài sản công, thuế; thị trường tiền tệ, chứng khoán, bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp; mở rộng, nâng cao chất lượng thị trường lao động, thị trường khoa học công nghệ…

Trong yêu cầu về công tác thể chế nêu trên, một trong các nội dung trọng tâm cần được xác định là, bên cạnh bảo đảm sự phát triển nội tại của hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm thì cũng cần phải bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất với thể chế về xây dựng Chính phủ điện tử, Tòa án điện tử, số hóa đăng ký tài sản, số hóa công chứng giao dịch, các hoạt động bổ trợ tư pháp khác cũng như với thương mại điện tử, tài chính số, ngân hàng số…

2.3. Chuyển đổi số trong đăng ký biện pháp bảo đảm bằng động sản phải nằm trong tổng thể định hướng và xu thế phát triển của nền kinh tế số, công nghệ số và các chuỗi cung ứng hàng hóa, cung ứng vốn tại Việt Nam và dịch chuyển xuyên biên giới trong hội nhập quốc tế. Xác định chuyển đổi số trong đăng ký biện pháp bảo đảm bằng động sản tại Bộ Tư pháp phải đồng bộ với cả các hệ thống trong và ngoài Bộ Tư pháp, phải toàn diện đối với tất cả các loại tài sản bảo đảm (không chỉ động sản thuộc thẩm quyền của các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm mà còn đối với tàu bay, tàu biển, chứng khoán đã đăng ký tập trung, bất động sản, khai thác, sử dụng tài nguyên biển) và trên cả 03 phương diện: (i) Hoàn thiện mô hình, phương thức cung cấp dịch vụ công; (ii) Hỗ trợ các chủ thể trong bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và tất cả các dạng thức khách hàng khác; (iii) Quản trị, vận hành, kết nối, chia sẻ hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm và trong quản lý nhà nước.

Trong đó, Bộ Tư pháp và các bộ, cơ quan khác liên quan cần tiếp tục hoàn thiện, phát triển các kết quả đạt được và mở rộng hợp lý phạm vi chuyển đổi số về đăng ký biện pháp bảo đảm nói chung và bằng động sản nói riêng về các nội dung sau:

Một là, nâng mức độ số hóa đăng ký biện pháp bảo đảm bằng động sản lên mức có thể đáp ứng đầy đủ mọi thủ tục, giao dịch trên nền tảng số để người dân, doanh nghiệp có thể thực hiện việc đăng ký, yêu cầu cung cấp thông tin trên nền tảng đa phương tiện; có thể thanh toán phí không bằng tiền mặt một cách linh hoạt bằng mọi phương thức hợp pháp; có khả năng liên thông, kết nối, chia sẻ dữ liệu về tài sản bảo đảm với hệ thống trực tuyến của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, với hệ thống giao dịch, hệ thống dữ liệu trong thị trường tài chính, thị trường hàng hóa (các ngân hàng, chủ thể cung ứng vốn khác, trung tâm lưu ký chứng khoán, sàn giao dịch hàng hóa, đăng ký tài sản…); có thể cung cấp báo cáo số liệu tổng hợp có tính phân tích, đánh giá và dự báo theo lĩnh vực, phạm vi tài sản bảo đảm, nghĩa vụ có bảo đảm để dự báo kịp thời hoặc hoạch định kịp thời về giao dịch, thị trường vốn và phát triển kinh tế - xã hội…

Hai là, thực hiện chuyển đổi số đăng ký trong lĩnh vực tài sản khác (tàu bay, tàu biển, chứng khoán đã đăng ký tập trung, bất động sản, khai thác, sử dụng tài nguyên biển) theo cơ chế linh hoạt, áp dụng từng bước theo lĩnh vực, khu vực đã có đủ điều kiện thực tế và pháp lý để thực hiện. Trên cơ sở đó, từng bước thực hiện quản lý, kết nối, chia sẻ dữ liệu số giữa các hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm về tài sản bảo đảm, giao dịch liên quan và trong quản lý, kết nối, chia sẻ dữ liệu số với hệ thống Tòa án điện tử, hệ thống thi hành án điện tử, hệ thống công chứng giao dịch, các hoạt động bổ trợ tư pháp, quản lý nhà nước khác có liên quan.

Ba là, xác định chính sách xây dựng, phát triển nguồn nhân lực trong chuyển đổi số nói chung, cung cấp dịch vụ công về đăng ký biện pháp bảo đảm nói riêng là nội dung có tính bản lề, quan trọng nhất, bao gồm cả công tác quản trị, lãnh đạo, thiết chế thực hiện và sự kết hợp chặt chẽ giữa con người với hệ thống công nghệ.

Bốn là, đầu tư và phát triển hệ thống hạ tầng số đồng bộ, trên nền tảng công nghệ, hệ thống phần mềm có năng lực cao trong đáp ứng yêu cầu phát triển về quản lý, xác lập, thực hiện dịch vụ, giao dịch về kết nối, lưu trữ, xử lý dữ liệu, thông tin, các chức năng về giám sát, bảo đảm an ninh, an toàn mạng.

Hệ thống này cũng phải bảo đảm tính tương thích cao về kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu với hệ thống hạ tầng số, hệ thống phần mềm trong các lĩnh vực: Đăng ký biện pháp bảo đảm khác nhau; đăng ký tài sản, công chứng giao dịch, đấu giá, thẩm định giá; giao dịch trong thị trường tài chính, thị trường hàng hóa; tố tụng Tòa án, tố tụng trọng tài, thi hành án và quản lý nhà nước có liên quan, nhất là lĩnh vực quản lý về định danh, địa vị pháp lý của cá nhân, tổ chức.

Năm là, xây dựng và thực hiện các giải pháp đồng bộ, thống nhất, khả thi về chuyển đổi số trong cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm, giúp người dân và doanh nghiệp, nhất là các chủ thể cung ứng vốn trên thị trường có được đầy đủ thông tin minh bạch, thuận lợi, kịp thời và an toàn trong xác định tài sản dùng để bảo đảm các khoản vay và trong xác lập, thực hiện hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm nói chung và trên nền tảng số nói riêng.

Sáu là, tăng cường hợp tác quốc tế phù hợp về hệ thống hạ tầng số và hệ thống phần mềm trong đăng ký biện pháp bảo đảm để vừa nâng cao được hiệu quả của hệ thống đăng ký, vừa cập nhật xu thế phát triển mới về công nghệ, kinh tế số, đáp ứng kịp thời, đầy đủ yêu cầu về hội nhập quốc tế, nhất là trong lĩnh vực tài chính, tín dụng, hàng hóa và logistics.

Nguyễn Hồng Hải

Phó Cục trưởng Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp

[1]. Chuyên đề này có tham khảo, sử dụng nội dung bài viết cùng tác giả, “Mảnh ghép” chuyển đổi số giao dịch bảo đảm, Đặc san Toàn cảnh thị trường ngân hàng năm 2022.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 387), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.
Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Trong không khí xuân Bính Ngọ năm 2026, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tiếp tục được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm với nhiều chính sách mang tính đột phá. Ngày 09/9/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 72-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với sức khỏe của người dân hướng đến mục tiêu xây dựng nước Việt Nam khỏe mạnh, mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe, sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh, nâng cao thể chất, tinh thần và chủ động phòng ngừa bệnh tật trong toàn xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới. Đồng chí Đào Hồng Lan, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh, sức khỏe của người dân phải được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Những chia sẻ của Bộ trưởng mở ra bức tranh toàn diện về định hướng chăm sóc sức khỏe suốt đời, từ phòng bệnh chủ động, giảm chi phí y tế, đến xây dựng hệ thống y tế công bằng, bền vững cho mọi người dân.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là sự kiện chính trị trọng đại, là dấu mốc quan trọng trên con đường phát triển đất nước, khởi điểm lịch sử mới của dân tộc Việt Nam sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Để tạo nền tảng chính trị xác định tầm nhìn chiến lược và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Văn kiện Đại hội Đảng khóa XIV có nhiều điểm mới, đột phá.
Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Thể chế, pháp luật và lợi thế cạnh tranh quốc gia có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Hệ thống thể chế, pháp luật được xây dựng đồng bộ, thống nhất khả thi, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng và có sức cạnh tranh trong hội nhập. Đồng thời, để giữ lợi thế cạnh tranh quốc gia trong hội nhập, hệ thống thể chế, pháp luật phải được quan tâm hoàn thiện để “đánh thức” mọi tiềm năng, thế mạnh, khơi thông và thu hút nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện những giải pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia mình trong nền kinh tế toàn cầu. Trong suốt hành trình hơn 80 năm qua, Bộ Tư pháp xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, luôn được Đảng, Nhà nước giao trọng trách thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc nhận diện đầy đủ và phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập là rất cần thiết, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu cao về hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường pháp lý và thúc đẩy hội nhập, việc rà soát, đánh giá và hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bài viết phân tích mâu thuẫn hiện hành trong quy định pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, làm rõ nguyên nhân từ góc độ kỹ thuật lập pháp và tư duy điều chỉnh; đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả của pháp luật về hợp đồng, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển và tạo đột phá chiến lược được đặt ra với tính cấp thiết và chiều sâu chưa từng có. Đột phá thể chế không chỉ là yêu cầu cải cách quản lý, mà là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với năng lực phát triển, sức cạnh tranh và bản lĩnh tự chủ của nền kinh tế quốc gia trong giai đoạn mới. Trên cơ sở tiếp cận thể chế như hạ tầng mềm của phát triển, bài viết phân tích vai trò trung tâm của đột phá thể chế - đặc biệt là thể chế bảo đảm thực hiện pháp luật hiệu quả, nghiêm minh và nhất quán - đối với việc hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030. Thông qua làm rõ những điểm mới về thể chế trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết khẳng định: chỉ khi nâng cao thực chất hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật, thể chế mới thực sự trở thành nền móng cải cách và động lực nội sinh cho phát triển nhanh, bền vững.
Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an đã xây dựng hồ sơ đề nghị xây dựng Luật An ninh mạng theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Dự thảo Luật gồm 09 chương với 58 điều, đang được thảo luận tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV; đã có 70 lượt đại biểu phát biểu ý kiến tại tổ (ngày 31/10/2025), 15 lượt đại biểu phát biểu tại hội trường (ngày 06/11/2025) và 05 Đoàn đại biểu Quốc hội gửi ý kiến bằng văn bản.
Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia, phát triển kinh tế số, chuyển đổi số quốc gia, khắc phục sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) và Luật An ninh mạng năm 2018, dự án Luật An ninh mạng đã được xây dựng trên cơ sở hợp nhất 02 luật nêu trên và đang được Quốc hội khóa XV xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 10.
Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; đồng thời, bổ sung một số nội dung mới để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là một trong những hình thức hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, đồng thời, mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc.
Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó.
Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Việc xây dựng Luật Tương trợ tư pháp về dân sự là yêu cầu cấp thiết khách quan, nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay trong hoạt động TTTP nói chung và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 nói riêng, đáp ứng yêu cầu của công tác này trong tình hình mới.
Bàn về việc sử dụng thuật ngữ “tương trợ tư pháp” thay thế thuật ngữ “ủy thác tư pháp” trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự

Bàn về việc sử dụng thuật ngữ “tương trợ tư pháp” thay thế thuật ngữ “ủy thác tư pháp” trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự

Hiện, Bộ Tư pháp đang dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự (dự thảo Luật). Trong chế định tương trợ tư pháp về dân sự, thuật ngữ “ủy thác tư pháp” được sử dụng tương đối phổ biến. Nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng thuật ngữ “ủy thác tư pháp” để thiết lập các quy phạm điều chỉnh lĩnh vực tương trợ tư pháp về dân sự là không phù hợp và dự thảo Luật không sử dụng thuật ngữ này là hợp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: