Thứ ba 05/05/2026 20:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về hội đồng quản trị trong công ty cổ phần

Trên thế giới hiện nay, có hai mô hình quản trị cơ bản là mô hình một tầng (mô hình nhất nguyên hoặc mô hình Anglo - Saxon) và mô hình hai tầng (mô hình quản trị nhị nguyên hoặc mô hình German)[1]. Ở cả hai mô hình này, Hội đồng quản trị (HĐQT) là cơ quan quản lý có thẩm quyền cao nhất trong tổ chức, hoạt động và đại diện công ty trong các mối quan hệ bên ngoài. Do vậy, việc xây dựng khung pháp lý phù hợp sẽ tạo cơ chế để HĐQT hoạt động độc lập, hiệu quả trong sự tương tác, kết hợp với các thiết chế khác. Qua đó, góp phần hỗ trợ hoạt động quản trị công ty đạt mục đích đề ra, bảo vệ quyền lợi của những chủ thể có liên quan nói riêng, góp phần phát triển nền kinh tế nói chung.

1. Thực trạng pháp luật về Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần

Pháp luật Việt Nam hiện hành thừa nhận HĐQT có thể được xây dựng và tổ chức theo mô hình một tầng (HĐQT tồn tại cùng với Ban Kiểm soát) hoặc mô hình hai tầng (không có Ban Kiểm soát, trong HĐQT có thành viên độc lập và Ủy ban kiểm toán)[2]. Quy định này đã trao cho chủ doanh nghiệp quyền chủ động và tự quyết về mô hình áp dụng, đáp ứng được yêu cầu quản trị công ty thực tế của các nhà đầu tư.

1.1. Thành viên Hội đồng quản trị

Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định số lượng thành viên HĐQT từ 03 - 11 người, cụ thể do Điều lệ quy định[3], nhưng không làm rõ cơ cấu HĐQT gồm những nhóm thành viên nào. Việc phân loại dựa trên những điều khoản khác nhau khi đề cập tới tư cách thành viên HĐQT. Chẳng hạn, Điều 155 quy định tiêu chuẩn thành viên HĐQT, tiêu chuẩn thành viên độc lập HĐQT; Điều 161 đề cập tới thành viên HĐQT không điều hành là đối tượng trở thành thành viên Ủy ban kiểm toán…

a. Thành viên HĐQT

Nhiệm kỳ của thành viên HĐQT không quá 05 năm và có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế[4]. Cá nhân đóng vai trò thành viên HĐQT phải đáp ứng được các tiêu chuẩn và điều kiện tương đối chặt chẽ, cụ thể[5]: (i) Không thuộc nhóm tổ chức, cá nhân không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam; (ii) Có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh hoặc trong lĩnh vực, ngành, nghề kinh doanh của công ty và không nhất thiết là cổ đông của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác; (iii) Đối với doanh nghiệp nhà nước và công ty con của doanh nghiệp nhà nước thì thành viên Hội đồng quản trị không được là người có quan hệ gia đình của Giám đốc, Tổng giám đốc và người quản lý khác của công ty; của người quản lý, người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ; (iv) Thành viên HĐQT công ty có thể đồng thời là thành viên HĐQT của công ty khác.

Đối với điều kiện (iv), pháp luật chứng khoán quy định chi tiết hơn. Theo đó, một thành viên trong HĐQT của một công ty đại chúng chỉ được phép đồng thời làm thành viên trong HĐQT của tối đa năm (05) công ty khác[6]. Tuy nhiên, có thể thấy, điều kiện (iv) mang tính chất như một nội dung cho phép đối với vị trí thành viên HĐQT, không mang ý nghĩa như một tiêu chuẩn để trở thành thành viên HĐQT. Do vậy, về mặt kỹ thuật lập pháp, việc quy định điều kiện (iv) trong điều khoản về “tiêu chuẩn, điều kiện thành viên HĐQT”[7] chưa thực sự hợp lý.

b. Thành viên HĐQT không điều hành

Thành viên HĐQT không điều hành là thành viên HĐQT đảm nhận vị trí thành viên của Ủy ban kiểm toán, bên cạnh vị trí Chủ tịch Ủy ban kiểm toán được đảm nhận bởi thành viên độc lập HĐQT[8]. Như vậy, thành viên HĐQT không điều hành xuất hiện trong HĐQT ở mô hình hai tầng.

Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp năm 2020 không đưa ra định nghĩa và điều kiện, không có điều chỉnh cụ thể thêm đối với thành viên HĐQT không điều hành. Do đó, điều kiện để trở thành thành viên HĐQT nói chung là điều kiện áp dụng cho cả thành viên HĐQT không điều hành.

Đối với công ty đại chúng, khoản 56 Điều 3 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán (Nghị định số 155/2020/NĐ-CP) quy định: “Thành viên Hội đồng quản trị không điều hành (sau đây gọi là thành viên không điều hành) là thành viên Hội đồng quản trị không phải là Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc), Kế toán trưởng và những người điều hành khác theo quy định của Điều lệ công ty”.

Người điều hành được quy định tại khoản 55 Điều 3 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP: Người điều hành doanh nghiệp là Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc), kế toán trưởng và người điều hành khác theo quy định của Điều lệ công ty.

Từ các quy định này cho thấy, thành viên HĐQT không điều hành là thành viên không nắm giữ chức vụ trong chức năng điều hành doanh nghiệp (Tổng giám đốc, Giám đốc và các cấp điều hành bên dưới theo quy định tại Điều lệ công ty) và ngược lại. Tuy nhiên, cách hiểu này chỉ áp dụng đối với công ty đại chúng, chưa có cơ sở pháp lý để xác định thế nào là thành viên HĐQT điều hành/không điều hành đối với công ty cổ phần thông thường.

Về tỷ lệ thành viên trong cơ cấu HĐQT, đối với công ty đại chúng phải có ít nhất một phần ba (1/3) thành viên HĐQT là thành viên không điều hành[9]. Tuy nhiên, tỷ lệ này không bị khống chế trong công ty cổ phần thông thường. Trong trường hợp số lượng thành viên không điều hành trong HĐQT quá ít (tối thiểu sẽ là 01 thành viên)[10], chức năng giám sát những người điều hành của HĐQT có thể không được bảo đảm hiệu quả. Việc để ngỏ vấn đề này trong quy định của pháp luật doanh nghiệp hiện hành cho thấy, chức năng quản trị của HĐQT trong công ty cổ phần ở Việt Nam chưa thực sự được chú trọng so với chức năng quản lý, điều hành.

c. Thành viên độc lập HĐQT

Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Luật Chứng khoán năm 2019 đều không đưa ra định nghĩa về thành viên độc lập HĐQT. Pháp luật doanh nghiệp chỉ quy định trong mô hình quản trị công ty cổ phần hai tầng phải có thành viên độc lập HĐQT và tiêu chuẩn, điều kiện của thành viên độc lập HĐQT[11]. Theo đó, thành viên độc lập HĐQT là người: (i) Không thuộc Đại hội đồng cổ đông, HĐQT, Ban kiểm soát, người quản lý công ty; (ii) Không có mối quan hệ nhân thân với các vị trí quản lý, cổ đông lớn và người có quyền kiểm soát (trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu ít nhất 01% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của công ty…).

Có thể thấy, sự “không liên quan” với các cổ đông lớn, vị trí quản lý, người có quyền kiểm soát và những người có mối quan hệ nhân thân tạo ra tính “độc lập” cho thành viên độc lập HĐQT. Tính “độc lập” này cần thiết để bảo đảm ngăn chặn xung đột lợi ích, ảnh hưởng đến sự khách quan, minh bạch trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của thành viên độc lập HĐQT. Qua đó, hướng tới bảo đảm lợi ích tổng thể của công ty.

Tuy vậy, ở một mức độ nhất định, các tiêu chuẩn nêu trên chưa thực sự rõ ràng, thuận tiện để áp dụng. Ví dụ, chưa có tiêu chí để xác định thế nào là “cổ đông lớn”. Nội hàm thuật ngữ này chỉ được làm rõ trong Luật Chứng khoán năm 2019, áp dụng cho công ty đại chúng, theo đó, cổ đông lớn là cổ đông sở hữu từ 5% cổ phần có quyền biểu quyết tại công ty[12]. Tương tự, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng chưa đưa ra định nghĩa thế nào là “sở hữu gián tiếp”. Điều này gây ra khó khăn trên thực tế áp dụng cho các chủ thể.

Về vai trò của thành viên độc lập HĐQT, Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định thành viên độc lập HĐQT thực hiện vai trò của mình thông qua vị trí Chủ tịch Ủy ban kiểm toán. Khảo sát ở các công ty cổ phần niêm yết, vai trò của thành viên độc lập HĐQT chú trọng nhiều đến công tác giám sát và cố vấn[13]. Thực tiễn này tương thích với quy định về vị trí Chủ tịch Ủy ban kiểm toán mà thành viên độc lập HĐQT đảm nhận, cũng hợp lý trong sự phân định chức năng, quyền hạn để tránh được xung đột về vai trò giữa các loại thành viên trong HĐQT và Ban điều hành.

Về số lượng thành viên trong cơ cấu của HĐQT, ở công ty cổ phần thông thường, tỷ lệ thành viên độc lập HĐQT phải bảo đảm 20% tổng số thành viên HĐQT (1/5)[14]. Đối với công ty đại chúng chưa niêm yết tổ chức theo mô hình quản trị hai tầng, tỷ lệ phải bảo đảm ít nhất là 20% (1/5)[15]. Đối với công ty niêm yết, số lượng thành viên độc lập HĐQT có thể từ 01 - 03 tùy thuộc số lượng thành viên HĐQT (trong khoảng từ 03 - 11 người)[16]. Tuy nhiên, trên thực tế, việc tuân thủ chủ yếu để đáp ứng yêu cầu luật định. Hiện tại, có nhiều công ty không có thành viên độc lập HĐQT trong HĐQT hoặc có nhưng với số lượng thấp hơn quy định. Chẳng hạn, Công ty cổ phần Tập đoàn Hòa Phát (HPG) và Tổng công ty Điện lực dầu khí Việt Nam (POW)[17].

Về nhiệm kỳ của thành viên độc lập HĐQT, một cá nhân chỉ được bầu giữ vị trí này của một công ty không quá hai nhiệm kỳ liên tục[18]. Mỗi nhiệm kỳ được quy định không vượt quá 05 năm. Do đó, nhiệm kỳ của thành viên độc lập HĐQT sẽ không quá 10 năm. Quy định này có tính hợp lý bởi vì sẽ giúp bảo đảm tính độc lập, khách quan của thành viên độc lập HĐQT. Bởi lẽ, sau một thời gian tham gia sâu vào quản trị, thành viên độc lập HĐQT có thể phát sinh quyền lợi, trách nhiệm liên quan đến các thành viên HĐQT, cổ đông khác.

Về cơ chế bầu thành viên độc lập HĐQT, khoản 3 Điều 148 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định cơ chế bầu dồn phiếu nếu Điều lệ công ty không có quy định khác. Thực tế chứng minh rằng, tính hiệu quả của thành viên độc lập HĐQT phụ thuộc nhiều vào việc lựa chọn, chất lượng và hiệu quả làm việc của họ. Tuy nhiên, với cơ chế bầu dồn phiếu, các cổ đông có quyền chi phối, kiểm soát có thể tác động việc đề cử, bổ nhiệm, bỏ qua ý kiến của cổ đông thiểu số. Điều này dẫn tới tính độc lập của thành viên độc lập HĐQT khó được bảo đảm.

1.2. Thư ký

Tương đồng với thông lệ quốc tế, pháp luật Việt Nam quy định chức danh thư ký không bắt buộc phải có. Khi thấy cần thiết, HĐQT bổ nhiệm thư ký để hỗ trợ HĐQT và thành viên HĐQT thực hiện chức năng, nhiệm vụ[19]. Ngoài ra, pháp luật doanh nghiệp hiện hành không quy định điều kiện, tiêu chuẩn để trở thành thư ký.

Về mặt kỹ thuật trình bày, quy định về thư ký được thiết kế trong điều khoản quy định về Chủ tịch HĐQT là chưa hợp lý. Bởi lẽ, Chủ tịch HĐQT không có vai trò trong việc bổ nhiệm thư ký và chức danh này không có vai trò hỗ trợ riêng cho Chủ tịch HĐQT.

1.3. Ủy ban kiểm toán

Ủy ban kiểm toán là cơ quan bắt buộc phải có trong mô hình quản trị hai tầng. Khoản 1 Điều 161 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: Ủy ban kiểm toán là cơ quan chuyên môn thuộc HĐQT. Ủy ban kiểm toán có số lượng từ hai thành viên trở lên. Chủ tịch Ủy ban kiểm toán phải là thành viên độc lập HĐQT. Các thành viên khác của Ủy ban kiểm toán phải là thành viên HĐQT không điều hành.

Tên gọi “Ủy ban kiểm toán” là điểm mới trong Luật Doanh nghiệp năm 2020, thay thế tên gọi “Ban kiểm toán nội bộ” quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014. Sự thay đổi này đã giải quyết được tình trạng nhầm lẫn dẫn đến khó khăn trong thực tiễn tổ chức và quản lý công ty cổ phần trên thực tế. Đó là, tên gọi “Ban kiểm toán nội bộ” trực thuộc HĐQT có thể gây nhầm lẫn với một cơ quan trùng tên nhưng lại trực thuộc Giám đốc/Ban Giám đốc, với chức năng, nhiệm vụ khác nhau.

Ngoài số lượng thành viên và đối tượng để trở thành thành viên Ủy ban kiểm toán, Chủ tịch Ủy ban kiểm toán, pháp luật doanh nghiệp hiện hành chưa có thêm quy định nào về cơ chế, cách thức thiết lập Ủy ban kiểm toán và những tiêu chuẩn, điều kiện cụ thể đối với chức danh Chủ tịch Ủy ban kiểm toán, cũng như chức danh thành viên Ủy ban kiểm toán. Riêng đối với công ty đại chúng, những vấn đề này được quy định chi tiết hơn trong pháp luật chứng khoán[20]. Điều này vô hình chung tạo ra khó khăn cho các nhà đầu tư khi lựa chọn áp dụng và trong quá trình áp dụng mô hình hai tầng - vốn là một xu hướng quản trị công ty hiện đại trên thế giới, nhưng được coi là khá mới ở Việt Nam.

2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần

Một là, điều chỉnh về mặt kỹ thuật đối với quy định về điều kiện trở thành thành viên HĐQT (tại khoản 1 Điều 155 Luật Doanh nghiệp năm 2020) và quy định về thư ký công ty (tại khoản 5 Điều 156 Luật Doanh nghiệp năm 2020). Theo đó, nên điều chỉnh như sau:

(i) Nội dung “thành viên HĐQT công ty có thể đồng thời là thành viên HĐQT của công ty khác” cần tách ra thành khoản riêng, không thuộc khoản 1 Điều 155 (quy định về “tiêu chuẩn và điều kiện để trở thành thành viên HĐQT”). Bởi lẽ, nội dung này mang tính cho phép, chứ không phải là điều kiện để trở thành thành viên HĐQT.

(ii) Nội dung về “thư ký công ty” trong khoản 5 Điều 156 (quy định về “Chủ tịch HĐQT”) nên được quy định tách biệt. Bởi lẽ, thư ký công ty không phải là chức danh thư ký riêng cho Chủ tịch HĐQT, mà được bổ nhiệm để hỗ trợ HĐQT thực hiện chức năng, nhiệm vụ như: Hỗ trợ tổ chức triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông, HĐQT; ghi chép các biên bản họp; hỗ trợ thành viên HĐQT trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao; hỗ trợ HĐQT trong áp dụng và thực hiện nguyên tắc quản trị công ty; hỗ trợ công ty trong xây dựng quan hệ cổ đông và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cổ đông...

Hai là, bổ sung quy định để định nghĩa các thuật ngữ “cổ đông lớn” và “sở hữu gián tiếp” trong khoản 2 Điều 155 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Có thể tham khảo các định nghĩa về “cổ đông lớn” và “sở hữu gián tiếp” lần lượt được quy định tại Luật Chứng khoán năm 2019 và Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như sau:

(i) “Cổ đông lớn” là cổ đông sở hữu từ 5% cổ phần có quyền biểu quyết của công ty.

(ii) “Sở hữu gián tiếp” là việc sở hữu vốn điều lệ, vốn cổ phần của tổ chức tín dụng thông qua người có liên quan hoặc thông qua ủy thác đầu tư[21].

Ba là, bổ sung quy định ghi nhận rõ thẩm quyền và quyền hạn của thành viên độc lập HĐQT. Bởi lẽ, hiện nay, thẩm quyền và quyền hạn của thành viên độc lập HĐQT chủ yếu phụ thuộc vào Điều lệ công ty mà không được pháp luật quy định cụ thể. Ở một mức độ nhất định, các cổ đông kiểm soát (những người cùng nắm giữ một số lượng lớn cổ phần có quyền biểu quyết), thông qua Điều lệ công ty, có thể gây ảnh hưởng đến thẩm quyền và quyền hạn của thành viên độc lập HĐQT. Bởi vì, nội dung Điều lệ công ty phụ thuộc vào quyết định của Đại hội đồng cổ đông của công ty. Quyết định của Đại hội đồng cổ đông được thông qua nếu có ít nhất 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết được thông qua.

Bốn là, có sự điều chỉnh về cơ chế bầu thành viên độc lập HĐQT để tránh tình trạng các cổ đông kiểm soát có thể tác động đến việc đề cử và bổ nhiệm thành viên độc lập HĐQT. Học tập kinh nghiệm một số quốc gia, việc bỏ phiếu hai lớp để bầu thành viên độc lập HĐQT nên được áp dụng. Ví dụ, ở Israel, các thành viên HĐQT bên ngoài phải được bầu thông qua hai lần bỏ phiếu: Một lần bỏ phiếu của tất cả các cổ đông và một lần bỏ phiếu của các cổ đông thiểu số.

Năm là, pháp luật doanh nghiệp cần bổ sung quy định dẫn chiếu sang pháp luật chứng khoán về chức danh thành viên HĐQT không điều hành. Sự bổ sung này nhằm bảo đảm tính logic của pháp luật, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp khi tiến hành xây dựng mô hình quản trị công ty cổ phần của mình, tránh trường hợp doanh nghiệp gặp khó khăn khi tìm kiếm cơ sở pháp lý quy định về chức danh thành viên HĐQT không điều hành. Theo đó, có thể sửa đổi, bổ sung theo hướng, tiêu chuẩn, điều kiện của thành viên HĐQT không điều hành được thực hiện theo quy định của pháp luật chứng khoán.

ThS. Nguyễn Thị Quỳnh Anh

Trường Đại học Quốc tế Sài Gòn


[1] Nguyễn Hữu Trinh, Quản trị công ty cổ phần của các quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Công thương, Số 01, tháng 01/2022.

[2] Điều 137 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[3] Khoản 1 Điều 154 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[4] Khoản 2 Điều 154 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[5] Khoản 1 Điều 155 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[6] Khoản 3 Điều 275 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán.

[7] Điểm c khoản 1 Điều 155 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[8] Điều 161 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[9] Khoản 2 Điều 276 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán.

[10] Rút ra từ quy định tại Khoản 1 Điều 161 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[11] Khoản 1 Điều 137, Khoản 2 Điều 155 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[12] Khoản 18 Điều 4 Luật Chứng khoán năm 2019.

[13] Perceptions of independent directors about their roles and challenges on corporate boards: Evidence from a survey in Vietnam, Mai Nguyen, Elaine Evans, and Meiting Lu (2019).

[14] Khoản 1 Điều 137 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[15] Khoản 3 Điều 276 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán.

[16] Khoản 4 Điều 276 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán.

[17] Hội Thành viên Độc lập Hội đồng Quản trị Doanh nghiệp Việt Nam (VNIDA) phối hợp với đối tác chiến lược của Hội là FiinGroup Việt Nam (2023), Báo cáo khảo sát thành viên độc lập HĐQT tại các công ty đại chúng ở Việt Nam, tr. 50.

[18] Khoản 2 Điều 154 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[19] Khoản 5 Điều 156 Luật Doanh nghiệp 2020

[20] Mục 4, từ Điều 282 đến Điều 284 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán.

[21] “Người có liên quan” được định nghĩa theo quy định tại khoản 23 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 (tương tự như định nghĩa quy định tại khoản 28 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: