Thứ năm 27/08/2026 06:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về phiên tòa giám đốc thẩm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

Thủ tục phiên toà giám đốc thẩm được quy định chủ yếu tại Điều 280 (Những người tham gia phiên toà giám đốc thẩm) và Điều 282 (Chuẩn bị phiên toà và thủ tục phiên toà giám đốc thẩm) Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong những năm qua, nhất là từ khi Bộ luật Tố tụng hình sự được sửa đổi, bổ sung vào năm 2003, các thủ tục về giám đốc thẩm đã phù hợp hơn với thực tiễn hoạt động tư pháp ở Việt Nam, hiệu quả áp dụng đã được ghi nhận thông qua các báo cáo tổng kết công tác hàng năm của Ngành Toà án. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động giám đốc thẩm của các cơ quan tiến hành tố tụng thời gian qua cho thấy, các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành về thủ tục giám đốc thẩm nói chung, quy định về thủ tục phiên toà giám đốc thẩm nói riêng vẫn còn những vướng mắc, bất cập cần được nghiên cứu, hoàn thiện. Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương cải cách tư pháp nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự, trong đó có thủ tục giám đốc thẩm. Cụ thể, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định hướng hoàn thiện pháp luật tố tụng về giám đốc thẩm, tái thẩm như sau: “Từng bước hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng quy định chặt chẽ những căn cứ kháng nghị và quy định rõ trách nhiệm của người ra kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật; khắc phục tình trạng kháng nghị tràn lan, thiếu căn cứ”. Vì vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện thủ tục phiên toà giám đốc thẩm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp là rất cần thiết.

1. Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về phiên toà giám đốc thẩm

Thủ tục phiên toà giám đốc thẩm được quy định chủ yếu tại Điều 280 (Những người tham gia phiên toà giám đốc thẩm) và Điều 282 (Chuẩn bị phiên toà và thủ tục phiên toà giám đốc thẩm) Bộ luật Tố tụng hình sự.

Theo quy định tại Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự, phiên tòa giám đốc thẩm phải có sự tham gia của Viện kiểm sát cùng cấp. Khi xét thấy cần thiết, Tòa án phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa và có thể triệu tập những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm. Như vậy, thủ tục phiên toà giám đốc thẩm có điểm giống với phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm là đều phải có sự tham gia bắt buộc của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp. Sự khác nhau cơ bản so với phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm được thể hiện ở quy định về sự có mặt của những người khác tại phiên toà giám đốc thẩm. Tại phiên toà sơ thẩm, Toà án phải triệu tập đầy đủ những người tham gia tố tụng (bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự...) và những người khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Tại phiên toà phúc thẩm, Toà án phải triệu tập người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị; đối với những người khác thì chỉ triệu tập khi xét thấy sự có mặt của họ là cần thiết. Còn tại phiên toà giám đốc thẩm, ngoài đại diện Viện kiểm sát, Toà án không bắt buộc phải triệu tập ai mà chỉ triệu tập người bị kết án, người bào chữa và có thể triệu tập những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên toà khi xét thấy cần thiết. Trường hợp người được triệu tập vắng mặt thì Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm vẫn có thể tiến hành xét xử.

Từ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về những người tham gia phiên toà giám đốc thẩm và thực tiễn áp dụng cho thấy một số hạn chế, bất cập nổi lên hiện nay là:

Thứ nhất: Mặc dù ít khi được triệu tập, nhưng khi triệu tập người bị kết án đến phiên toà giám đốc thẩm thì việc xác định tư cách tham gia phiên toà của họ không thống nhất. Các quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thường xác định là bị cáo. Phần lớn các quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, của Toà hình sự và Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không xác định họ là gì, mà chỉ ghi trong quyết định giám đốc thẩm là “... Mở phiên toà để tiến hành giám đốc thẩm đối với... (ghi họ, tên người bị kháng nghị)”. Do không xác định được chính xác tư cách của người tham gia tố tụng tại phiên toà giám đốc thẩm, nên Hội đồng không thể giải thích được cho họ biết quyền và nghĩa vụ tại phiên toà. Mặt khác, trong Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành cũng không có điều luật nào quy định về quyền và nghĩa vụ của những người được triệu tập tham gia phiên toà giám đốc thẩm.

Thứ hai: Việc xác định khi nào là cần thiết, khi nào không rất khó khăn. Vì vậy, thời gian qua, hầu như Hội đồng giám đốc thẩm của Toà án các cấp không triệu tập người tham gia tố tụng vì cho rằng không cần thiết. Điều này rõ ràng ảnh hưởng đến việc xem xét toàn diện, khách quan vụ án, không đảm bảo thực hiện tốt nguyên tắc tranh tụng ở giai đoạn giám đốc thẩm.

Về thủ tục phiên toà giám đốc thẩm cũng khác so với phiên toà xét xử sơ thẩm và phúc thẩm. Phiên toà giám đốc thẩm không mang tính chất là phiên toà xét xử, không áp dụng các nguyên tắc như: Xét xử công khai, xét xử trực tiếp, bằng lời nói..., không tiến hành thủ tục xét hỏi và tranh luận mà được tiến hành với hình thức như một phiên họp, trên cơ sở xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các tài liệu liên quan đến kháng nghị. Khoản 1 Điều 282 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định rõ Chánh án Toà án phải phân công một Thẩm phán nghiên cứu hồ sơ vụ án, làm bản thuyết trình về vụ án để trình bày trước Hội đồng giám đốc thẩm. Quy định này đã khắc phục được tình trạng giao cho Thẩm tra viên nghiên cứu như trước đây. Tuy nhiên, điều luật lại không quy định cụ thể Thẩm phán đó có phải là thành viên Hội đồng giám đốc thẩm hay không, nên thực tế có Chánh án Toà án giao việc nghiên cứu hồ sơ cho Thẩm phán không phải là thành viên Hội đồng giám đốc thẩm. Tại phiên toà, Thẩm phán này trình bày bản thuyết trình về vụ án mà không phải là thành viên Hội đồng.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 282 Bộ luật Tố tụng hình sự thì sau khi một thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm trình bày bản thuyết trình về vụ án, các thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm phát biểu ý kiến và đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Nếu đã triệu tập người bị kết án, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị thì những người này được trình bày ý kiến trước khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu. Việc xác định trình tự phát biểu như vậy chưa thật rõ ràng, dẫn đến thực tế là có nơi các thành viên của Hội đồng phát biểu quan điểm trước khi những người được triệu tập đến phiên toà và đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm. Việc này là bất hợp lý, không phù hợp với yêu cầu tranh tụng trong tố tụng hình sự. Bởi lẽ, các thành viên của Hội đồng cần được nghe ý kiến của những người được triệu tập, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát trước, trên cơ sở đó mới phát biểu quan điểm của mình.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 281 Bộ luật Tố tụng hình sự thì phiên toà giám đốc thẩm chỉ được hoãn trong trường hợp khi biểu quyết về nội dung kháng nghị, nếu không có loại ý kiến nào được quá nửa tổng số thành viên của Uỷ ban thẩm phán, Hội đồng thẩm phán biểu quyết tán thành. Thực tiễn giám đốc thẩm cho thấy, có nhiều trường hợp cần thiết phải hoãn phiên toà như: Cần thời gian để nghiên cứu thêm hoặc cần triệu tập người bị kết án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng nghị đến phiên toà để họ trình bày ý kiến về vụ án. Do luật không quy định nên Hội đồng giám đốc thẩm ít có giải pháp lựa chọn, chủ yếu phải “miễn cưỡng” biểu quyết.

Nguyên nhân của những tồn tại, bất cập trên là do pháp luật tố tụng hình sự hiện hành không quy định cụ thể trường hợp nào là cần thiết phải triệu tập người bị kết án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng nghị? Khi Toà án triệu tập họ tới phiên toà giám đốc thẩm thì những người này được xác định tư cách như thế nào? Thủ tục triệu tập cũng như quyền và nghĩa vụ của họ ra sao? Đối với người bào chữa tham gia theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hay theo yêu cầu của người bị kết án hay theo quyết định của của Trung tâm trợ giúp pháp lý? Họ có quyền được đưa ra tài liệu, đồ vật mới hay không? Việc tham gia tranh luận của họ được thực hiện thế nào?... Đến nay, Tòa án nhân dân tối cao cũng chưa có hướng dẫn về các vấn đề này. Vì vậy, có thể nói rằng trên thực tế nhiều năm qua, quy định trên chưa được thực hiện(1).

2. Hướng hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về phiên toà giám đốc thẩm

Hiện nay có nhiều quan điểm về sự cần thiết phải có mặt người bị kết án, người bào chữa và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng nghị tại phiên toà giám đốc thẩm.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm vừa giống một phiên toà xét xử thông thường, vừa giống một phiên toà rút gọn, là nơi diễn ra tranh luận và quyết định hướng giải quyết vụ án. Đã là phiên toà thì ngoài những người tiến hành tố tụng, cần thiết phải có mặt của những người tham gia tố tụng. Do đó, việc Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 chỉ quy định Toà án triệu tập người bị kết án, người bào chữa và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng nghị tham gia phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm trong trường hợp Toà án “xét thấy cần thiết” là không đảm bảo cho bên buộc tội và bên bị buộc tội có cơ hội và khả năng bình đẳng như nhau trong việc tranh luận tại phiên toà. Quan điểm này kiến nghị bỏ cụm từ “khi xét thấy cần thiết” của đoạn 2 Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự; có nghĩa là mọi phiên toà giám đốc thẩm phải có mặt người bị kết án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng nghị và người bào chữa (nếu có)(2).

Cùng quan điểm trên, có luật sư cho rằng quy định chỉ trong trường hợp xét thấy cần thiết, Toà án mới triệu tập những người tham gia tố tụng, trong đó có người bào chữa, người bảo về quyền lợi cho đương sự tham gia phiên toà giám đốc thẩm là quy định rõ ràng mang tính hạn chế quyền tham gia của luật sư trong việc xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm(3).

Quan điểm thứ hai cho rằng, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, giám đốc thẩm, tái thẩm không phải là một cấp xét xử, không sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật như quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988. Tại phiên toà, Hội đồng giám đốc thẩm chỉ căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ mà căn cứ vào đó, Toà án cấp dưới đã xét xử vụ án; không xem xét chứng cứ, tài liệu mới. Vì vậy, Hội đồng không cần thiết phải nghe người bị kết án hay người khác trình bày về các tình tiết của vụ án. Mặt khác, tại phiên toà, Hội đồng giám đốc thẩm chỉ có nhiệm vụ xét nội dung kháng nghị, nếu có căn cứ thì Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra hay xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án; nếu thấy kháng nghị không có căn cứ thì giữ nguyên bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm không trực tiếp ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kết án cũng như những người liên quan đến kháng nghị, nên sự có mặt của họ tại phiên toà giám đốc thẩm không bắt buộc. Mặt khác, lúc này án đã có hiệu lực pháp luật, đã hoặc đang thi hành, thậm chí đã thi hành xong, những người này không còn là người tham gia tố tụng và việc tham gia phiên toà không còn là quyền hoặc nghĩa vụ tố tụng của họ. Thực tiễn hoạt động giám đốc thẩm, tái thẩm trong nhiều năm qua cho thấy tại hầu hết các phiên toà giám đốc thẩm, các Toà án không triệu tập người bị kết án, người bào chữa hoặc người có liên quan đến kháng nghị vì các Hội đồng giám đốc thẩm đều thấy không cần thiết. Mặt khác, việc triệu tập họ đến phiên toà thì Hội đồng giám đốc thẩm lại gặp nhiều vướng mắc trong việc xác định tư cách tham gia tố tụng cũng như giải thích quyền và nghĩa vụ của họ. Theo quan điểm này, cần sửa Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng không quy định việc phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên toà giám đốc thẩm(4).

Chúng tôi cho rằng quy định tại Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành là phù hợp với thực tiễn hoạt động giám đốc thẩm ở Việt Nam, tức là chỉ triệu tập người bị kết án, người bào chữa và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng nghị tham gia phiên toà giám đốc thẩm khi xét thấy cần thiết. Bởi lẽ, nếu bỏ quy định này như quan điểm thứ hai sẽ không thể thực hiện được việc tranh tụng, không đảm bảo tính công khai, dân chủ tại phiên toà theo tinh thần cải cách tư pháp, không tạo cơ hội để người bị kết án, những người có liên quan đến kháng nghị bảo vệ quyền lợi của mình và không tạo điều kiện để Hội đồng giám đốc thẩm nghe được ý kiến tranh luận của nhiều bên trước khi ra quyết định. Nghiên cứu luật tố tụng hình sự của một số nước như Liên bang Nga, Nhật Bản, thủ tục phiên toà giám đốc thẩm của họ được tiến hành bằng cách mở phiên toà công khai với sự có mặt của đại diện Viện kiểm sát (Viện công tố), người bị kết án, người được tuyên vô tội, người bào chữa, người có quyền lợi liên quan đến kháng cáo, kháng nghị. (xem Điều 407 Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga; Điều 456 Bộ luật Tố tụng hình sự Nhật Bản). Tại các Điều 601, 603 Bộ luật Tố tụng hình sự Cộng hoà Pháp quy định thủ tục phiên Toà Phá án phải được tiến hành công khai… Bản án của Toà Phá án phải ghi rõ tên của Thẩm phán chủ toạ, các Thẩm phán tham gia xét xử, đại diện Viện công tố, luật sư của các bên và họ tên, nghề nghiệp, nơi cư trú của các bên và lập luận của họ. Điều 694 Bộ luật Tố tụng hình sự Canada quy định: “Người kháng cáo bản án đã có hiệu lực pháp luật của Toà án đang bị giam giữ mà muốn được có mặt tại phiên toà của Toà án tối cao Canada thì có quyền được tham dự phiên toà.

Tuy nhiên, nếu sửa đổi Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng Tòa án cấp giám đốc thẩm phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm trong mọi trường hợp như quan điểm thứ nhất cũng không phù hợp với thực tiễn hoạt động giám đốc thẩm, tái thẩm thời gian qua. Bởi lẽ, với những vụ án phát hiện có vi phạm pháp luật rõ ràng là nghiêm trọng thì không cần thiết phải nghe ý kiến của các bên, Hội đồng giám đốc thẩm vẫn có thể ra được quyết định đúng đắn, vì thế không cần thiết phải triệu tập các thành phần khác ngoài đại diện Viện kiểm sát. Có như vậy mới đảm bảo giải quyết nhanh chóng vụ án, tiết kiệm được công sức, tiền của cho Nhà nước và công dân. Ví dụ: Phiên toà xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện Toà án đã xét xử vụ án đó không đảm bảo quyền bào chữa cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự; hoặc Hội đồng xét xử không đúng thành phần theo quy định tại Điều 185 Bộ luật Tố tụng hình sự... thì không cần thiết phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa hay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng nghị.

Từ phân tích trên, để khắc phục những vướng mắc, bất cập đã nêu, đồng thời đáp ứng yêu cầu cả cách tư pháp, chúng tôi đề nghị:

+ Giữ nguyên nội dung đoạn 1 và đoạn 2 Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành về việc triệu tập những người tham gia phiên toà giám đốc thẩm; bổ sung một đoạn vào Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định Hội đồng giám đốc thẩm phải hoãn phiên toà nếu đại diện Viện kiểm sát vắng mặt; nếu người được triệu tập khác vắng mặt thì tuỳ từng trường hợp, Hội đồng giám đốc thẩm có thể hoãn phiên toà hoặc vẫn tiến hành giám đốc thẩm.

+ Để đảm bảo việc tranh tụng tại phiên toà giám đốc thẩm đạt hiệu quả, cần sửa đổi, bổ sung vào Điều 282 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng:

+ Bổ sung một khoản quy định về quyền và nghĩa vụ của những người được triệu tập tham gia phiên toà giám đốc thẩm.

+ Quy định rõ Thẩm phán nghiên cứu hồ sơ, làm bản thuyết minh về vụ án phải là thành viên Hội đồng giám đốc thẩm.

+ Sửa đổi thứ tự phát biểu ý kiến quy định tại khoản 2 của điều luật này theo hướng nếu có người được triệu tập (người bị kết án, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị) thì họ được trình bày ý kiến sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu. Có như vậy, mới tạo điều kiện cho họ nắm bắt được quan điểm của Viện kiểm sát và chuẩn bị ý kiến đối đáp với đại điện Viện kiểm sát để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm phát biểu ý kiến sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và người được triệu tập.

ThS. Nguyễn Văn Trượng

Tòa án Quân sự trung ương

Tài liệu tham khảo

(1). Đinh Văn Quế (1997), Giám đốc thẩm, tái thẩm về hình sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 206.

(2). Nguyễn Ngọc Khánh (2007), “Cần một cách nhìn mới về thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 20, tr. 25.

(3). Phan Trung Hoài, “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc thực thi các quy định của pháp luật nhằm bảo đảm quyền của luật sư trong quá trình tham gia tố tụng hình sự, dân sự”, Tạp chí Kiểm sát số 4/2007, tr. 11.

(4). Phan Thị Thanh Mai (2006), Giám đốc thẩm trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, tr. 87, tr. 165.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.

Theo dõi chúng tôi trên: