Thứ năm 05/03/2026 15:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh ở Việt Nam: Nhìn từ đại dịch Covid-19

Trước những diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 ở cả trong và ngoài nước, Việt Nam đã phải tính tới khả năng ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, qua trao đổi, thảo luận với Bộ Y tế, Bộ Tư pháp đã có Công văn số 297/BTP-PLHSHC ngày 31/01/2020, báo cáo Thủ tướng Chính phủ về cơ sở pháp lý để có thể sẵn sàng công bố tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh viêm đường hô hấp do chủng mới của virus Corona gây ra khi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công bố tình trạng khẩn cấp y tế toàn cầu.

1. Tình trạng khẩn cấp trong lịch sử lập pháp và khoa học pháp lý thế giới

Trong khoa học pháp lý toàn thế giới, tình trạng khẩn cấp đã có một lịch sử lâu dài. Những tư liệu cổ về pháp luật của đế quốc La Mã đã ghi nhận về khái niệm justitium - xuất phát từ từ nguyên Latin juris statio[1]. Đây là một hình thức sơ khai của tình trạng khẩn cấp, khi các thiết chế dân sự như Tòa án, kho bạc và nghị viện bị đình chỉ hoạt động theo lệnh của các cơ quan quản lý nhà nước. Trạng thái justitium thường được ban bố khi một quan chấp chính tối cao của đế chế qua đời, hoặc khi có tin tức về một cuộc chiến tranh xâm lược chống lại nhà nước La Mã.

Theo các thông lệ quốc tế, tình trạng khẩn cấp (state of emergency) là một tình huống cho phép chính quyền có thể ban hành những chính sách hoặc thực hiện những hành động mà thông thường không được phép thực hiện, nhân danh lợi ích công cộng. Lý do ban bố tình trạng khẩn cấp là các thảm họa lớn do nhân tố tự nhiên hoặc nhân tạo gây ra, như chiến tranh, xung đột, thiên tai, động đất, cháy rừng, tràn dầu, dịch bệnh… Do hoàn cảnh khó khăn và tính chất khẩn cấp của thảm họa, nên chính quyền cần phải ban hành những chính sách đặc thù để huy động những nguồn lực xã hội để kịp thời ứng phó và khắc phục hậu quả của thảm họa. Những chính sách được chính quyền ban hành trong tình trạng khẩn cấp có thể hạn chế một phần hay toàn bộ một số quyền tự do của người dân, cũng như kích hoạt những cơ chế phản ứng khẩn cấp để đối phó với thảm họa.

Ngày nay, tình trạng khẩn cấp được thừa nhận rộng rãi cả trong khoa học pháp lý trên toàn thế giới, cũng như trong các văn kiện chính trị - pháp lý toàn cầu. Điển hình là Điều 4 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (International Covenant on Civil and Political Rights - ICCPR) năm 1966 mà Việt Nam là thành viên có quy định: Trong thời gian có tình trạng khẩn cấp xảy ra đe dọa sự sống còn của quốc gia và đã được chính thức công bố, các quốc gia thành viên có thể áp dụng những biện pháp hạn chế các quyền nêu ra trong Công ước này, trong chừng mực do nhu cầu khẩn cấp của tình hình, với điều kiện những biện pháp này không trái với những nghĩa vụ khác của quốc gia đó xuất phát từ luật pháp quốc tế và không chứa đựng bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo hoặc nguồn gốc xã hội.

Theo ICCPR 1966, trong thời gian tình trạng khẩn cấp, các quốc gia thành viên Công ước có quyền áp dụng những biện pháp hạn chế các quyền dân sự và chính trị được quy định trong Công ước. Tuy nhiên, các biện pháp này phải chịu những giới hạn sau đây:

Thứ nhất, chỉ được áp dụng các biện pháp hạn chế quyền trong chừng mực do nhu cầu khẩn cấp của tình hình;

Thứ hai, các biện pháp hạn chế quyền trong tình trạng khẩn cấp không được trái với những nghĩa vụ khác của quốc gia, được quy định trong pháp luật quốc tế;

Thứ ba, các biện pháp hạn chế quyền trong tình trạng khẩn cấp không được quy định bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo hoặc nguồn gốc xã hội;

Thứ tư, ngay cả trong tình trạng khẩn cấp, cũng không thể hạn chế một số quyền được qui định bởi ICCPR 1966, như quyền sống (Điều 6), quyền không bị tra tấn, đối xử và trừng phạt tàn ác (Điều 7), quyền không bị bắt làm nô lệ hoặc bắt nô dịch (Điều 8)…

2. Tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh trong quy định của pháp luật Việt Nam

Tại Việt Nam, các quy định sơ bộ về tình trạng khẩn cấp (nói chung) đã xuất hiện từ Hiến pháp năm 1992. Riêng về vấn đề tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh, hiện nay, ở nước ta có khá nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định, như: Hiến pháp năm 2013, Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp năm 2000, Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2007…

Về mặt thẩm quyền, căn cứ văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất là Hiến pháp năm 2013, có hai chủ thể có thẩm quyền ban bố tình trạng khẩn cấp nói chung (bao gồm tình trạng khẩn cấp về dịch nói riêng): Đó là Ủy ban thường vụ Quốc hội (cơ quan thường trực của cơ quan đại biểu dân cử, mang quyền lực nhà nước tối cao) và Chủ tịch nước (nguyên thủ quốc gia). Ủy ban thường vụ Quốc hội có thể trực tiếp quyết định ban bố và bãi bỏ tình trạng khẩn cấp[2]; hoặc ban hành nghị quyết để Chủ tịch nước ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp. Khi Ủy ban thường vụ Quốc hội không thể họp được, thì Chủ tịch nước trực tiếp ra lệnh công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp[3]. Như vậy, “quyền ưu tiên” ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp thuộc về Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước chỉ tiến hành việc này theo ủy quyền bằng nghị quyết, hoặc khi không thể triệu tập họp Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về căn cứ ban bố hoặc bãi bỏ tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh, căn cứ Điều 42 Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2007, việc ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh diễn ra khi dịch bệnh lây lan nhanh trên diện rộng, đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe con người và kinh tế - xã hội của đất nước. Việc ban bố hay bãi bỏ tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh phải công khai, chính xác, kịp thời và đúng thẩm quyền. Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước ban bố hoặc bãi bỏ tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ.

Nội dung ban bố tình trạng khẩn cấp khi có dịch (theo Điều 43 Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm) bao gồm các nội dung: (i) Lý do ban bố tình trạng khẩn cấp; (ii) Địa bàn trong tình trạng khẩn cấp; (iii) Ngày, giờ bắt đầu tình trạng khẩn cấp; và (iv) Thẩm quyền tổ chức thi hành nghị quyết hoặc lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp.

Để đảm bảo thông tin kịp thời về tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh đến toàn bộ nhân dân cả nước, Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm dành Điều 45 để quy định về đưa tin trong tình trạng khẩn cấp về dịch. Theo đó, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Báo Nhân dân, Báo Quân đội nhân dân có trách nhiệm đăng ngay toàn văn nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc lệnh của Chủ tịch nước ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch, các quyết định của Thủ tướng Chính phủ tổ chức thi hành nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc lệnh của Chủ tịch nước ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch; đưa tin kịp thời về các biện pháp đã được áp dụng tại địa bàn có tình trạng khẩn cấp và tình hình khắc phục hậu quả dịch; đăng toàn văn nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc lệnh của Chủ tịch nước bãi bỏ tình trạng khẩn cấp về dịch.

Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc lệnh của Chủ tịch nước ban bố hoặc bãi bỏ tình trạng khẩn cấp về dịch cũng được niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan, tổ chức và nơi công cộng.

Các phương tiện thông tin đại chúng khác ở trung ương và địa phương có trách nhiệm đưa tin về việc ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp về dịch và quá trình khắc phục hậu quả dịch.

3. Sự chồng chéo trong quy định pháp luật về tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh

Trong vấn đề tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh, ở Việt Nam hiện nay đang diễn ra tình trạng “song trùng điều chỉnh” - khi tồn tại hai hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cùng điều chỉnh một vấn đề:

Hệ thống thứ nhất là Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp năm 2000, được hướng dẫn bởi Nghị định số 71/2002/NĐ-CP ngày 23/07/2002 của Chính phủ, quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp trong trường hợp có thảm họa lớn, dịch bệnh nguy hiểm.

Hệ thống thứ hai là Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2007, được hướng dẫn bởi Nghị định số 101/2010/NĐ-CP ngày 30/09/2010 của Chính phủ, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về áp dụng biện pháp cách ly y tế, cưỡng chế cách ly y tế và chống dịch đặc thù trong thời gian có dịch.

Do những khoảng cách về thời gian, cũng như những vấn đề về kỹ thuật lập pháp khác, mà giữa hai hệ thống văn bản này tồn tại những sự chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn lẫn nhau trong quy định về cùng một vấn đề:

Về sử dụng khái niệm, Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp năm 2000 và Nghị định số 71/2002/NĐ-CP sử dụng các khái niệm “biện pháp đặc biệt trong tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh nguy hiểm”, “đội công tác chống dịch khẩn cấp”, “đội cấp cứu lưu động”; trong khi Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2000 và Nghị định số 101/2010/NĐ-CP lại sử dụng các khái niệm “các biện pháp được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp về dịch”, “đội chống dịch cơ động”. Nhiều khái niệm trong các văn bản trên đây không được giải thích rõ ràng.

Về nội hàm quy định, cũng có rất nhiều điểm mâu thuẫn trong quy định về các biện pháp trong tình trạng khẩn cấp về dịch giữa hai hệ thống văn bản nói trên. Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2007 quy định một số biện pháp như: (i) Tổ chức cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh (Điều 48); (ii) Tổ chức cách ly y tế (Điều 49); (iii) Hạn chế ra vào vùng có dịch (điểm a khoản 1 Điều 53)… là những biện pháp chống dịch thông thường (được phép áp dụng khi có dịch, mà không cần phải ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch). Trong khi đó, căn cứ theo các điều 21, 22, và 24 Nghị định số 71/2002/NĐ-CP, thì đây lại là các “biện pháp đặc biệt” được áp dụng trong “tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh nguy hiểm”.

Thậm chí, Nghị định số 71/2002/NĐ-CP chỉ cho phép “tạm thời đình chỉ hoạt động của các cơ sở dịch vụ ăn uống công cộng không đủ điều kiện bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm” (khoản 5 Điều 25); trong khi đó, Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2007 cho phép “tạm đình chỉ hoạt động của cơ sở dịch vụ ăn uống công cộng có nguy cơ làm lây truyền bệnh dịch tại vùng có dịch” (điểm a khoản 1 Điều 52) mà không cần chứng minh về việc cơ sở đó không đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm (chỉ cần có căn cứ khoa học về nguy cơ làm lây truyền dịch bệnh).

Những sự chồng chéo trong quy định trên đây gây khó khăn rất lớn cho việc hiểu và áp dụng các quy định này trên thực tế. Đây là tình huống điển hình cho việc các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề. Để giải quyết vấn đề này, cần lựa chọn một trong hai hệ thống văn bản quy phạm pháp luật kể trên để ưu tiên áp dụng. Căn cứ theo Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, có thể thấy: Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2007 là văn bản luật, có hiệu lực pháp lý cao hơn so với Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp năm 2000. Nghị định số 101/2010/NĐ-CP được ban hành sau Nghị định số 71/2002/NĐ-CP về mặt thời gian. Vì vậy, cần phải ưu tiên áp dụng Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2007 và Nghị định số 101/2010/NĐ-CP trong việc thực hiện các biện pháp trong tình trạng khẩn cấp về dịch. Điều này cũng rất hợp lý, vì Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm là văn bản pháp lý có tính chất chuyên ngành, điều chỉnh trực tiếp vấn đề tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh.

Chưa kể đến việc, căn cứ theo Điều 70 (khoản 13) và Điều 74 (khoản 10) Hiến pháp năm 2013, thì Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền quy định về tình trạng khẩn cấp, Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ có thẩm quyền ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp. Điều này đặt ra dấu hỏi lớn về hiệu lực pháp lý của Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp năm 2000 (được ban hành bởi Ủy ban thường vụ Quốc hội).

4. Những tồn tại trong quy định của Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2007 về tình trạng khẩn cấp do dịch, bệnh

Những chồng chéo, mâu thuẫn về pháp lý về tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh không chỉ xuất hiện giữa hai hệ thống văn bản, mà ngay cả trong phạm vi các quy định của Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2007 cũng có những vướng mắc gây khó khăn trong áp dụng trên thực tế.

Về tổng thể, hệ thống các biện pháp chống dịch được quy định tại Mục 3, Chương 4 (từ Điều 46 đến Điều 56) của Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm được chia làm hai cấp độ: (i) Biện pháp chống dịch thông thường; (ii) Biện pháp chống dịch trong tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh. Căn cứ theo Điều 54 Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2007, thì khi tình trạng khẩn cấp về dịch được ban bố, thì ngoài các biện pháp chống dịch thông thường, Ban chỉ đạo chống dịch quốc gia có thể áp dụng thêm một số biện pháp chống dịch đặc biệt khác.

Khi đối chiếu hai cấp độ của các biện pháp chống dịch, có thể thấy sự không rõ ràng, có dấu hiệu trùng lặp giữa một số biện pháp chống dịch thông thường.

Ví dụ 1: Tại điểm a khoản 1 Điều 53 Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm đã có quy định về các biện pháp kiểm soát ra, vào vùng có dịch đối với bệnh dịch thuộc nhóm A (như dịch Covid-19), như: (i) Hạn chế ra, vào vùng có dịch đối với người và phương tiện; trường hợp cần thiết phải kiểm tra, giám sát và xử lý y tế; (ii) Cấm đưa ra khỏi vùng có dịch những vật phẩm, động vật, thực vật, thực phẩm và hàng hóa khác có khả năng lây truyền bệnh dịch… Trong khi đó, Điều 54 lại có quy định về các biện pháp chống dịch trong tình trạng khẩn cấp như: (i) Đặt biển báo hiệu, trạm gác và hướng dẫn việc đi lại tránh vùng có dịch; (ii) Yêu cầu kiểm tra và xử lý y tế đối với phương tiện vận tải trước khi ra khỏi vùng có dịch; (iii) Cấm người, phương tiện không có nhiệm vụ vào ổ dịch. Về mặt bản chất, các quy định này đều đề cập đến việc hạn chế di chuyển của người và phương tiện giao thông ra vào vùng có dịch, mà không có sự khác biệt trên thực tế.

Ví dụ 2: Điểm c khoản 1 Điều 50 Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2007 có quy định về biện pháp tiêu hủy động vật, thực phẩm và các vật khác là trung gian truyền bệnh (trong vùng có dịch). Biện pháp này gần như tương tự với biện pháp “tiêu hủy động vật, thực phẩm và các vật khác có nguy cơ làm lây lan bệnh dịch sang người” tại điểm g khoản 2 Điều 54 của Luật này. Khi dịch bệnh lan rộng trên quy mô cả nước, thì hai biện pháp này có hiệu quả thực tế tương đương với nhau.

Ví dụ 3: Giữa hai biện pháp “hạn chế tập trung đông người” (điểm c khoản 1 Điều 52) và “cấm tập trung đông người” (điểm d khoản 2 Điều 54) không có sự khác biệt lớn về mặt nội hàm. Trên lý thuyết về ngôn ngữ, thì “hạn chế” có thể là cấp độ thấp hơn của “cấm”; nhưng trên thực tế, Điều 17 Nghị định số 101/2010/NĐ-CP hướng dẫn về “hạn chế tập trung đông người” không làm rõ được sự khác biệt về mặt mức độ giữa hai khái niệm kể trên. Nói cách khác, hai biện pháp này là tương đương với nhau về hiệu quả thực tế.

Qua thực tiễn chống dịch Covid-19 tại Việt Nam, có thể thấy rằng sự chồng chéo và bất hợp lý trong các quy định về các biện pháp chống dịch đã dẫn đến thực tế đáng lo ngại: Mặc dù trong giai đoạn tháng 04/2020, Việt Nam chỉ đang trong giai đoạn “tiền khẩn cấp” (lời Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trong cuộc họp Thường trực Chính phủ chiều ngày 31/03/2020); nhưng trên thực tế Việt Nam đã phải áp dụng nhiều biện pháp chống dịch có nội hàm “tình trạng khẩn cấp”. Điều này khiến cho Nhà nước không còn đủ dư địa chính sách cho một tình huống tình trạng khẩn cấp về dịch có thể xảy ra. Điều này làm mất đi ý nghĩa của quy định về tình trạng khẩn cấp trên thực tế - là trạng thái pháp lý cho phép Nhà nước áp dụng các biện pháp đặc thù để huy động các nguồn lực xã hội và kích hoạt các cơ chế khẩn cấp để chống dịch.

5. Những định hướng và giải pháp hoàn thiện mô hình chính sách cho tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh

Nguyên nhân của những sự chồng chéo pháp lý kể trên là do những hạn chế về kỹ thuật lập pháp, cũng như do thiếu những tiêu chí xác định nội hàm và bản chất của khái niệm tình trạng khẩn cấp nói chung, tình trạng khẩn cấp về dịch nói riêng.

Về lý thuyết, tình trạng khẩn cấp là một tình huống được công bố bởi cơ quan có thẩm quyền, khi mà thảm họa vượt quá khả năng ứng phó thông thường của chính quyền, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng đến đời sống con người và các hoạt động kinh tế - xã hội. Tình huống đó đòi hỏi chính quyền phải kích hoạt những cơ chế ứng phó khẩn cấp, cũng như áp dụng những biện pháp ứng phó theo hướng hạn chế một số quyền tự do của người dân, huy động theo hình thức trưng mua, trưng dụng những nguồn lực xã hội để kịp thời ứng phó và khắc phục hậu quả của thảm họa, dịch bệnh.

Để hoàn thiện chính sách pháp luật của Việt Nam về tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh, cần thực hiện một số giải pháp như sau:

Thứ nhất, cần thống nhất các quy định của pháp luật, thống nhất việc sử dụng các thuật ngữ, khái niệm, để tránh chồng chéo, vướng mắc trong áp dụng trên thực tế. Tác giả đề xuất lấy Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm làm căn cứ để thống nhất áp dụng, nhưng cần phải tiến hành một số sửa đổi cần thiết.

Thứ hai, cần hoàn thiện và hệ thống hóa các biện pháp chống dịch của Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm. Mô hình mà Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm hiện nay đang lựa chọn phân chia các biện pháp chống dịch thành hai mức độ, đó là các biện pháp chống dịch thông thường và các biện pháp chống dịch đặc biệt trong tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh. Mô hình này đúng về cấu trúc, nhưng cần hoàn thiện hơn về chi tiết, bằng cách hệ thống hóa và phân loại các biện pháp chống dịch theo hai tiêu chí:

(i) Tiêu chí tính chất: Một số biện pháp chống dịch chỉ được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp như trưng mua, trưng dụng tài sản có bồi thường, trưng dụng đất. Các biện pháp này hạn chế ở mức độ cao các quyền con người, quyền công dân cơ bản, nên chỉ có thể được áp dụng trong những tình huống cấp bách, ngặt nghèo nhất và cũng đòi hỏi những thủ tục pháp lý cao hơn các biện pháp chống dịch thông thường.

(ii) Tiêu chí mức độ: Một số biện pháp chống dịch chỉ được áp dụng trên quy mô lớn, phạm vi rộng, thời gian dài khi tình trạng khẩn cấp đã được ban bố. Nói cách khác, một biện pháp chống dịch có thể được mở rộng phạm vi áp dụng về đối tượng, không gian và thời gian, khi có tình trạng khẩn cấp.

Ví dụ: Chỉ được thực hiện cách ly, phong tỏa, vệ sinh, diệt trùng, tẩy uế trên phạm vi trên quy mô toàn bộ quận, huyện trong tình trạng khẩn cấp. Còn trong tình huống có dịch thông thường, chỉ có thể thực hiện các biện pháp nói trên ở quy mô xã, phường, thị trấn. Hoặc trong tình huống dịch bệnh thông thường, có thể áp dụng các biện pháp hạn chế một phần hoạt động đi lại trong thời gian tối đa 15 ngày (không gia hạn); còn trong tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh, có thể cấm hoàn toàn việc đi lại, đình chỉ hoạt động các cơ sở sản xuất kinh doanh (trừ những trường hợp khẩn cấp) trong tối đa 30 ngày (và có thể gia hạn).

Trên cơ sở phân loại theo những tiêu chí nêu trên, có thể hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động chống dịch, hình thành hệ thống các biện pháp chống dịch hoàn chỉnh, có độ rộng và chiều sâu; có dư địa chính sách cho các biện pháp chống dịch thông thường và các biện pháp chống dịch đặc biệt trong tình trạng khẩn cấp về dịch.

Thứ ba, trong xây dựng pháp luật về tình trạng khẩn cấp do dịch bệnh, cần nhận thức rõ ràng đây không chỉ đơn thuần là một sự kiện pháp lý, mà còn gây ra những ảnh hưởng về chính trị và truyền thông trong dư luận nhân dân. Ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch có thể dẫn đến những phản ứng tiêu cực của người dân, như “tháo chạy” khỏi vùng dịch, mua gom, đầu cơ, tích tữ hàng hóa… Đây cũng là một yếu tố cần cân nhắc trong xây dựng pháp luật về vấn đề này. Bên cạnh công tác đưa tin của các cơ quan thông tin đại chúng, rất cần có cơ chế và quy định pháp luật để huy động sự vào cuộc toàn diện của hệ thống chính trị ở tất cả các cấp, nhằm phổ biến, giáo dục, tuyên truyền, vận động nhân dân nghiêm túc chấp hành chính sách tình trạng khẩn cấp của Nhà nước, lạc quan, tin tưởng, không hoảng loạn trong dịch bệnh.

Lương Lê Minh

Trường Đại học Luật Hà Nội


[1] Smith, William; Wayte, William; Marindin, G.E, A Dictionary of Greek and Roman Antiquities, Tập 1, London: John Murray, 1890, tr. 1052.

[2] Khoản 10 Điều 74 Hiến pháp năm 2013.

[3] Khoản 5 Điều 88 Hiến pháp năm 2013.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: