Thứ bảy 24/10/2026 11:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh ở Việt Nam: Nhìn từ đại dịch Covid-19

Trước những diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 ở cả trong và ngoài nước, Việt Nam đã phải tính tới khả năng ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, qua trao đổi, thảo luận với Bộ Y tế, Bộ Tư pháp đã có Công văn số 297/BTP-PLHSHC ngày 31/01/2020, báo cáo Thủ tướng Chính phủ về cơ sở pháp lý để có thể sẵn sàng công bố tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh viêm đường hô hấp do chủng mới của virus Corona gây ra khi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công bố tình trạng khẩn cấp y tế toàn cầu.

1. Tình trạng khẩn cấp trong lịch sử lập pháp và khoa học pháp lý thế giới

Trong khoa học pháp lý toàn thế giới, tình trạng khẩn cấp đã có một lịch sử lâu dài. Những tư liệu cổ về pháp luật của đế quốc La Mã đã ghi nhận về khái niệm justitium - xuất phát từ từ nguyên Latin juris statio[1]. Đây là một hình thức sơ khai của tình trạng khẩn cấp, khi các thiết chế dân sự như Tòa án, kho bạc và nghị viện bị đình chỉ hoạt động theo lệnh của các cơ quan quản lý nhà nước. Trạng thái justitium thường được ban bố khi một quan chấp chính tối cao của đế chế qua đời, hoặc khi có tin tức về một cuộc chiến tranh xâm lược chống lại nhà nước La Mã.

Theo các thông lệ quốc tế, tình trạng khẩn cấp (state of emergency) là một tình huống cho phép chính quyền có thể ban hành những chính sách hoặc thực hiện những hành động mà thông thường không được phép thực hiện, nhân danh lợi ích công cộng. Lý do ban bố tình trạng khẩn cấp là các thảm họa lớn do nhân tố tự nhiên hoặc nhân tạo gây ra, như chiến tranh, xung đột, thiên tai, động đất, cháy rừng, tràn dầu, dịch bệnh… Do hoàn cảnh khó khăn và tính chất khẩn cấp của thảm họa, nên chính quyền cần phải ban hành những chính sách đặc thù để huy động những nguồn lực xã hội để kịp thời ứng phó và khắc phục hậu quả của thảm họa. Những chính sách được chính quyền ban hành trong tình trạng khẩn cấp có thể hạn chế một phần hay toàn bộ một số quyền tự do của người dân, cũng như kích hoạt những cơ chế phản ứng khẩn cấp để đối phó với thảm họa.

Ngày nay, tình trạng khẩn cấp được thừa nhận rộng rãi cả trong khoa học pháp lý trên toàn thế giới, cũng như trong các văn kiện chính trị - pháp lý toàn cầu. Điển hình là Điều 4 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (International Covenant on Civil and Political Rights - ICCPR) năm 1966 mà Việt Nam là thành viên có quy định: Trong thời gian có tình trạng khẩn cấp xảy ra đe dọa sự sống còn của quốc gia và đã được chính thức công bố, các quốc gia thành viên có thể áp dụng những biện pháp hạn chế các quyền nêu ra trong Công ước này, trong chừng mực do nhu cầu khẩn cấp của tình hình, với điều kiện những biện pháp này không trái với những nghĩa vụ khác của quốc gia đó xuất phát từ luật pháp quốc tế và không chứa đựng bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo hoặc nguồn gốc xã hội.

Theo ICCPR 1966, trong thời gian tình trạng khẩn cấp, các quốc gia thành viên Công ước có quyền áp dụng những biện pháp hạn chế các quyền dân sự và chính trị được quy định trong Công ước. Tuy nhiên, các biện pháp này phải chịu những giới hạn sau đây:

Thứ nhất, chỉ được áp dụng các biện pháp hạn chế quyền trong chừng mực do nhu cầu khẩn cấp của tình hình;

Thứ hai, các biện pháp hạn chế quyền trong tình trạng khẩn cấp không được trái với những nghĩa vụ khác của quốc gia, được quy định trong pháp luật quốc tế;

Thứ ba, các biện pháp hạn chế quyền trong tình trạng khẩn cấp không được quy định bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo hoặc nguồn gốc xã hội;

Thứ tư, ngay cả trong tình trạng khẩn cấp, cũng không thể hạn chế một số quyền được qui định bởi ICCPR 1966, như quyền sống (Điều 6), quyền không bị tra tấn, đối xử và trừng phạt tàn ác (Điều 7), quyền không bị bắt làm nô lệ hoặc bắt nô dịch (Điều 8)…

2. Tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh trong quy định của pháp luật Việt Nam

Tại Việt Nam, các quy định sơ bộ về tình trạng khẩn cấp (nói chung) đã xuất hiện từ Hiến pháp năm 1992. Riêng về vấn đề tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh, hiện nay, ở nước ta có khá nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định, như: Hiến pháp năm 2013, Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp năm 2000, Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2007…

Về mặt thẩm quyền, căn cứ văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất là Hiến pháp năm 2013, có hai chủ thể có thẩm quyền ban bố tình trạng khẩn cấp nói chung (bao gồm tình trạng khẩn cấp về dịch nói riêng): Đó là Ủy ban thường vụ Quốc hội (cơ quan thường trực của cơ quan đại biểu dân cử, mang quyền lực nhà nước tối cao) và Chủ tịch nước (nguyên thủ quốc gia). Ủy ban thường vụ Quốc hội có thể trực tiếp quyết định ban bố và bãi bỏ tình trạng khẩn cấp[2]; hoặc ban hành nghị quyết để Chủ tịch nước ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp. Khi Ủy ban thường vụ Quốc hội không thể họp được, thì Chủ tịch nước trực tiếp ra lệnh công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp[3]. Như vậy, “quyền ưu tiên” ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp thuộc về Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước chỉ tiến hành việc này theo ủy quyền bằng nghị quyết, hoặc khi không thể triệu tập họp Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về căn cứ ban bố hoặc bãi bỏ tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh, căn cứ Điều 42 Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2007, việc ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh diễn ra khi dịch bệnh lây lan nhanh trên diện rộng, đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe con người và kinh tế - xã hội của đất nước. Việc ban bố hay bãi bỏ tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh phải công khai, chính xác, kịp thời và đúng thẩm quyền. Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước ban bố hoặc bãi bỏ tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ.

Nội dung ban bố tình trạng khẩn cấp khi có dịch (theo Điều 43 Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm) bao gồm các nội dung: (i) Lý do ban bố tình trạng khẩn cấp; (ii) Địa bàn trong tình trạng khẩn cấp; (iii) Ngày, giờ bắt đầu tình trạng khẩn cấp; và (iv) Thẩm quyền tổ chức thi hành nghị quyết hoặc lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp.

Để đảm bảo thông tin kịp thời về tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh đến toàn bộ nhân dân cả nước, Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm dành Điều 45 để quy định về đưa tin trong tình trạng khẩn cấp về dịch. Theo đó, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Báo Nhân dân, Báo Quân đội nhân dân có trách nhiệm đăng ngay toàn văn nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc lệnh của Chủ tịch nước ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch, các quyết định của Thủ tướng Chính phủ tổ chức thi hành nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc lệnh của Chủ tịch nước ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch; đưa tin kịp thời về các biện pháp đã được áp dụng tại địa bàn có tình trạng khẩn cấp và tình hình khắc phục hậu quả dịch; đăng toàn văn nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc lệnh của Chủ tịch nước bãi bỏ tình trạng khẩn cấp về dịch.

Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc lệnh của Chủ tịch nước ban bố hoặc bãi bỏ tình trạng khẩn cấp về dịch cũng được niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan, tổ chức và nơi công cộng.

Các phương tiện thông tin đại chúng khác ở trung ương và địa phương có trách nhiệm đưa tin về việc ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp về dịch và quá trình khắc phục hậu quả dịch.

3. Sự chồng chéo trong quy định pháp luật về tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh

Trong vấn đề tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh, ở Việt Nam hiện nay đang diễn ra tình trạng “song trùng điều chỉnh” - khi tồn tại hai hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cùng điều chỉnh một vấn đề:

Hệ thống thứ nhất là Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp năm 2000, được hướng dẫn bởi Nghị định số 71/2002/NĐ-CP ngày 23/07/2002 của Chính phủ, quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp trong trường hợp có thảm họa lớn, dịch bệnh nguy hiểm.

Hệ thống thứ hai là Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2007, được hướng dẫn bởi Nghị định số 101/2010/NĐ-CP ngày 30/09/2010 của Chính phủ, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về áp dụng biện pháp cách ly y tế, cưỡng chế cách ly y tế và chống dịch đặc thù trong thời gian có dịch.

Do những khoảng cách về thời gian, cũng như những vấn đề về kỹ thuật lập pháp khác, mà giữa hai hệ thống văn bản này tồn tại những sự chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn lẫn nhau trong quy định về cùng một vấn đề:

Về sử dụng khái niệm, Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp năm 2000 và Nghị định số 71/2002/NĐ-CP sử dụng các khái niệm “biện pháp đặc biệt trong tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh nguy hiểm”, “đội công tác chống dịch khẩn cấp”, “đội cấp cứu lưu động”; trong khi Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2000 và Nghị định số 101/2010/NĐ-CP lại sử dụng các khái niệm “các biện pháp được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp về dịch”, “đội chống dịch cơ động”. Nhiều khái niệm trong các văn bản trên đây không được giải thích rõ ràng.

Về nội hàm quy định, cũng có rất nhiều điểm mâu thuẫn trong quy định về các biện pháp trong tình trạng khẩn cấp về dịch giữa hai hệ thống văn bản nói trên. Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2007 quy định một số biện pháp như: (i) Tổ chức cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh (Điều 48); (ii) Tổ chức cách ly y tế (Điều 49); (iii) Hạn chế ra vào vùng có dịch (điểm a khoản 1 Điều 53)… là những biện pháp chống dịch thông thường (được phép áp dụng khi có dịch, mà không cần phải ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch). Trong khi đó, căn cứ theo các điều 21, 22, và 24 Nghị định số 71/2002/NĐ-CP, thì đây lại là các “biện pháp đặc biệt” được áp dụng trong “tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh nguy hiểm”.

Thậm chí, Nghị định số 71/2002/NĐ-CP chỉ cho phép “tạm thời đình chỉ hoạt động của các cơ sở dịch vụ ăn uống công cộng không đủ điều kiện bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm” (khoản 5 Điều 25); trong khi đó, Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2007 cho phép “tạm đình chỉ hoạt động của cơ sở dịch vụ ăn uống công cộng có nguy cơ làm lây truyền bệnh dịch tại vùng có dịch” (điểm a khoản 1 Điều 52) mà không cần chứng minh về việc cơ sở đó không đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm (chỉ cần có căn cứ khoa học về nguy cơ làm lây truyền dịch bệnh).

Những sự chồng chéo trong quy định trên đây gây khó khăn rất lớn cho việc hiểu và áp dụng các quy định này trên thực tế. Đây là tình huống điển hình cho việc các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề. Để giải quyết vấn đề này, cần lựa chọn một trong hai hệ thống văn bản quy phạm pháp luật kể trên để ưu tiên áp dụng. Căn cứ theo Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, có thể thấy: Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2007 là văn bản luật, có hiệu lực pháp lý cao hơn so với Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp năm 2000. Nghị định số 101/2010/NĐ-CP được ban hành sau Nghị định số 71/2002/NĐ-CP về mặt thời gian. Vì vậy, cần phải ưu tiên áp dụng Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2007 và Nghị định số 101/2010/NĐ-CP trong việc thực hiện các biện pháp trong tình trạng khẩn cấp về dịch. Điều này cũng rất hợp lý, vì Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm là văn bản pháp lý có tính chất chuyên ngành, điều chỉnh trực tiếp vấn đề tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh.

Chưa kể đến việc, căn cứ theo Điều 70 (khoản 13) và Điều 74 (khoản 10) Hiến pháp năm 2013, thì Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền quy định về tình trạng khẩn cấp, Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ có thẩm quyền ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp. Điều này đặt ra dấu hỏi lớn về hiệu lực pháp lý của Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp năm 2000 (được ban hành bởi Ủy ban thường vụ Quốc hội).

4. Những tồn tại trong quy định của Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2007 về tình trạng khẩn cấp do dịch, bệnh

Những chồng chéo, mâu thuẫn về pháp lý về tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh không chỉ xuất hiện giữa hai hệ thống văn bản, mà ngay cả trong phạm vi các quy định của Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2007 cũng có những vướng mắc gây khó khăn trong áp dụng trên thực tế.

Về tổng thể, hệ thống các biện pháp chống dịch được quy định tại Mục 3, Chương 4 (từ Điều 46 đến Điều 56) của Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm được chia làm hai cấp độ: (i) Biện pháp chống dịch thông thường; (ii) Biện pháp chống dịch trong tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh. Căn cứ theo Điều 54 Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2007, thì khi tình trạng khẩn cấp về dịch được ban bố, thì ngoài các biện pháp chống dịch thông thường, Ban chỉ đạo chống dịch quốc gia có thể áp dụng thêm một số biện pháp chống dịch đặc biệt khác.

Khi đối chiếu hai cấp độ của các biện pháp chống dịch, có thể thấy sự không rõ ràng, có dấu hiệu trùng lặp giữa một số biện pháp chống dịch thông thường.

Ví dụ 1: Tại điểm a khoản 1 Điều 53 Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm đã có quy định về các biện pháp kiểm soát ra, vào vùng có dịch đối với bệnh dịch thuộc nhóm A (như dịch Covid-19), như: (i) Hạn chế ra, vào vùng có dịch đối với người và phương tiện; trường hợp cần thiết phải kiểm tra, giám sát và xử lý y tế; (ii) Cấm đưa ra khỏi vùng có dịch những vật phẩm, động vật, thực vật, thực phẩm và hàng hóa khác có khả năng lây truyền bệnh dịch… Trong khi đó, Điều 54 lại có quy định về các biện pháp chống dịch trong tình trạng khẩn cấp như: (i) Đặt biển báo hiệu, trạm gác và hướng dẫn việc đi lại tránh vùng có dịch; (ii) Yêu cầu kiểm tra và xử lý y tế đối với phương tiện vận tải trước khi ra khỏi vùng có dịch; (iii) Cấm người, phương tiện không có nhiệm vụ vào ổ dịch. Về mặt bản chất, các quy định này đều đề cập đến việc hạn chế di chuyển của người và phương tiện giao thông ra vào vùng có dịch, mà không có sự khác biệt trên thực tế.

Ví dụ 2: Điểm c khoản 1 Điều 50 Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2007 có quy định về biện pháp tiêu hủy động vật, thực phẩm và các vật khác là trung gian truyền bệnh (trong vùng có dịch). Biện pháp này gần như tương tự với biện pháp “tiêu hủy động vật, thực phẩm và các vật khác có nguy cơ làm lây lan bệnh dịch sang người” tại điểm g khoản 2 Điều 54 của Luật này. Khi dịch bệnh lan rộng trên quy mô cả nước, thì hai biện pháp này có hiệu quả thực tế tương đương với nhau.

Ví dụ 3: Giữa hai biện pháp “hạn chế tập trung đông người” (điểm c khoản 1 Điều 52) và “cấm tập trung đông người” (điểm d khoản 2 Điều 54) không có sự khác biệt lớn về mặt nội hàm. Trên lý thuyết về ngôn ngữ, thì “hạn chế” có thể là cấp độ thấp hơn của “cấm”; nhưng trên thực tế, Điều 17 Nghị định số 101/2010/NĐ-CP hướng dẫn về “hạn chế tập trung đông người” không làm rõ được sự khác biệt về mặt mức độ giữa hai khái niệm kể trên. Nói cách khác, hai biện pháp này là tương đương với nhau về hiệu quả thực tế.

Qua thực tiễn chống dịch Covid-19 tại Việt Nam, có thể thấy rằng sự chồng chéo và bất hợp lý trong các quy định về các biện pháp chống dịch đã dẫn đến thực tế đáng lo ngại: Mặc dù trong giai đoạn tháng 04/2020, Việt Nam chỉ đang trong giai đoạn “tiền khẩn cấp” (lời Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trong cuộc họp Thường trực Chính phủ chiều ngày 31/03/2020); nhưng trên thực tế Việt Nam đã phải áp dụng nhiều biện pháp chống dịch có nội hàm “tình trạng khẩn cấp”. Điều này khiến cho Nhà nước không còn đủ dư địa chính sách cho một tình huống tình trạng khẩn cấp về dịch có thể xảy ra. Điều này làm mất đi ý nghĩa của quy định về tình trạng khẩn cấp trên thực tế - là trạng thái pháp lý cho phép Nhà nước áp dụng các biện pháp đặc thù để huy động các nguồn lực xã hội và kích hoạt các cơ chế khẩn cấp để chống dịch.

5. Những định hướng và giải pháp hoàn thiện mô hình chính sách cho tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh

Nguyên nhân của những sự chồng chéo pháp lý kể trên là do những hạn chế về kỹ thuật lập pháp, cũng như do thiếu những tiêu chí xác định nội hàm và bản chất của khái niệm tình trạng khẩn cấp nói chung, tình trạng khẩn cấp về dịch nói riêng.

Về lý thuyết, tình trạng khẩn cấp là một tình huống được công bố bởi cơ quan có thẩm quyền, khi mà thảm họa vượt quá khả năng ứng phó thông thường của chính quyền, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng đến đời sống con người và các hoạt động kinh tế - xã hội. Tình huống đó đòi hỏi chính quyền phải kích hoạt những cơ chế ứng phó khẩn cấp, cũng như áp dụng những biện pháp ứng phó theo hướng hạn chế một số quyền tự do của người dân, huy động theo hình thức trưng mua, trưng dụng những nguồn lực xã hội để kịp thời ứng phó và khắc phục hậu quả của thảm họa, dịch bệnh.

Để hoàn thiện chính sách pháp luật của Việt Nam về tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh, cần thực hiện một số giải pháp như sau:

Thứ nhất, cần thống nhất các quy định của pháp luật, thống nhất việc sử dụng các thuật ngữ, khái niệm, để tránh chồng chéo, vướng mắc trong áp dụng trên thực tế. Tác giả đề xuất lấy Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm làm căn cứ để thống nhất áp dụng, nhưng cần phải tiến hành một số sửa đổi cần thiết.

Thứ hai, cần hoàn thiện và hệ thống hóa các biện pháp chống dịch của Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm. Mô hình mà Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm hiện nay đang lựa chọn phân chia các biện pháp chống dịch thành hai mức độ, đó là các biện pháp chống dịch thông thường và các biện pháp chống dịch đặc biệt trong tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh. Mô hình này đúng về cấu trúc, nhưng cần hoàn thiện hơn về chi tiết, bằng cách hệ thống hóa và phân loại các biện pháp chống dịch theo hai tiêu chí:

(i) Tiêu chí tính chất: Một số biện pháp chống dịch chỉ được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp như trưng mua, trưng dụng tài sản có bồi thường, trưng dụng đất. Các biện pháp này hạn chế ở mức độ cao các quyền con người, quyền công dân cơ bản, nên chỉ có thể được áp dụng trong những tình huống cấp bách, ngặt nghèo nhất và cũng đòi hỏi những thủ tục pháp lý cao hơn các biện pháp chống dịch thông thường.

(ii) Tiêu chí mức độ: Một số biện pháp chống dịch chỉ được áp dụng trên quy mô lớn, phạm vi rộng, thời gian dài khi tình trạng khẩn cấp đã được ban bố. Nói cách khác, một biện pháp chống dịch có thể được mở rộng phạm vi áp dụng về đối tượng, không gian và thời gian, khi có tình trạng khẩn cấp.

Ví dụ: Chỉ được thực hiện cách ly, phong tỏa, vệ sinh, diệt trùng, tẩy uế trên phạm vi trên quy mô toàn bộ quận, huyện trong tình trạng khẩn cấp. Còn trong tình huống có dịch thông thường, chỉ có thể thực hiện các biện pháp nói trên ở quy mô xã, phường, thị trấn. Hoặc trong tình huống dịch bệnh thông thường, có thể áp dụng các biện pháp hạn chế một phần hoạt động đi lại trong thời gian tối đa 15 ngày (không gia hạn); còn trong tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh, có thể cấm hoàn toàn việc đi lại, đình chỉ hoạt động các cơ sở sản xuất kinh doanh (trừ những trường hợp khẩn cấp) trong tối đa 30 ngày (và có thể gia hạn).

Trên cơ sở phân loại theo những tiêu chí nêu trên, có thể hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động chống dịch, hình thành hệ thống các biện pháp chống dịch hoàn chỉnh, có độ rộng và chiều sâu; có dư địa chính sách cho các biện pháp chống dịch thông thường và các biện pháp chống dịch đặc biệt trong tình trạng khẩn cấp về dịch.

Thứ ba, trong xây dựng pháp luật về tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh, cần nhận thức rõ ràng đây không chỉ đơn thuần là một sự kiện pháp lý, mà còn gây ra những ảnh hưởng về chính trị và truyền thông trong dư luận nhân dân. Ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch có thể dẫn đến những phản ứng tiêu cực của người dân, như “tháo chạy” khỏi vùng dịch, mua gom, đầu cơ, tích tữ hàng hóa… Đây cũng là một yếu tố cần cân nhắc trong xây dựng pháp luật về vấn đề này. Bên cạnh công tác đưa tin của các cơ quan thông tin đại chúng, rất cần có cơ chế và quy định pháp luật để huy động sự vào cuộc toàn diện của hệ thống chính trị ở tất cả các cấp, nhằm phổ biến, giáo dục, tuyên truyền, vận động nhân dân nghiêm túc chấp hành chính sách tình trạng khẩn cấp của Nhà nước, lạc quan, tin tưởng, không hoảng loạn trong dịch bệnh.

Lương Lê Minh

Trường Đại học Luật Hà Nội


[1] Smith, William; Wayte, William; Marindin, G.E, A Dictionary of Greek and Roman Antiquities, Tập 1, London: John Murray, 1890, tr. 1052.

[2] Khoản 10 Điều 74 Hiến pháp năm 2013.

[3] Khoản 5 Điều 88 Hiến pháp năm 2013.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: